Lưu ý: Một: Đức Hộ Pháp lập sắc lịnh nầy vào năm 1936. Số thứ tự là 51 (nhiều vị nghĩ là sắc lịnh nầy lập năm 1951). Hai: Săc lịnh nầy ra đời trước Đạo Luật Mậu Dần (1938) nên chưa dạy Lễ, Nhạc, Đồng Nhi thuộc về cơ quan Phước Thiện. Sắc Lịnh 51 (1936) và Đạo Luật Mậu Dần (1938) không có điểm nào trái nhau hết. BBT Blog.
Hộ-Pháp Đường Số: 51/S.L. |
ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ (Nhứt-Thập
Nhị-Niên) Tòa-Thánh
Tây-Ninh |
SẮC
LỊNH.
Nghĩ vì “Tân-Kinh” là Kinh
Tận-Độ đã ra nên cần nhứt phải có Lễ-Sĩ và Giáo-Nhi dạy mấy em Đồng-Nhi
cho thành thuộc phòng độ rỗi phần linh-hồn cho con cái Đức Chí-Tôn khắp
cả các nơi mà Phướn Đạo đã đủ huyền-vi che-chở.
Nghĩ vì Hội-Thánh mong-mỏi mở rộng
con đường Thánh-Đức cho đoàn hậu tấn bước vào hàng Thánh thể
của Đức Chí-Tôn đặng lập vị.
Nghĩ vì trẻ em Đồng-Nhi từ 11 năm
mở Đạo đến nay trưởng-thành, nên buộc Hội-Thánh định phần phong-thưởng
công-nghiệp.
Nên Sắc-Lịnh từ đây mở khoa mục các
năm cho Lễ-Sĩ và Giáo-Nhi thi cử.
Lễ-Sĩ thi:
Thì mặt Kinh-Luật của Đạo về
phần Quan-Hôn, Tang-Tế, nhứt là Lễ-Nhạc buộc Lễ-Sĩ cho biết một món
đờn trong mấy món Âm-Nhạc, Tam, Tiêu, Tranh, Đản, Kìm, Tì, Cò, Độc.
Giáo Nhi:
Phải thuộc lòng “Tân-Kinh” và cũng
phải thuộc món Âm-Nhạc như Lễ-Sĩ.
Những Đồng-Nhi nam, nữ có đủ giấy
chứng Tòa-Thánh lớn hơn 20 tuổi mới đặng thi Lễ-Sĩ và Giáo-Nhi phải biết viết,
biết đọc chữ Quốc-Ngữ.
Mỗi năm mở khoa thi ngày 15.10
tại Tòa-Thánh Hội-Thánh chia ra hai thứ: Lễ-Sĩ và Giáo-Nhi.
1/. Thi đậu Lễ-Sĩ và Giáo-Nhi hiến thân trọn đời cho
Hội-Thánh, nhứt là Giáo-Nhi đã tuyên-thệ thủ trinh hành Đạo thì sẽ đặng
thuyên-bổ hành-chánh trong các Thánh-Thất bất cứ là nơi nào kể 5 năm
công-nghiệp thì thăng vị Lễ-Sanh khỏi cầu-phong.
Lại nữa Lễ-Sĩ và Giáo-Nhi nầy
trên quyền Chánh-Trị-Sự và dưới quyền Lễ-Sanh nhưng về mặt Lễ, Nhạc, Quan, Hôn,
Tang, Tế mà thôi chứ không đặng dự về mặt Chính-Trị hay Luật-Pháp của Tòa Đạo.
2/. Là hàng Lễ-Sĩ và Giáo-Nhi còn ở tại gia-đình
nhứt là Giáo-Nhi có chồng con, theo thế không đặng vào Thánh-Thất nào mà hành
sự hết, duy hành sự nơi xóm làng của mình mà thôi, lại buộc mỗi năm phải dạy ít
nhất là 36 vị Đồng-Nhi. Lễ-Sĩ thì dạy Nam, Giáo-Nhi thì dạy Nữ chớ không
đặng dạy Nam Nữ lộn xộn chung nhau. Cấm nhặt Lễ-Sĩ không được dạy
Đồng-Nhi Nữ; nếu một năm Chức-Sắc, Chức-Việc sở tại nói rằng dạy thiếu,
không đi hành Đạo thì ngưng chức liền. Hội-Thánh không cần minh-tra lại
nữa, hạng nầy tùng quyền Chánh Trị-Sự, Luật-Pháp và Tòa-Đạo 8 năm công-nghiệp
đổ lên mới đặng cầu phong vào hàng Lễ-Sanh, nhưng do nơi tờ yêu-cầu của
Chức-Sắc và Chức-Việc sở tại mới đặng.
Lễ-Sĩ ăn mặc như Lễ-Sanh nam-phái
nhưng trên mão ngang trán có Tam-Sắc Đạo và Cổ-Pháp của
Giáo-Tông là: Thư-Hùng Kiếm, Long-Tu-Phiến, Cây Phất-Chủ thêu
trên.
Giáo-Nhi ăn mặc Đại-Phục như
Lễ-Sanh nữ-phái nhưng không được dắt bông-sen trên đầu tóc, còn Tiểu-Phục cũng
vậy, nhưng trước ngực có choàng một tấm choàng đen.
Kiểu y-phục nầy do tiệm Linh-Đức
may, vì Lễ-Sĩ và Giáo-Nhi đương thời hành Đạo trong Hội-Thánh và có tờ yêu-cầu
công-nhận chánh-thể rồi.
Hội-Thánh nhứt định cấm ngặt không
ai đặng xưng danh Lễ-Sĩ và Giáo-Nhi không khoa mục cấp bằng của Tòa-Thánh ban
cho đủ lẽ.
Khai-Pháp, Tiếp-Đạo, Tiếp-Thế
Hiệp-Thiên-Đài, Quyền Thái-Thượng, Ngọc-Chánh Phối-Sư và Chủ-Trưởng Hội-Thánh
Ngoại-Giáo, mỗi nơi tùy phận-sự thi hành sắc lịnh nầy.
Lập tại Tòa-Thánh ngày 9.11 Bính-Tý
(Dl: 22 December 1936)
Hộ-Pháp
Chưởng-Quản Nhị
Hữu-Hình Đài
Hiệp-Thiên và Cửu-Trùng
(Ký tên và đóng dấu)
_____________________
Sao lục bản chánh
_____________________
Tòa-Thánh, ngày 9 tháng 7 Mậu-Thân
(Dl: ngày: 02.08.1968)
Chưởng-Quản Bộ Lễ Trung-Ương Tòa-Thánh
Giáo-Hữu
(Ký tên và đóng dấu)
Ngọc Truyện Thanh