Trang

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2015

631. NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY MÀ ĐAU ĐỚN LÒNG...



Bị đàn áp, người Việt tiếp tục đi tị nạn

Xin đừng bỏ rơi đồng bào trong nguy khốn

Ts. Nguyễn Đình Thắng
Ngày 23 tháng 8, 2015
Khoảng một nghìn người Việt phải rời bỏ quê hương và đang lánh nạn ở Thái Lan do bị đàn áp.
Phần lớn họ đã tranh đấu đòi tự do, nhân quyền, dân chủ hay chống Trung Quốc.
Cuộc sống của họ đầy bất trắc, khó khăn, và hiểm nguy.
BPSOS là tổ chức duy nhất bảo vệ người tị nạn Việt ở Thái Lan và Malaysia.

Khi đang viết những giòng chữ này, tôi nhận được tin vui từ anh T.S.: Anh vừa được LHQ công nhận tư cách tị nạn và vội vàng báo cho tôi biết. Anh là Phật tử gốc Khmer ở Miền Tây, phải bỏ chạy khi chính quyền bắt bớ hàng loạt các nhà sư và cả những Phật tử đứng lên bảo vệ họ trước sự truy bức của chính quyền -- lý do duy nhất là các nhà sư này đã làm kiến nghị để xin chính quyền cho mở lớp dậy trẻ em ngôn ngữ và văn hoá Khmer.
Hồ sơ của anh T.S. dai dẳng nhiều năm. Anh cùng với một số nhà sư và Phật tử phải di chuyển chỗ ở thường xuyên để không bị cảnh sát Thái bắt và trục xuất, theo yêu cầu của nhà nước Việt Nam. Năm ngoái cảnh sát Thái thực hiện cuộc bố ráp lớn; anh T.S. và nhiều người trong nhóm phải dời đi thật xa ra vùng ngoại ô Bangkok. Khi đến thăm họ ít lâu sau đó, tôi và toán pháp lý của BPSOS không tìm được taxi nào chịu đi vì quá xa xôi; chúng tôi phải đi thành 2 chặng – mỗi chặng một taxi khác.
Trong mấy năm qua anh T.S. giúp chúng tôi theo dõi tình trạng đàn áp tôn giáo nhắm vào cộng đồng Phật Giáo Khmer ở Miền Tây. Anh cũng là người báo động cho toán luật sư BPSOS hoạt động ở Thái Lan v các đồng bào gốc Khmer mới chạy sang lánh nạn cộng sản.


Tuổi thơ tị nạn, Bangkok, Thái Lan (ảnh BPSOS)

Đó là cách chúng tôi tổ chức để gi liên lạc với khoảng một nghìn đồng bào đang lánh nạn ở Thái Lan. Họ sống theo từng nhóm nhỏ, rải rác ở những vùng ngoại thành của Bangkok hoặc các đô thị khác. Mỗi nhóm có người gi liên lạc với toán luật sư của BPSOS. Nhờ hệ thống liên lạc ấy, chúng tôi có được thông tin cập nhật để kịp thời can thiệp.
Từ đầu năm đến giờ chúng tôi nhận được nhiều tin phấn khởi: khá đông các đồng bào Việt, Khmer, Tây Nguyên, Hmong được cấp quy chế tị nạn, sau những năm dài mòn mỏi đợi chờ. Chỉ riêng tháng 8 đã có thêm gần 20 người được hưởng quy chế tị nạn, nâng tổng số lên thành 370 đồng bào được công nhận tư cách tị nạn kể từ ngày toán luật sư BPSOS bắt đầu hoạt động ở Thái Lan. Trong buổi họp tháng 4 vừa rồi, vị luật sư trưởng của Cao Uỷ Tị Nạn LHQ (CUTN/LHQ) ở Thái Lan cho tôi biết là 75% s hồ sơ “kháng cáo” của BPSOS thành công. Đây là một tỉ lệ thành công rất cao. Còn thế nào là “kháng cáo” thì sẽ giải thích sau.
Thống kê của CUTN/LHQ cho biết hiện có 763 người Việt tị nạn ở Thái Lan. Tuy nhiên họ không tính kể khoảng vài trăm người đã bị đóng hồ sơ, nghĩa là dứt khoát bị t chối tư cách tị nạn. Tính cả họ thì số người Việt lánh nạn ở Thái Lan khoảng trên dưới một nghìn.
Ai được xét quy chế tị nạn là cả một vấn đề phức tạp, sẽ được giải thích sau. Ở đây tôi muốn nhấn mạnh rằng ngay cả những người với hồ sơ bị đàn áp nặng nề và rõ rệt vẫn có thể bị khước từ tư cách tị nạn. Họ hoàn toàn trong thế tiến thoái lưỡng nan: Không thể về nước và cũng không thể đến một quốc gia khác định cư -- chỉ những ai có quy chế tị nạn thì mới được đi định cư;  tiếp tục sống vất vưởng ở Thái Lan thì sớm muộn cũng bị bắt và bị tống giam về tội cư trú bất hợp pháp. Khi bị tong giam rồi thì chỉ còn 2 con đường: ở vĩnh viên trong trại giam cho đến khi chấp nhận hồi hương.
Họ là những ai?
Số một nghìn người Việt kể trên là những người bắt đầu bỏ nước ra đi kể từ năm 2007, do hậu quả trực tiếp của cuộc đàn áp nổ ra vào tháng 3 năm 2007 và kéo dài đến nay. Thoạt tiên nạn nhân của sự đàn ápchạy qua Cambodia. Ở đây không còn an ninh nữa khi công an bản xứ bắt đầu phối hợp với công an Việt Nam để truy nã người tị nạn Việt Nam; họ lại chạy tiếp sang Thái Lan và thậm chí có người đến Malaysia và vài quốc gia khác.
Đa phần trong số họ phải bỏ nước ra đi vì hiểm nguy cận kề -- hoặc sắp bị bắt hoặc đã có giấy truy nã do hoạt động chính trị hay tôn giáo, tổ chức nghiệp đoàn, chống Trung Quốc, mở các trang blog, hay tố giác tệ trạng buôn người. Cũng có những người tù chính trị, tôn giáo hay lương tâm vừa mãn hạn tù thì phải bỏ nước ra đi để tránh sự quản chế. Có không ít các nhà sư Phật Giáo Tiểu Thừa, các mục sư Tin Lành, các đồng bào Tây Nguyên hay Hmong hay Khmer Krom; có khá đông những thanh niên Công Giáo thuộc giáo phận Vinh; có cả những người thuộc các đảng chính trị, tổ chức lao động. Có cả một số người trẻ trong nhóm của Việt Khang, Nguyễn Phương Uyên. Và có lẽ nhiều người sẽ ngạc nhiên: có một số cựu quân nhân và thương phế binh Việt Nam Cộng Hoà, và một số trường hợp người lai Mỹ-Việt.
Tôi chia xẻ câu chuyện nhỏ làm ví dụ điển hình.
Ngày 3 tháng 8 vừa rồi, toán luật sư BPSOS ở Thái Lan chuyển cho tôi lời nhắn của 2 gia đình vừa được CUTN/LHQ công nhận tư cách tị nạn:
"Chúng tôi là những người thân của nạn nhân bị công an giết chết còn sống sót lại, đã phải bỏ quê hương thân yêu của mình ra đi lánh nạn... Tôi rất mừng có ngày vui như ngày hôm nay là nhờ có sự can thiệp giúp đỡ nhiệt tình của Luật Sư, không thể bỏ qua đó là em May nhân viên phiên dịch hiện nay đã về nước Mỹ và trong đó có tiễn sỹ Nguyễn Đình Thắng giám đốc điều hành văn phòng BPSOS đã giúp đỡ chúng tôi trong thời gian qua. Cầu xin Đức Chúa Trời ban phước lại cho Luật Sư cũng như văn phòng BPSOS."
Hai gia đình này, lên đến chục người, thuộc cộng đồng người Hmong theo đạo Tin Lành ở Đắk Nông. Họ đã bị đàn áp một cách kinh hoàng. Tháng 4 năm 2013, anh H.V.P. và người anh ruột, vốn là chấp sự trong hội thánh Tin Lành địa phương, bị công an bắt vì quyết tâm bảo vệ đạo -- vợ của họ cũng bị bắt. Tại đồn công an người anh bị tra tấn đến chết -- anh H.V.P. nghe được tiếng gào thét của người anh trai ở phòng giam bên cạnh trước khi tắt thở. Trước cái chết đau đớn ấy, đại gia đình của nạn nhân làm đơn khiếu nại và yêu cầu chính quyền điều tra. Đầu năm 2014, công an bắt một người em trai họ của anh H.V.P. vì bị tình nghi là tác giả của tờ đơn khiếu nại. Sau 10 ngày giam giữ, công an đưa xác của người ấy về cho gia đình và cảnh cáo rằng, ai còn dám kêu oan thì số phận sẽ tương tự. Sợ quá, đại gia đình mấy chục người bỏ ruộng vườn quê quán, mạnh ai nấy chạy thoát thân rồi băng rừng lội suối đến Thái Lan lánh nạn. Có gia đình đi lạc trong rừng 3 tháng mới đến nơi.


Cuối năm ngoái tôi gặp họ ở Thái Lan, nhưng không báo trước. Nỗi sợ hãi còn hằn trên nét mặt của mỗi người. Tôi đã theo dõi hồ sơ này từ tháng 4, 2013, và cũng đã nói chuyện với một số người trong đại gia đình của họ qua điện thoại trước đây nên khi gặp nhau thì đôi bên cùng mừng vui và cảm động như những người quen thân lâu ngày nay gặp lại.
Nhưng niềm vui này mới chỉ đến với 2 gia đình. Những gia đình khác vẫn tiếp tục phập phồng chờ đợi.
“Tị nạn đô thị” -- trước đây làm gì có!
Không như những người Việt đi tìm tự do năm xưa, ngày nay đồng bào ra đi lánh nạn không có trại tị nạn để nương náu, để được bảo vệ và cấp dưỡng bởi LHQ. Họ phải sống rải ra ở những khu ngoại ô nghèo của các đô thị. Do đó họ được mệnh danh là “người tị nạn đô thị” (urban refugees).
Họ phải t bươn chải để kiếm sống, và có thể bị cảnh sát Thái bắt bất kỳ lúc nào. Họ phải hạn chế đến tối thiểu việc ra khỏi nhà, ngoại trừ những lần đánh liều đi kiếm sống, đi gặp luật sư hay đi phỏng vấn với CUTN/LHQ.
“Nhà” của họ chỉ vỏn vẹn căn phòng chật hẹp trong những khu chung cư cũ kỹ và nhiều khi thiếu vệ sinh. Để tránh hàng xóm người Thái phát hiện và báo cảnh sát, họ sống trong thinh lặng. Người lớn và trẻ em cả ngày quanh quẩn sau 4 bức tường và phải tuyệt đối không gây tiếng ồn. Mọi cửa sổ trong phòng thường được che kín để không bị ai nhòm ngó. Không khí tù túng và ngộp thở.
Những lần đến Thái Lan tôi đều dành thời gian đi thăm những đồng bào “tị nạn đô thị” ấy. Khi bước qua những cống rãnh sặc mùi, leo lên từng bậc thang xiêu vẹo, và rồi vào căn phòng chật hẹp với cả chục người đang sống chen chúc, lòng tôi luôn quặn lại khi đối chiếu với đời sống của người Việt nơi đất nước tự do. Cũng là con người, cùng một giòng máu mà sao thân phận khác nhau đến vậy.
IDC – cơn ác mộng của người tị nạn
Nỗi lo sợ sâu thẳm và cận kề nhất của đồng bào tị nạn là bị cảnh sát Thái bắt và đưa vào Trung Tâm Giam Giữ Di Dân (Immigratation Detention Center, hay IDC), nơi dễ vào nhưng khó ra. Đời sống trong IDC là đời sống nhà tù, có khi còn tệ hơn. Và ở IDC ngày nào thì ngày ấy còn rủi ro bị bất ngờ dẫn độ.
Vì Thái Lan không ký công ước LHQ về người tị nạn, đối với họ tất cả người tị nạn đều là di dân bất hp pháp và có thể bị tống giam để chờ trục xuất. Trong khi ấy, dù có quốc gia nào khác nhận định cư thì cũng không được dời khỏi Thái Lan nếu như chưa được CUTN/LHQ công nhận tư cách tị nạn. Và ngay cả nhng người đã được LHQ chính thức công nhận tư cách tị nạn vẫn có thể bị bắt, tống giam và vẫn có thể bị dẫn độ.
Chỉ vài tiếng sau khi  anh Đặng Chí Hùng bị bắt và đưa vào IDC vào cuối năm 2013, toán luật sư của BPSOS bắt đầu làm việc ráo riết với CUTN/LHQ để vận động họ gấp rút công nhận anh là người tị nạn và mở lối thoát theo con đường định cư. CUTN/LHQ đã hoàn toàn hợp tác và nhanh chóng công nhận tư cách tị nạn của anh, nhưng rồi do một bất cẩn từ hải ngoại, con đường định cư đã bị khựng lại và rủi ro dẫn độ đột nhiên tăng lên. Lúc ấy chúng tôi phải thuê thêm luật sư người Thái để làm việc trực tiếp với Bộ Nội Vụ Thái Lan nhằm đối phó các toan tính dẫn độ theo yêu cầu của chính quyền Việt Nam. Toán luật sư của BPSOS tuần nào cũng vào IDC gặp anh, nhằm bảo đảm rằng anh không bị bất ngờ chuyển trại giam -- anh cũng có cách liên lạc với văn phòng BPSOS bất kỳ lúc nào, giờ nào trong trường hợp khẩn cấp. Cuối cùng anh Đặng Chí Hùng cũng đã thoát nạn và được đi định cư Canada. Chính bản thân anh đến nay vẫn không biết những gì đã xảy ở hậu trường.
Trường hợp của anh Đặng Chí Hùng không phải là duy nhất. Vài chục người Việt khác cũng cùng cảnh ngộ nhưng it được ai biết đến. Phái đoàn luật sư BPSOS hầu như hàng tuần đều vào IDC để thăm hỏi và tìm cách “tháo gỡ” cho họ. Chỉ riêng trong 2 tháng qua, đến gần hai chục người Việt đã bị bắt vào IDC, trong đó có hai trường hợp thương phế binh VNCH (xem phần phụ đính).

Thăm viếng một số đồng bào bị giam ở IDC, Bangkok, năm 2011

Điều kiện sinh sống ở IDC tệ hơn nhà tù vì nó chỉ được thiết kế làm nơi tạm giam. Trên nguyên tắc người bị bắt chỉ ở đó vài tuần trước khi bị trục xuất. Nhưng thc tế thì vào đó là ở nhiều năm, có nhng người ở cả chục năm. IDC không có phương tiện và không đủ cơ s cần thiết để giam người lâu như vậy.
Đủ mọi thành phần hỗn tạp được lèn vào IDC.  Vì hết sức chật chội, người ta phải ngủ ngồi. Có không ít trẻ em ln lên trong môi trường ấy.
Một số điểm dễ ngộ nhận
Trên đây là chính sách của Thái Lan đối với người tị nạn đến từ Việt Nam hay từ bất kỳ quốc gia nào -- ngoại trừ những người tị nạn đến từ Miến Điện thì được ở trong các trại tị nạn dọc biên giới Thái-Miến chứ không phải chịu thân phận “tị nạn đô thị”, nhưng vẫn phải được công nhận tư cách tị nạn bởi LHQ thì mới có thể rời khỏi Thái Lan để định cư ở một quốc gia nào khác.
Gần đây có một số người Việt ở Thái Lan đi định cư Canada theo đường bảo lãnh tư nhân. Họ là những cựu thuyền nhân trốn trại khi xẩy ra cưỡng bách hồi hương năm 1996. Chính sách của Thái Lan không xem họ là tị nạn nên không áp dụng chính sách kể trên đối với họ, kể cả việc bắt giam vào IDC hay dẫn độ về Việt Nam. Khi nói đến người tị nạn, tôi không nói đến thành phần này mà là số một nghìn đồng bạo “tị nạn đô thị”, là những người đến Thái Lan lánh nạn kể từ 2007 do bị đàn áp vì hoạt động tôn giáo, chính trị, hay theo lương tâm.
Điểm ngộ nhận thứ hai là gần đây có người đưa thông tin rất sai lệch về tình trạng người Việt đang tị nạn ở Thái Lan, làm cho người đọc có thể hiểu lầm rằng nay không còn người tị nạn mới đến trong khi số đồng bào đang ở Thái Lan không cần giúp đỡ hoặc không còn cách nào để giúp cho họ. Thực ra số người tị nạn đến từ Việt Nam vẫn tăng. Và điều trớ trêu là chính người đưa tin, cuối năm 2012 vì bất cẩn đã làm cho 6 đồng bào bị cảnh sát bắt, trong đó 4 người bị tống giam vào IDC. Toán luật sư của BPSOS phải cần mẫn can thiệp cho từng người một, tốn kém biết bao công sức và tài chánh. Chỉ cách đây vài tháng, nghĩa là hơn 3 năm sau, chúng tôi mới “gỡ” được cho người cuối cùng thoát khỏi IDC sau khi được CUTN/LHQ công nhận tư cách tị nạn. Người này đang chờ đi định cư ở một quốc gia tự do. Còn 3 người kia thì 2 người đã lên đường định cư, trong đó có anh Siu A Nem và gia đình được đồng hương ở Toronto tiếp đón nồng hậu khi vừa đặt chân đến Canada. Một người nữa, cựu quân nhân VNCH, đã bị hồi hương nhưng sau lại trốn chạy được sang Thái Lan và giờ  đây đã được công nhận tư cách tị nạn và đang chờ định cư.

Cộng đồng người Việt ở Toronto đón tiếp anh Siu A Nem và gia đình, ngày 24 tháng 7, 2014

Cuối cùng , chủ trương “làm nhiều, nói ít” của chúng tôi cũng có thể tạo cảm giác rằng chúng tôi ít hoạt động. Ưu tiên hang đầu của chúng tôi là bảo vệ an toàn cho những đồng bào đang bị cực kỳ hiểm nguy. Ngay cả khi đến thăm đồng bào, không bao giờ tôi báo trước, để tránh có kẻ theo dõi mình mà truy ra nơi ẩn náu của họ. Chúng tôi không có quyền bất cẩn để rồi gây hoạ cho đồng bào. Do đó chúng tôi chỉ có thể nói về những hồ sơ “cũ”, nghĩa là sau khi họ đã định cư ở quốc gia khác và chỉ khi nào những người thân thuộc hay cùng hoạt động với họ còn kẹt ở Thái Lan không bị liên luỵ.
=============================
Phụ đính: Hai TPB/VNCH xin tị nạn ở Thái Lan
Có một số cựu quân cán chính VNCH đang là “người tị nạn đô thị” ở Thái Lan, trong đó có 2 thương phế binh. Cả hai đều trong hoàn cảnh hết sức éo le và cần sự giúp đỡ cả về vật thể lẫn pháp lý.
TPB Bùi Văn Quý:


Sinh năm 1951. Binh nhì, Tiểu đoàn 38, Liên đoàn 5 Biệt Động Quân, bị bắt làm tù binh ở trận Quảng Trị năm 1972. Trao đổi tù binh năm 1973. Cụt cánh tay phải, chân đi không được. Đời sống khó khăn ở Việt Nam nên hai vợ chồng phải trốn qua Thái Lan. Cả 2 được cấp giấy bảo vệ của CUTN/LHQ nhưng phải chờ nhiều năm mới đến lượt phỏng vấn. Ngày 28 tháng 1 năm nay chú Quý và người bạn là cựu quân cảnh VNCH đã bị cảnh sát Thái bắt. Do BPSOS cùng với Cao Uỷ Tị Nạn LHQ phối hợp can thiệp, một tuần sau hai người được thả về sau khi đóng tiền phạt US $200 mỗi người. Đầu năm nay BPSOS báo cho Cô Hạnh Nhơn biết về tình cảnh hết sức khốn khó của 2 vợ chồng chú Quý. Hội của cô Hạnh Nhơn đã trích ra US$200 để giúp đỡ. Nhân thể, hội cũng gửi thêm $200 để giúp gia đình người quân cảnh kể trên dù người này không là thương phế binh.
Xui xẻo, cách đây 2 tháng chú Quý và vợ lại bị cảnh sát Thái bắt khi đang ăn xin trên đường phố Bangkok. Lần này họ đưa 2 vợ chồng vào thẳng IDC. Người vợ chịu không thấu cảnh tù nên đành chấp nhận hồi hương và được một mạnh thường quân giúp tiền vé máy bay và tiền phạt nhập cảnh bất hợp pháp. Toán luật sư BPSOS thường xuyên đến thăm chú Quý  ở IDC và an ủi chú. Chú chỉ có độc mỗi một bộ đồ trên người, không có bộ thứ hai để thay đổi. Sức khoẻ của chú hiện sa sút do điều kiện sống khắc nghiệt và thiếu vệ sinh, thiếu dịch vụ y tế trong IDC. E không sống sót nổi nếu bị giam lâu ngày, ý nguyện của chú giờ đây là hồi hương để đoàn tụ với vợ ở Việt Nam. Chi phí để hồi hương khoảng 300 Mỹ kim. Ngoài ra chú Quý cũng cần được giúp đỡ về thực phẩm, thuốc men trong thời gian còn ở trong trại giam IDC.
TPB N. V. N. (Số quân: 74/510/100)
Sinh năm 1954. Nhập ngũ tháng 2 năm 1972. Tiểu đoàn 42, Liên Đoàn 4, Biệt Động Quân. Bị chấn thương và phải cưa mất chân trái (cưa từ trên đùi, cao hơn đầu gối) vào năm 1974 ở quận Tam Quan, tỉnh Quy Nhơn, vùng 2 chiến thuật. Vợ chồng chú N.V.N. cùng 2 người con trốn sang Thái Lan tháng 8, năm 2010. Họ được CUTN/LHQ công nhận tư cách tị nạn năm 2012.
Mặc dù đối mặt với nguy cơ bị cảnh sát Thái bắt, chú N.V.N. vẫn hàng ngày đi bán bong bóng ở lề đường Bangkok để nuôi gia đình cho đến khi sức khoẻ không cho phép tiếp tục. Người con trai đầu phải thay chú kiếm sinh kế cho gia đình. Xui xẻo, tháng rồi anh ta bị cảnh sát Thái bắt và tống giam vào IDC. Gia đình chú phải chạy vạy vay tiền thế chân trên US $1,400 để người con được tại ngoại. Sợ bị bắt, người con lớn không dám ra ngoài đi kiếm kế sinh nhai. Gia đình chú N.V.N. do đó vô cùng túng thiếu. Mỗi tháng gia đình 4 người phải trả tiền thuê phòng là US $100 và tiền ăn là US $175. Vì chú N.V.N. bị phế tật nên được CUTN/LHQ trợ cấp nhưng cũng chỉ US $50/tháng cho cả nhà, vẫn còn thiếu khoảng $225/tháng. Phái đoàn luật sư BPSOS vẫn tiếp tục giúp cho gia đình chú sớm định cư. Mới đây họ được phái đoàn Hoa Kỳ nhận, nhưng phải mất từ 5 đến 7 tháng nữa thì mới hoàn tất thủ tục định cư.
Ghi Chú: BPSOS là tổ chức duy nhất có chương trình pháp lý để bảo vệ đồng bào tị nạn ở Thái Lan. Từ 2007 đến giờ văn phòng pháp lý của BPSOS đã giúp tổng cộng 751 đồng bào ở Thái Lan và Malaysia về pháp lý, đời sống, y tế, bảo vệ và can thiệp khi bị bắt, định cư… Trong số đó, gần 250 đồng bào đã lên đường định cư ở các quốc gia Hoa Kỳ, Canada, Âu Châu và Úc. Toán pháp lý hiện có 3 luật sư, 1 thông dịch viên, 1 quản trị hành chánh và 2 người giúp việc văn phòng và liên lạc người tị nạn. Toàn bộ ngân sách cho hoạt động bảo vệ đồng bào này, khoảng US $12,000/tháng, là do các nhà hảo tâm đóng góp chứ không hề có nguồn cấp khoản nào khác. Chúng tôi rất cần sự yểm trợ của những ai yêu thương đồng bào và quan tâm đến những người vì đấu tranh cho nhân quyền, tôn giáo, và dân chủ mà hiện nay phải lánh nạn sang Thái Lan. Mọi đóng góp xin đề cho và gởi về:
BPSOS/Tị Nạn
6066 Leesburg Pike, Suite 100
Falls Church, VA 22041 USA
Những giúp đỡ riêng cho 2 trường hợp TPB/VNCH thì xin đề trong phần ghi chú (memo): Bùi Văn Quý hay N.V.N.
Mọi đóng góp đều được khai trừ thuế với chính phủ Liên Bang Hoa Kỳ.
Các bài kỳ sau:
Văn phòng pháp lý của BPSOS -- chiếc phao cuối cùng cho đồng bào tị nạn
Tuổi thơ tị nạn -- có tương lai nào cho các em?

Đóng góp của “người tị nạn đô thị” cho cuộc tranh đấu nhân quyền và dân chủ