Giáo Sư Janet Hoskins: hiểu sai đoạn
Hộ Pháp phân phiền với Đức Chí Tôn.
Ngày 19-01-2026.
Pháp
Chánh Truyền là Hiến pháp của Đại‑Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, nói tắt là Đạo Cao Đài. Đức
Hộ Pháp đắc lịnh chú giải Pháp Chánh Truyền, nên đó là bản duy nhất trong Đạo
Cao Đài. Tìm hiểu về tổ chức, cấp bậc phẩm tước, số lượng chức sắc, quyền hạn
chức sắc… trong Đạo Cao Đài đều phải căn cứ vào Pháp Chánh Truyền Chú Giải
(PCTCG).
Bà
Janet Hoskins là Giáo Sư trường Đại Học Nam California, Bà có nhiều công trình nghiên
cứu về Đạo Cao Đài. Bà tìm hiểu về PCTCG và viết trong hai tác phẩm:
Bản PDF
Tiếng
Anh: … Even after this strict correction, the Hộ Pháp presses once again for
an explanation for an apparent inconsistency in the doctrine of sexual
equality, and the divine master answers angrily “The Law of heaven is thus set
down,” closing off discussion and leaving the séance abruptly…. (End of
excerpt)
(Trang
228, 229: A Posthumous Return from Exile: The Legacy of an Anticolonial Religious
Leader in Today’s Vietnam)
(1).
Tiếng
Việt: … Thậm chí sau khi có sửa đổi nghiêm khắc này, Hộ Pháp còn nhấn mạnh một
lần nữa đòi được giải thích về cái gọi là không thống nhất trong học thuyết về
bình đẳng phái tính, và Đức Cao Đài tức giận trả lời: “Lẽ Thiên Cơ đã định”, rồi
kết thúc tranh luận và bỏ dở đàn cơ… (hết trích).
(Trang 09, bài trình bày trong Hội nghị ở Bình
Châu, Việt Nam). (2)
Đó
là tác giả nhận xét phần Đức Hộ Pháp chú giải quyền hành Nữ Phái trong PCTCG. Hai
trích đoạn có điểm chung:
.
Đức Cao Đài hay Đấng Thiêng Liêng tức giận trả lời…
.
Kết thúc tranh luận …
.
Bỏ dở đàn cơ …
.
Dùng Học thuyết về bình đẳng phái tính … để nhận xét.
Do
vậy cần đối chiếu nhận xét của Giáo sư Janet với nguyên văn lời dạy để hiểu
đúng sự thật:
…
Hộ Pháp để lời phân phiền cùng Thầy như vầy: Thưa Thầy, Thầy đã nói con cũng
đồng con, Nam Nữ vốn như nhau mà Thầy truất quyền của Nữ Phái không cho lên địa
vị Chưởng Pháp và Giáo Tông, thì con e mất lẽ công bình chăng?
Thầy dạy: Thiên Địa hữu Âm Dương, Dương thạnh tắc sanh, Âm thạnh tắc tử. Cả Càn Khôn Thế Giái nhờ Dương thạnh mới bền vững; cả chúng sanh sống bởi Dương quang, ngày nào mà Dương quang đã tuyệt, Âm khí lẫy lừng, ấy là ngày Càn Khôn Thế Giái phải chịu trong hắc
HẾT TRANG 01
ám, mà bị tiêu diệt. Nam ấy Dương, Nữ ấy Âm, nếu Thầy cho Nữ
Phái cầm quyền Giáo Tông làm chủ nền Đạo thì là Thầy cho Âm thắng Dương, nền Đạo
ắt bị tiêu tàn ám muội.
Hộ
Pháp lại kêu nài nữa rằng: Thầy truất quyền Giáo Tông Nữ Phái thì đã đành, song
quyền Chưởng Pháp thì tưởng dầu ban cho cũng chẳng hại.
Thầy
dạy: "Chưởng Pháp cũng là Giáo Tông, mà còn trọng hệ hơn, là vì người thay
mặt cho Hộ Pháp nơi Cửu Trùng Đài. Thầy đã chẳng cho ngồi địa vị Giáo Tông, thì
lẽ nào cho ngồi địa vị Hộ Pháp con. Bởi chịu phận rủi sanh, nên cam phận thiệt
thòi, lẽ Thiên Cơ đã định, Thầy chỉ cậy con để dạ thương yêu binh vực thay Thầy
kẻo tội nghiệp! (3) (hết trích)
Bài
viết căn cứ vào nguyên văn từ Pháp Chánh Truyền Chú Giải, để chứng minh
nhận xét của Giáo sư Janet:
.
Sai về dữ kiện và thuật ngữ.
.
Cách đặt vấn đề sai lệch. Pháp Chánh Truyền đặt trên căn bản Vũ trụ luận: âm
dương từ đó soi chiếu quyền hành trong tôn giáo. Giáo sư dùng học thuyết bình
đẳng phái tính…; để nhận xét. Do dùng sai hệ quy chiếu, nên bà đã hiểu sai
bản chất của văn bản.
Nó
tương tự như đem hình học phẳng ra để phê bình hình học không gian.
1/-
Sai về dữ kiện và thuật ngữ.
Bài
viết chọn 3 điểm tiêu biểu
1.1/-
Tác giả viết: … bỏ dở đàn cơ… là sai sự thật.
Phò
cơ và chấp bút đều là phương pháp để giao tiếp với Đức Cao Đài hay các Đấng
Thiêng liêng, nhưng có sự khác nhau.
Phò
cơ: Có công cụ là cây cơ. Một đàn cơ của
Đạo Cao Đài phải có hai đồng tử do Đức Cao Đài chọn để phò loan. Chơn thần hai
đồng tử đó nghe dạy và cái xác theo đó viết ra. Có người khác đọc và chép lại. Pháp
Chánh Truyền được ban qua đàn cơ.
Chấp
bút: Chỉ có một người và cây bút. Khi
chấp bút Đức Cao Đài (hay các Đấng Thiêng Liêng) đến dạy chơn thần người chấp
bút và tay người chấp bút viết ra theo lời dạy; nên không có đàn cơ. Không có
người đọc và chép.
Khi
Đức Hộ Pháp được lịnh chú giải Pháp Chánh Truyền, Ngài được dạy cách chấp bút để
chú giải; không phải phò cơ nên không có đàn cơ.
Tác
giả viết “bỏ dở đàn cơ” là sai dữ kiện và sai thuật ngữ.
1.2/–
Tác giả viết: … kết thúc tranh luận … là cách hiểu sai bản chất vấn đề.
Tranh
luận là sự đối đáp lý lẽ giữa hai hay nhiều bên ở vị thế ngang nhau, mỗi bên
đưa lập luận để bảo vệ quan điểm của mình, nhằm thuyết phục, bác bỏ hoặc phân
thắng–bại về lý.
HẾT TRANG 02
Trong
trích đoạn trên, tác giả đã hiểu rằng Đức Hộ Pháp (là trò) tranh luận với Đức
Chí Tôn (là Thầy) là không phù hợp. Nội dung trích đoạn trên cho thấy Đức Hộ
Pháp chỉ thưa hỏi để xin Thầy dạy rõ, hoặc kêu nài xin Thầy ban ơn thêm, hoàn
toàn không có tính chất tranh luận.
Bài
viết phân tích về độ chính xác của ngôn từ: phân phiền và kêu nài.
1.2.1/-
“Hộ Pháp để lời phân phiền cùng Thầy …”
.
Phân: trình bày, giãi bày.
.
Phiền: nỗi băn khoăn nội tâm, chưa thông suốt.
.
Phân phiền: giãi bày điều băn khoăn, chưa thông suốt trong lòng trí để xin được
chỉ dạy
Trong
trích đoạn trên chữ phân phiền có nghĩa là Đức Hộ Pháp (học trò) kính cẩn trình
bày điều chưa thông với Đức Cao Đài (Thầy) để xin được chỉ dạy.
Câu
… Hộ Pháp để lời phân phiền cùng Thầy … tự thân đã phủ nhận khả năng có
một cuộc tranh luận ngang hàng.
Tóm
lại, căn cứ vào câu… … Hộ Pháp để lời phân phiền cùng Thầy … rồi gán cho
Đức Hộ Pháp “tranh luận” với Đức Cao Đài là sai về ngữ nghĩa, sai về bản chất
quan hệ Thầy–trò, và sai về tinh thần của Pháp Chánh Truyền.
1.2.2/-
Hộ Pháp lại kêu nài nữa rằng…
Kêu:
cất lên lời thưa, bày tỏ điều mình đang mang trong lòng.
Nài:
xin thêm điều gì hay xin xét lại; xin giải thích thêm, hoặc xin được soi sáng.
Kêu
nài = tha thiết thưa xin, mong được xét lại hoặc ban thêm lời dạy.
Đoạn
…Hộ Pháp lại kêu nài nữa rằng…” có nghĩa là:
Đức
Hộ Pháp đã chấp nhận nguyên lý Thầy dạy.
Chỉ
tha thiết xin thêm, đó là sự khiêm cung của trò đối với Thầy.
Chữ
“kêu nài” trong trích đoạn từ PCTCG trên đây không mang nghĩa tranh luận
hay phản biện, mà là lời cầu xin trong khuôn khổ giáo huấn Thầy–trò.
Chữ
phân phiền và kêu nài xuất hiện theo thứ tự cho thấy độ tinh tế trong ngôn từ,
phản ánh tiến trình lãnh hội lời dạy.
Phân
phiền: Con chưa hiểu, xin Thầy chỉ dạy.
Kêu
nài: Con đã hiểu phần nào, nhưng xin Thầy soi sáng thêm.
Điều
này bác bỏ hoàn toàn cách GS Janet diễn giải rằng đây là một cuộc tranh luận.
HẾT TRANG 03
Tác
giả viết … kết thúc cuộc tranh luận… là không phù hợp với ngữ nghĩa văn
bản, làm sai lệch tinh thần giáo huấn của Pháp Chánh Truyền.
Thánh Phê-rô (Pierre) khi bị đóng đinh Ngài nói: Tôi không xứng đáng chịu chết theo cách Chúa tôi đã chịu. Xin hãy đóng đinh tôi theo cách khác. Nên Ngài bị đóng đinh đầu quay xuống đất.Theo đó đạo nghĩa Thầy trò trong tôn giáo là thiêng liêng và tuyệt đối.
Đức
Cao Đài là Thầy, Đức Hộ Pháp là trò, nên Đức Hộ Pháp cũng giữ trọn đạo nghĩa ấy
đối với Đức Chí Tôn.
Cho
nên Giáo sư viết: … cuộc tranh luận … là sai với đạo lý Thầy-trò trong
tôn giáo.
1.3/-
Tác giả viết: … Đức Cao Đài tức giận trả lời …
Trong
trích đoạn từ PCTCG trên đây, không có bất kỳ từ ngữ hay sắc thái nào biểu thị
sự tức giận của Đức Cao Đài. Giọng văn của Thầy hoàn toàn mang tính khai thị,
giải thích Luật Âm Dương cậy Hộ Pháp thương yêu binh vực Nữ phái. Điều này cho
thấy đây không phải là một cuộc tranh luận hay xung đột, mà là các lời chỉ dạy với
lòng từ ái.
Lời
dạy kết thúc bằng câu: ... “Thầy chỉ cậy con để dạ thương yêu binh vực thay
Thầy kẻo tội nghiệp!”
Câu
này thể hiện sự tin cậy và thương yêu, hoàn toàn trái ngược với trạng thái tức
giận.
Tóm
lại không có từ nào, đoạn nào cho thấy Đức Cao Đài tức giận trả lời … như
Giáo sư Janet viết.
2/-
Lỗi áp dụng học thuyết sai bối cảnh lịch sử.
Thầy
ban Pháp Chánh Truyền Nam phái năm 1926, Đức Lý Giáo Tông lập Pháp
Chánh Truyền Nữ phái năm 1927, và Pháp Chánh Truyền Chú Giải ban
hành ngày 02-04-1931. Tại thời điểm hình thành và chú giải (1926–1931), chưa tồn
tại học thuyết “bình đẳng phái tính” theo nghĩa học thuật hiện đại. Vì vậy,
việc dùng khái niệm đó để diễn giải và phê phán Pháp Chánh Truyền Chú Giải
là đặt sai nền tảng ngay từ đầu, dẫn đến những nhận định không phù hợp với văn
bản gốc.
Xét
về học thuyết.
Pháp
Chánh Truyền phát xuất từ Đạo. Đạo là sự hòa hiệp
của Âm–Dương, nên Đức Cao Đài dùng lý Âm–Dương để dạy Đức Hộ Pháp. Pháp
Chánh Truyền đặt nền tảng trên vũ trụ luận Âm–Dương nhằm xác lập quyền hành
trong Đạo, chứ không dựa trên học thuyết về bình đẳng phái tính. Do đó,
dùng học thuyết về bình đẳng phái tính để đánh giá cấu trúc quyền hành
này là sai căn bản học thuyết.
Theo Pháp Chánh Truyền Chú Giải, trong sự hòa hiệp và biến hóa của Âm–Dương hình thành tám phẩm chơn hồn: vật chất hồn, thảo mộc hồn, thú cầm hồn, nhơn hồn, thần hồn, thánh hồn, tiên hồn và phật hồn. Khi tiến hóa đến nhơn hồn, sự phân biệt Nam–Nữ trở nên rõ ràng, thể hiện qua hình thể và thiên chức khác nhau. Do đó, tạo hóa ban cho mỗi phái những thiên
HẾT TRANG 04
chức
riêng, và Đức Cao Đài căn cứ vào đó để giao những vị trí phù hợp, giúp cả Nam lẫn
Nữ đều thuận căn, thuận mạng trên đường công quả, thực thi Nhơn Nghĩa.
Đạo
Cao Đài dạy nhơn loại có Đại Từ Phụ là Đức Cao Đài Thượng Đế và Đại Từ Mẫu là Đức
Diêu Trì Kim Mẫu. Đức Chí Tôn chủ ngôi Dương, Đức Phật Mẫu chủ ngôi Âm. Đức Chí
Tôn lập Thánh Thể là Hội Thánh Cao Đài để thay mặt Ngài dìu dắt nhơn loại. Vì Đức
Chí Tôn thuộc ngôi Dương, nên vị trí đứng đầu Thánh Thể tượng trưng cho ngôi
Dương thuộc về phái Nam.
Quan
sát lịch sử các tôn giáo lớn, phổ biến trên thế giới, các Đấng lập Đạo đều là
phái Nam, và các tôn giáo ấy cũng không giao quyền lãnh đạo tối cao cho người Nữ.
Đây là thực tế lịch sử gắn với cấu trúc giáo quyền và nền tảng vũ trụ luận,
không phải vấn đề bình đẳng phái tính theo học thuyết về bình đẳng phái tính
hiện đại.
Đạo
Cao Đài thừa kế tinh hoa Tam giáo nên cũng không giao phẩm Giáo Tông cho Nữ
phái. Vì thương Nữ phái, Đức Hộ Pháp mới kêu nài xin cho có phẩm Chưởng Pháp,
nhưng Thầy dạy rằng Chưởng Pháp cũng là Giáo Tông, lại còn trọng hệ hơn,
nên không thể ban cho Nữ phái.
Đức
Cao Đài không mị dân, nên dạy rõ: Nam và Nữ không thể bình đẳng về thiên chức,
nhưng bình quyền trong giới hạn tự nhiên. Pháp Chánh Truyền vừa kế thừa
trật tự Âm–Dương của Tam giáo, vừa mang tính hiện đại khi thiết lập Pháp Chánh
Truyền riêng cho Nữ phái, cho phép hành đạo song song với Nam phái trong khuôn
khổ Âm–Dương hài hòa. Pháp Chánh Truyền Chú Giải thể hiện rõ triết lý Nhất
nguyên đa cực của Đạo Cao Đài.
Do
đó, việc dùng một khái niệm hình thành ở thời kỳ sau là học thuyết về bình đẳng
phái tính để diễn giải và phê phán PCTCG là một văn bản ra đời trong
bối cảnh lịch sử khác là lỗi áp dụng học thuyết sai bối cảnh lịch sử, một sai
sót phương pháp nghiên cứu, thể hiện sự tùy tiện trong việc lựa chọn khung lý
thuyết.
3/-
Hậu quả.
Bài
viết chỉ ra ba hậu quả từ nhận định của GS Janet Hoskins.
3.1/-
Làm sai lệch đạo lý Thầy–trò.
Cách
diễn đạt “kết thúc tranh luận” đã biến tiến trình thưa hỏi – dạy bảo
trong PCTCG thành một cuộc đối kháng ngang hàng, không phù hợp với văn bản gốc
và đạo lý trong tôn giáo.
3.2/-
Sai lệch nền tảng tư tưởng của Pháp Chánh Truyền.
Việc
áp dụng khái niệm bình đẳng phái tính đã chuyển cách hiểu PCTCG từ vũ trụ
luận Âm–Dương sang vấn đề giới tính hiện đại, khiến người đọc hiểu sai căn bản
giáo lý của Đạo Cao Đài.
3.3/-
Gây nhiễu nhận thức học thuật và công chúng.
Những
sai lệch về thuật ngữ, nghi thức và khung lý thuyết, khi được trình bày dưới
danh nghĩa nghiên cứu học thuật, dễ bị xem là sự thật, từ đó lan truyền cách hiểu
sai về Đạo Cao Đài trong giới nghiên cứu và người đọc.
HẾT TRANG 05
Nhận
định của GS Janet không chỉ sai ở dữ kiện mà còn sai ở phương pháp: dùng khái
niệm hình thành về sau để diễn giải PCTCG là một văn bản tôn giáo ra đời trong
bối cảnh khác. Hệ quả là làm lệch nền tảng giáo lý, lệch quan hệ Thầy–trò và
gây nhiễu nhận thức về Pháp Chánh Truyền./.
Dương Xuân Lương.
Email hoabinhchungsong220513@yahoo.com
Các
chú thích.
1/-
https://khoinhonsanh2014.blogspot.com/2025/01/5567-janet-hoskins-ai-hoc-nam.html#more
2/- https://khoinhonsanh2014.blogspot.com/2025/01/5624-con-nguoi-va-kha-nang-sang-tao.html#more
3/-
Xem trang 60.
Link:
https://khoinhonsanh2014.blogspot.com/2021/02/3388-tan-luat-phap-chanh-truyen-chu.html#more