BBT chưa từng biết ông Cố vấn Ngô Đình Nhu có một chính sách phát triển Đạo Cao Đài.
BBT đăng nguyên văn bài viết lên để quý vị tham khảo và phản biện. Đó là trách nhiệm chung của toàn đạo.
Nay kính.
https://baotiengdan.com/2026/01/01/phu-quoc-tay-ninh-va-cuoc-chien-300-nam-tren-ban-dao-dong-duong/#google_vignette
Phú Quốc, Tây Ninh và cuộc chiến 300 năm trên bán đảo Đông Dương
Nguyễn Lương Hải Khôi
1-1-2026
Hôm 20/12/2025, Cambodia cầu viện Nga đánh Thái Lan, phòng họp treo bản đồ Cambodia bao gồm cả đảo Phú Quốc của Việt Nam.
Mấy ngày sau, một máy bay vận tải từ Belarus hạ cánh xuống Phnompenh. Không rõ đồ chơi mới này có giúp Cambodia nện được F16 của Thái không.
Cùng lúc, Trung Quốc đang bao vây Đài Loan và Nga tuyên bố ủng hộ Bắc Kinh.

Ảnh tấm bản đồ Cambodia bao gồm Phú Quốc xuất hiện trên Khmer Times của Cambodia.
Lịch sử khu vực sông Mekong 300 năm qua lặp lại lịch sử chiến tranh giữa hai đại cường Tấn và Sở, Arthen và Spatra.
Giữa hai đại cường là số phận long đong của nhiều tiểu quốc.
Ở sông Mekong, hai đại cường ấy là Đàng Trong của các chúa Nguyễn và Thái Lan.
Các tiểu quốc bị mắc kẹt trong cuộc xung đột ấy là Campuchia, Lào, Champa, các bộ tộc Tây Nguyên, lãnh chúa họ Mạc ở Hà Tiên. Cuộc mắc kẹt của họ kéo dài ba trăm năm, sang cả thế kỷ 20.
Đàng Trong của các chúa Nguyễn là một lực lượng kỳ lạ.
Họ mới nổi, trẻ tuổi hơn tất cả các tay chơi khác trong vùng, nhưng họ có một chiến lược sinh tồn không thể thông minh hơn: Vừa phát triển lực lượng, vừa bành trướng, nhận diện chính xác đối thủ chính là Thái Lan dù Thái cách họ rất xa, bên kia dòng Mekong hùng vĩ.
Họ biết bỏ qua các đối thủ nhỏ, không cần thiết.
Di tích Trấn Man Trường Lũy còn sót lại ở miền núi Quảng Bình ngày nay là một minh chứng. Trấn Man Trường Lũy cho thấy họ coi Tây Nguyên đã trong túi họ, không cần thiết phải xung đột với người anh em trên núi cao. Họ xây một trường thành để ngăn chặn xung đột nhỏ ấy, dồn tổng lực cho một cuộc chinh phục xa hơn, về phía Tây Nam.
Thậm chí vương quốc Champa khi đó cũng được các chúa Nguyễn bỏ qua.
Họ không coi đó là đối thủ cần giải quyết ngay. Vương triều Champa vẫn tồn tại đến thập niên 30 của thế kỷ 19, khi Đế quốc Đại Nam đã hình thành. Tây Nguyên chỉ thực sự được kiểm soát hành chính từ đầu thế kỷ 20.
Đối với các chúa Nguyễn, lực cản cần giải quyết trên đường Nam tiến là một trung cường ở cấp khu vực, cách mình rất xa: Thái Lan.
Còn các tiểu quốc, các bộ tộc ở gần thì nằm trong túi mình rồi. Khi nào game over thì họ đương nhiên là một phần của mình.
Campuchia trở thành chiến trường chính cho cuộc đọ sức Thái – Việt ba trăm năm qua.
Cuộc đọ sức Việt – Thái luôn gắn với xung đột nội bộ ở Phnom Penh.
Thái Lan đưa người của phe mình lên, được cúng một phần đất phía tây. Các chúa Nguyễn đưa người của mình lên, được cúng một phần đất phía đông.
Campuchia mất nhiều nhất trong cuộc xung đột đó: Phía tây mất cho Thái, phía đông mất cho các chúa Nguyễn.
Trong cuộc chơi mở đất kéo dài mấy chục thế hệ này, Việt – Thái vừa là đối thủ vừa là đối tác của nhau.
Khi người Pháp tới, lấy ba tỉnh miền đông từ tay Tự Đức, Campuchia oà khóc: Trời cứu ta rồi. Họ không bị Pháp xâm lược. Họ mời Pháp tới bảo hộ.
Thái Lan lấy được đất Campuchia nhưng quản lý lỏng lẻo. Pháp ép Thái Lan trả lại phần đất phía tây cho Campuchia. Thái Lan mất thành quả lấy được trong cuộc tranh hùng với các chúa Nguyễn.
Hun Sen hôm nay biến vùng đất ấy thành đặc khu lừa đảo, như một địa ngục trần gian. Thái Lan đã [đưa] F16 [vào] các trung tâm này, kiểm soát kha khá vùng đất Pháp ép phải trả hồi thế kỷ 19.
Đối với các chúa Nguyễn, khi lãnh thổ kéo xuống tới Hà Tiên và các lãnh chúa họ Mạc quy thuận thì coi như Game Over.
Họ quản lý chặt chẽ và bài bản lãnh thổ mới. Khi người Pháp tới, họ đánh trả trước khi thua cuộc. Người Pháp coi đó là đất của Nhà Nguyễn, không phải của Phnom Penh.
Trong cuộc xung đột ba trăm nó đó, phong trào Tây Sơn nổi lên trong một giai đoạn ngắn ngủi, như một tác nhân đẩy nhanh lịch sử, tạo tiền đề để chúa Nguyễn thống nhất Việt Nam, trước khi bị tiêu diệt.
Các chúa Nguyễn xây dựng cơ đồ Đế quốc Đại Nam từ một nguồn lực rất nhỏ. Đến thập niên 1830, sau hai trăm năm nam tiến, họ đã mở rộng biên giới đến bờ sông Mekong, áp sát Thái Lan.
Họ xây dựng bộ địa bạ khổng lồ, thống kê đất đai lãnh thổ, vẽ bản đồ để trực quan hoá bằng mắt cái tư duy lãnh thổ trên thực địa và sách vở.
Trước khi người Pháp tới, họ đã xây dựng được ý thức chung về một đế quốc thống nhất.
Nhu cầu sinh tồn của người Thái tất nhiên không chấp nhận một Đại Nam, vốn chỉ là một quốc gia trẻ trung, mới hình thành, dù có nguồn gốc lâu dài từ sông Hồng, áp sát bên kia sông Mekong. Họ tiếp sức các cuộc kháng chiến bên trong Lào và Campuchia.
Đại Nam lui quân sau hơn mười năm chiếm đóng vì nguồn lực không đủ.
Nhưng bánh xe lịch sử một trăm năm tiếp theo vẫn tiếp tục chạy theo động năng địa chính trị ấy trong khu vực.
Có một cuộc chiến địa chính trị như vậy lồng bên trong cuộc chiến ý thức hệ 1954-1975 ở Việt Nam. Cuộc chiến địa chính trị tiếp tục kéo dài sau 1975, đến khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia 1991.
Ông Cố vấn Ngô Đình Nhu sau 1954 khi đánh tan nhóm Cao Đài muốn cát cứ, đã xây dựng Cao Đài thành một tổ chức tôn giáo độc lập với chính quyền, tự trị về tôn giáo, kinh tế, giáo dục, y tế, xã hội.
Tôi đã sưu tập tư liệu về chính sách kỳ lạ này của ông Ngô Đình Nhu, viết thành bài phân tích chính sách, nhưng chưa hoàn thành được một bài báo học thuật vì chưa biết nên đặt chính sách kỳ lạ này trong khung lý thuyết nào.
Ban đầu, tôi đặt chính sách biến Cao Đài Tây Ninh trở thành một “quốc gia” tự trị, trừ quân đội, trong bộ khung ý thức hệ. Người ta thường nói anh em họ Ngô muốn độc tôn Thiên Chúa giáo ở miền Nam. Chính sách Cao Đài của ông Cố vấn cho thấy điều đó không đúng.
Nhưng rõ ràng bộ khung ý thức hệ không đủ để giải thích chính sách kỳ lạ đó.
Sài Gòn quy hoạch một tuyến đường giao thông 120 m, 8 làn xe, nối Thánh Thất Tây Ninh tới tận Phnompenh, và đã hoàn thành tuyến đường đó tới biên giới Mộc Bài.
Tuyến đường này sau 1975 bị thu hẹp còn 40m vì bên thắng cuộc ở Việt Nam khi đó tạm thời không hiểu tại sao cần một con đường rộng như thế. Sau 2000, họ hiểu ra, lập đề án mở lại con đường cũ nhưng đến giờ vẫn chưa làm được.
Tuyến đường cao tốc rộng 120 m nối Thánh Thất Cao Đài với cửa khẩu Mộc Bài cho thấy chính sách phát triển Giáo hội Cao Đài của ông Cố vấn Ngô Đình Nhu không nằm trong bộ khung ý thức hệ mà là bộ khung địa chính trị.
Hồi tháng 11, Tổng Bí thư Tô Lâm làm việc với Vùng 5 Hải quân, Cà Mau và Kiên Giang về đề án phát triển Hòn Khoai và Phú Quốc.
Gần như một nửa Bộ Chính trị thường tháp tùng TBT Tô Lâm trong các chuyến công du quốc tế. Còn trong các chuyến công tác quốc nội, ít khi thấy gần như cả Bộ Chính trị tháp tùng Tổng bí thư như vậy.
Nhưng chuyến đi Cà Mau và Kiên Giang hồi tháng 11, giữa trận lũ lụt lịch sử ở miền Trung, thì gần như cả Bộ Chính trị đi cùng. Điều đó cho thấy tính chất “quốc tế” của một sự kiện nội bộ.
Ông Ngô Đình Nhu thập niên 1950s hay ông Tô Lâm hôm nay dù khác biệt về ý thức hệ, thể chế chính trị, trải nghiệm lịch sử, bối cảnh quốc tế và nội bộ, họ vẫn đang tiếp nối cái lịch sử “từ độ mang gươm đi mở cõi, ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long” của Chúa Nguyễn Hoàng.
Khi Chúa Nguyễn Hoàng dẫn vài chục gia nô vượt giải Hoành Sơn, tầm nhìn của ông không bị kẹt trong Tây Nguyên, Champa hay Cửu Long trước mắt, mà là bờ sông Mekong.
Nhìn tấm bản đồ của các bạn Campuchia trong phòng họp với Nga, thấy thêm một góc nhìn lý thuyết để đọc bộ tư liệu trên kệ sách về chính sách Cao Đài của ông Ngô Đình Nhu, bèn khoan khoái vào toilet bấm điện thoại biên cái tút này trong lúc chờ quế hồi dậy mùi trong nồi phở.