Trang

Thứ Tư, 11 tháng 2, 2026

6325. Nguyên lý Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.

Nguyên lý Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.

Ngày 26-01-2026

Khi một em bé cắp sách đến trường, em được học mẫu tự, học ghép vần, học quy tắc đọc - viết cơ bản. Những thứ đó trở thành nền tảng. Sau này dù học cao đến đâu - văn, toán, khoa học, triết học - thì vẫn phải dựa trên nguyên tắc nền tảng đã học từ vỡ lòng. Nó giống như: học toán cao cấp vẫn phải dựa trên cộng–trừ–nhân–chia; học nhạc lý cao vẫn phải dựa trên nốt nhạc cơ bản; học triết học vẫn phải dựa trên logic sơ cấp. Nền tảng không bao giờ thay đổi, chỉ mở rộng.

Bản PDF.

file:///C:/2023%20DXL/.%20000.%202023%20TOAN%20TAP/00.%20VI%20BANG%202023/2026.%20H%C3%94I%20LU%E1%BA%ACN%20GS%20VUONG%20KY%20SON.10.2023/2026-01-28-%20K%E1%BB%B2%202%20NGUY%C3%8AN%20L%C3%9D%20%C4%90%E1%BA%A0O%20CAO%20%C4%90%C3%80I.pdf

Khi tìm hiểu, thảo luận về Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (ĐĐTKPĐ) hay gọi tắt là Đạo Cao Đài chúng tôi nhận ra những điều căn bản. Lấy đó mà suy thì sáng tỏ được nhiều vấn đề về giáo lý, pháp luật và thực tế diễn ra. Cũng từ đó mà chúng tôi nhận ra những lập luận mâu thuẩn và chứng minh nó trái với những điều căn bản trong thiên thơ (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển). Những điều căn bản ấy chính là nguyên lý của ĐĐTKPĐ.

Khi tìm hiểu và thảo luận về Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (ĐĐTKPĐ), nói tắt là Đạo Cao Đài, chúng tôi nhận ra rằng có những yếu tố căn bản làm nền tảng cho toàn bộ giáo lý và pháp luật của Đạo. Những căn bản ấy soi sáng nhiều vấn đề trong giáo lý, pháp luật, Đạo sử và thực tế đạo sự. Cũng từ đó, chúng tôi có thể nhận diện và chứng minh những lập luận mâu thuẫn, trái ngược với những căn bản đã được xác lập trong Thiên thơ (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển). Những điều căn bản ấy chính là các nguyên lý của ĐĐTKPĐ.

Hiểu đúng nguyên lý là điều kiện tất yếu để hiểu đúng về Thể pháp hay Bí pháp.

Bài viết trình bày 03 cặp nguyên lý.

Bản thể & biến hóa (Luân Chuyển Hóa Sanh).

Tam Tài (cấu trúc) & Thiên Nhơn hiệp nhứt (vận hành).

Nhứt bản tán vạn thù (xuất phát) & Vạn thù quy nhứt bản (trở về).

1./- Nguyên lý Âm Dương tương hiệp & Nhất nguyên đa cực.

1.1/- Nguyên lý Âm Dương tương hiệp (hay bản thể).

Đại‑Đạo Tam‑Kỳ Phổ‑Độ thờ Đức Chí Tôn là chủ ngôi Dương; Đức Phật Mẫu là chủ ngôi Âm. Sự phối hợp giữa hai ngôi vị này thể hiện Đạo đặt nền tảng trên nguyên lý Âm Dương tương hiệp. Bản thể của Đạo: Âm và Dương hòa hiệp để vận hành vũ trụ, lập thành Đạo, và làm nguồn gốc cho mọi cơ cấu, mọi phẩm trật, mọi hiện tượng trong Đạo.

Âm Dương không phải hai lực tách biệt, mà là hai mặt của một thực tại duy nhất, liền lạc nhau như ngày và đêm, như hai mặt của một bàn tay. Khi tương hiệp, chúng sinh hóa vô cùng (Luân Chuyển Hóa Sanh), tạo nên mọi hình tướng của vũ trụ và của Đạo. Vì vậy, Âm Dương tương hiệp là nguyên lý bản thể học, là gốc của mọi biến hóa.

https://khoinhonsanh2014.blogspot.com/2014/11/94-uc-tin-ky-su-2-ky-01.html#more

 HÊT TRANG 01

1.2/- Nhất nguyên đa cực (Luân chuyển hóa sanh).

Từ nguyên lý Âm Dương tương hiệp phát sinh nguyên lý Nhất nguyên đa cực: một gốc nhưng nhiều hiện tướng. Đạo chỉ có một nguồn (Nhất nguyên), nhưng khi Âm và Dương vận hành, sự sinh hóa vô cùng làm phát hiện ra vô số cơ quan, phẩm trật, chức năng và hình tướng (đa cực).

Các cơ quan như Bát Quái Đài, Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài; các hệ thống Thể pháp và Bí pháp; Phước Thiện, … đều là những cực khác nhau của cùng một nguyên lý duy nhất. Tuy hình tướng đa dạng, nhưng tất cả đều vận hành theo quy luật Âm Dương — đó chính là Nhất nguyên đa cực.

Âm Dương tương hiệp là nguyên lý bản thể; Nhất nguyên đa cực là nguyên lý luân chuyển hóa sanh (biến hóa). Một gốc nhưng muôn hình, muôn cực — tất cả sự luân chuyển hóa sanh đều không rời Âm Dương.

Nguyên lý biến hóa (Nhất nguyên đa cực) không phải khái niệm trừu tượng; nó được trình bày sống động trong Di Lặc Chơn Kinh qua tiến trình luân chuyển – hóa sanh – tiến hóa của chơn linh. Di Lặc Chơn Kinh chính là bản đồ vận hành của nguyên lý biến hóa: một gốc mà sanh muôn loài, muôn cảnh, rồi cuối cùng quy hiệp trở về cái gốc (quy nguyên).

2/- Nguyên lý Tam tài & Thiên Nhơn hiệp nhứt.

2.1/- Tam Tài (Thiên – Địa – Nhơn): Nguyên lý cấu trúc của vũ trụ và của Đạo

Tam Tài là mô hình cấu trúc ba tầng của vũ trụ: Thiên – Địa – Nhơn. Đại‑Đạo Tam‑Kỳ Phổ‑Độ tiếp nhận nguyên lý này và thể hiện nó trong Thể pháp và Bí pháp của Đạo.

Tam bửu của Trời: Nhật, Nguyệt, Tinh.

Tam Bửu của Đất: Thủy, Hỏa, Phong.

Tam Bửu của người là Tinh, Khí, Thần Cũng nằm trong luật Tam tài.

Tam bửu của Đạo là: Phật – Pháp – Tăng.

Đạo trải 3 thời kỳ: Nhứt kỳ, Nhị kỳ và Tam kỳ.

Hình thể Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có ba đài:

Bát Quái Đài: cõi vô vi, nơi Đức Chí Tôn và chư Thần Thánh Tiên Phật chủ trì (là hồn của Đạo). Trong tam quyền phân lập cầm quyền Lập pháp.

Hiệp Thiên Đài: là bán hữu hình, làm trung gian cho Bát Quái Đài và Cửu Trùng Đài (là chơn thần của Đạo). Trong tam quyền phân lập cầm quyền Tư pháp.

Cửu Trùng Đài: là xác của Đạo, nơi con người hành đạo và xây dựng xã hội hòa bình, dân chủ, tự do. Trong tam quyền phân lập cầm quyền Hành pháp.

Về con người có luật Nhứt thân tam thể.

https://khoinhonsanh2014.blogspot.com/2024/09/5336-vi-bang-3-tim-hieu-kinh-ai-tuong.html#more

HÊT TRANG 02

Đệ nhứt xác thân là xác thân do cha mẹ hữu hình ban cho.

Đệ Nhị xác thân là chơn thần (trí não và tình cảm) do Đức Phật Mẫu ban cho.

Đệ tam xác thân là chơn linh do Đức Chí Tôn ban cho.

Đạo Cao Đài mở ra ba con đường về với Đức Chí Tôn:

. Lập công theo Cửu Thiên Khai Hóa là con đường Hành chánh đạo (Cửu Trùng Đài).

. Lập công theo Thập Nhị Đẳng cấp Thiêng liêng (Phước Thiện).

. Đi hai con đường trên rồi mà còn sức thì đi theo con đường tịnh luyện.

Pháp điều Tam Kỳ Phổ Độ: Tam lập.

Lập công:

Lập đức:

Lập ngôn:

Chánh Trị Đạo có Ba Hội Lập Quyền Vạn Linh: Hội Nhơn Sanh, Hội Hội Thánh và Thượng Hội.

Tam Tài vì vậy là “khung ba tầng” để mọi vận hành của Đạo diễn ra. Không có Tam Tài thì không thể hiểu Tam Đài, cơ bút, phẩm trật hay cơ chế Trời – Người đồng trị.

2.2/- Thiên Nhân Hiệp Nhứt – Trời Người đồng trị: Nguyên lý vận hành trong cấu trúc Tam Tài

Nếu Tam Tài là cấu trúc, thì Thiên Nhân Hiệp Nhứt là cách cấu trúc ấy vận hành. Thiên Nhơn hiệp nhứt thể hiện qua cơ bút, qua tuyển chọn nhân sự hành đạo, lập ra bài bản cho Chánh Trị Đạo (tạo ra kịch bản) để Hành Chánh đạo thục hiện. Nguyên lý này thể hiện Thiêng Liêng (Thiên) và con người (Nhơn) cùng phối hợp để tạo ra và vận hành nền đạo.

Nguyên lý này thể hiện rõ qua cách thức thành lập Đạo Cao Đài và các cơ chế trọng yếu của ĐĐTKPĐ và cách thức vận hành.

2.2.1/- Đạo do cơ bút mà có (Tam Kỳ).

Đức Chí Tôn dùng cơ bút lập ra Đạo Cao Đài.

Thượng Đế dạy ngày 18-1-1927, Đàn tại Đình Mỹ Lộc: Đạo do đâu mà có? Đạo cũng do nơi phàm phát ra, và tiếp lấy cái thiêng liêng của Thầy mà hiệp đồng, mới sanh sanh, hóa hóa, thấu đáo Càn-Khôn. Người mà biết đạo là kẻ hữu phần, còn người chưa thấu đáo nền đạo ấy là kẻ vô duyên... (TNHT Q1, trang 68, bản in 1972)

Theo đó cơ bút do con người (phàm) tiếp lấy những điều thiêng liêng dạy nên đó là 

HÊT TRANG 03

Thiên nhân hiệp nhứt.

Cơ bút là do Thượng Đế và các Đấng thiêng liêng (vô hình) dùng điển quang để truyền dạy qua tâm linh đồng tử (hữu hình), đồng tử viết ra bài bản cho ĐĐTKPĐ. Nó có phần của thiêng liêng và của con người nên đó là thiên nhân hiệp nhất.

ĐĐTKPĐ ra đời để làm chứng trước nhân loại rằng: Có một thế giới vô hình song song với thế giới hữu hình và con người có thể liên lạc, nối kết được với thế giới vô hình. Các Đấng cao trọng nơi thế giới vô hình sẳn lòng giúp con người xây dựng nền văn minh mới.

Ngày 15 - 8 - Quí Dậu (l 4 - 10 - 1933) Đức Hộ Pháp dạy:

Thiên Nhãn là hình trạng của lương tâm toàn thể, làm nền móng cho Cao Đài, nghĩa là đền thờ cao trọng hay là đức tin lớn của Chí Tôn tại thế nầy, y như hai câu thi của Đức Chưởng Đạo Nguyệt Tâm (Victor Hugo):

L’ oeil mystique seul verra la religion nouvelle,
La grande foi gite dans la conscience universelle.

(Có Thiên Nhãn mới tường chánh giáo,
Tín Cao Đài do đạo lương tâm.
)

Thờ Thiên Nhãn là thờ tánh mạng mình và Chí Tôn, nghĩa là thờ lương tâm của toàn thiên hạ (Le culte de la conscience).

Ba Hội Lập Quyền Vạn Linh là phần mới và đặc sắc mà Thầy ban cho để thể hiện Trời Người đồng trị. Đó là Bửu pháp nhân quyền là hạt nhân để chuyển thế.

Thiên thượng: Cơ bút quyết định nhân sự.

Thiên hạ: 03 Hội Lập Quyền Vạn Linh, Hội Nhơn Sanh, Hội Hội Thánh, Thượng Hội viết ra bài bản Chánh Trị Đạo, tuyển chọn nhân sự dâng lên quyền Chí Tôn tại thế và sau rốt dâng lên cho cơ bút quyết định tại Cung Đạo, Đền Thánh.

2.2.2/- Chữ Đạo thời Lão Tử (Nhị kỳ).

Đạo Đức Kinh chương 25, Đức Lão Tử viết:

Có vật từ hỗn độn mà nên,
Sanh trước Trời Đất.
Yên lặng trống không.
Đứng riêng mà không đổi,
Đi khắp mà không mỏi,
Có thể sanh ra vạn vật.
Ta không biết tên gì.
Gọi đó là Đạo.

 HÊT TRANG 04

2.2.3/- Đối chiếu gốc Đạo qua nguyên lý của Nhị kỳ & Tam kỳ.

Đối chiếu lời dạy về nguồn gốc của Đạo do Đức Chí Tôn dạy với Đức Lão Tử viết trong Đạo Đức Kinh chúng ta thấy cùng nói về Đạo nhưng do hai nguyên lý khác nhau nên cách diễn giải cũng khác nhau.

Thời của Lão Tử là nguyên lý của Đạo từ vô vi xuống hữu hình. Mà Ngài là người phàm cảm nhận được cái bản thể của Đạo theo nguyên lý xuất phát từ vô vi (phù hợp với thời văn minh nông nghiệp). Đạo có trước cả Trời Đất, trước khi có con người. Lão Tử chỉ mô tả Đạo ở tầng vô vi, chứ không mô tả Đạo khi đã ứng hiện thành tôn giáo. Nên Ngài cảm nhận bản thể vô vi của Đạo theo nguyên lý của Nhị kỳ.

Thời của Tam Kỳ do nguyên lý Đạo đi từ hữu hình đến vô vi nên Thầy dạy rõ về chữ Đạo bắt đầu từ hữu hình: là do cái phàm phát ra và tiếp lấy cái thiêng liêng; (phù hợp với văn minh điện và điện tử) để tiến đến văn minh tâm linh. Đức Chí Tôn dạy Đạo là cái “đã thành hình để cứu đời”. Đức Chí Tôn mô tả Đạo khi đã ứng hiện vào đời. Đạo của Đức Chí Tôn dạy bắt đầu vạch ra con đường hữu vi để nhân loại bước vào trường học của Chí Tôn để trở về bản thể vô vi.

Hai lời dạy khác nhau là do nguyên lý của hai thời kỳ khác nhau. Đạo bất biến, nhưng cách diễn đạt tùy vào nguyên lý và thời đại.

Hữu vi (hữu tướng) cách biệt với vô vi (vô sắc tướng) vậy nên từ hữu vi muốn vào cảnh giới vô vi phải qua cánh cửa huyền vi (bán hữu hình làm trung gian) do Đức Phật Mẫu dẫn độ.

Phật Mẫu Chơn Kinh, câu 1-4:

Tạo hóa Thiên Huyền Vi Thiên Hậu,
Chưởng Kim Bàn Phật Mẫu Diêu Trì.
Sanh quang dưỡng dục quần nhi,
Chơn linh phối nhứt thân vi Thánh hình
.

Bốn câu kinh dạy: Phật Mẫu là chủ của Huyền Vi. Ngài vận hành Hư Vô Chi Khí để tạo hóa. Ngài dưỡng dục chơn linh để thành hình tướng. Ngài là cửa nối giữa Vô Vi (Đức Chí Tôn) và Hữu Vi (vạn vật)

Cửa Huyền Vi trong Cao Đài không phải khái niệm trừu tượng, mà là chức năng của Phật Mẫu trong cơ tạo hóa; vận hành Hư Vô Chi Khí để tạo hóa vạn vật.

Nguyên lý Tam Tài: Hữu vi – Huyền vi – Vô vi và Thiên Nhân Hiệp Nhứt đã hiện thể rất rõ ràng.

Đạo Đức Kinh, Chương 6, Đức Lão Tử viết:

Huyền tẫn chi môn,
Thị vị Thiên Địa căn.

(Cửa của huyền tẫn là gốc rễ của Trời Đất). Huyền tẫn chi môn là cửa của sự huyền nhiệm sâu thẳm → chính là cửa nối giữa vô vi và hữu vi.

HÊT TRANG 05

Lão Tử nói về cửa huyền tẫn như nguồn gốc của Trời Đất. (Trước đó đã dạy Vô Vi sinh ra Hữu Vi; Đạo sinh ra Trời Đất hay Hữu sinh ư Vô)

Cao Đài dạy Huyền Vi là nơi Phật Mẫu vận hành khí để tạo hóa.

Cả hai đều mô tả một tầng trung gian giữa vô vi và hữu vi.

Cả hai đều xem tầng này là cửa tạo hóa.

Trong giáo lý ĐĐTKPĐ, Hữu Vi – Huyền Vi – Vô Vi là ba tầng hiện hữu. Hữu Vi thuộc hữu tướng, Vô Vi thuộc vô sắc tướng, còn Huyền Vi là tầng trung gian bán hữu hình do Đức Phật Mẫu chấp chưởng. Như vậy đối chiếu lời dạy trong Phật Mẫu Chơn Kinh: ‘Tạo hóa Thiên Huyền Vi Thiên Hậu’ với lời dạy Lão Tử trong Đạo Đức Kinh, chương 6: ‘Huyền tẫn chi môn, thị vị Thiên Địa căn’, tức cửa của huyền nhiệm là gốc rễ của Trời Đất. Xét theo nguyên lý Tam Tài và Thiên Nhân Hiệp Nhứt, lời dạy của Lão Tử tương ứng với lẽ Huyền Vi thời Tam Kỳ Phổ Độ, nơi Đức Phật Mẫu vận hành Hư Vô Chi Khí để nối liền Vô Vi và Hữu Vi.”

3/- Nguyên lý: từ hữu hình đến vô vi.

Đức Chí Tôn dạy ngày 24/10/1926: … Thầy lập Phật giáo vừa khi khai thiên lập địa nên Phật giáo là trước, kế đến Tiên giáo rồi mới tới Nho giáo. Nay Hạ ngươn hầu mãn nên phải phục lại như buổi đầu, nên phải phản tiền vi hậu. Tỉ như lập Tam giáo qui nhứt thì Nho là trước. Lão là giữa. Thích là chót. (TNHT Q 1).

Gọi Tam Kỳ Phổ Độ có nghĩa là đã trải qua Nhứt kỳ và Nhị kỳ phổ độ.

3.1/- Nguyên lý của Nhứt và Nhị Kỳ: Nhứt bổn tán vạn thù (xuất phát); Đạo từ vô vi xuống lần đến hữu hình.

Nhứt bổn tán vạn thù là giai đoạn khai hóa của Đạo để lập ra các nền văn minh.

“Nhứt bổn” là một gốc, tức Đạo – Đức Chí Tôn – Đại linh quang.

“Tán vạn thù” là phân hóa thành tam giáo (là lời dạy của chư Phật, chư Tiên, chư Thánh – Chữ giáo không phải chỉ một tôn giáo), từ ba lời dạy tạo ra rất nhiều tôn giáo, nhiều pháp tu.

Trong Nhứt và Nhị Kỳ, nguyên lý này thể hiện qua:  lời dạy của chư Phật, chư Tiên và chư Thánh “Nho”. Từ lời dạy (chỉ giáo) của các bậc giáo chủ các môn đệ mới lập thành tôn giáo.

Đây là giai đoạn Đạo từ vô vi đi xuống hữu hình, từ một gốc mà hóa sanh thành (tam giáo) với nhiều đường lối giáo hóa (qua các tôn giáo) để phù hợp điều kiện sinh sống của nhân loại theo vùng miền địa lý và phong tục nơi địa phương tạo thành Ngũ chi Đại Đạo là: Nhơn Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo và Phật Đạo.

Nhứt kỳ Phổ độ và Nhị kỳ Phổ độ theo cùng một nguyên lý: Nhứt bn tán vạn thù, và Đạo từ vô vi xuống lần đến hữu hình.

Nhứt bn tán vạn thù: Từ cái gốc là Đức Chí Tôn (đạo) Ngài phân cho các Đấng giáng 

HÊT TRANG 06

trần lập ra tam giáo: Phật giáo, Tiên giáo và Nho giáo (Một cội sanh ba nhánh in nhau); <Phật không phải Tiên, Tiên không phải Thánh nên chữ in nhau trong câu kinh trên có nghĩa là cả ba lời dạy đều xuất phát từ cùng một nguyên lý: giống nhau về nguyên lý: từ vô vi xuống đến hữu hình>. Đồng thời tự thân lời dạy chư Phật, chư Tiên, chư Thánh có nhiều chi phái.

Đạo từ vô vi xuống lần đến hữu hình: khởi thủy Thầy lập Phật giáo trước, sau đó Tiên giáo và Nho giáo là sau chót. Thời kỳ nầy thờ Đấng lớn trước, nhỏ sau. Các bậc giáo chủ giảng thuyết rồi nhiều năm sau đệ tử mới chép lại thành kinh, sách.

3.2/- Nguyên lý Tam kỳ Phổ Độ: Vạn thù qui nhứt bn (trở về), và Đạo đi từ hữu hình đến vô vi.

Vạn thù quy nhất bổngiai đoạn quy nguyên (tam giáo) hiệp nhất (ngũ chi). Đức Thượng Đế đến dạy cho nhơn loại biết rằng tam giáo (lời dạy của chư Phật, chư Tiên và chư Thánh) phát xuất từ một cái gốc là Thượng Đế. Đồng thời Thượng Đế hiệp nhất Ngũ Chi Đại Đạo vào một trường. Tam giáo quy nguyên và Ngũ Chi phục nhất thể hiện trong Tân Luật và Pháp Chánh Truyền của Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ. Chính Thầy nắm chủ quyền của Đại-Đạo.

“Vạn thù” là hình tướng, giáo lý, pháp môn phát xuất từ tam giáo trong hai kỳ trước. “Quy nhất bổn” là trở về một gốc, một Đạo, một chủ quyền của Thầy.

Tam giáo quy nguyên: Phật, Tiên Nho là ba phái Thái, Thượng, Ngọc của Chức sắc Cửu Trùng Đài trong Đại Đạo.

Ngũ chi hiệp nhất: các bậc phẩm trong tôn giáo tượng trương cho Ngũ Chi Đại Đạo (từ Nhơn Đạo đến Phật Đạo).

Vạn thù qui nhứt bn: Thời Tam Kỳ từ cái gốc là Đức Chí Tôn (đạo) chỉ lập một nhánh duy nhất do chính mình Thầy làm chủ.

Thầy dạy ngày 20/2/1926 TNHT Q1: …Cái nhánh các con là nhánh chính mình Thầy làm chủ,…

Đạo đi từ hữu hình đến vô vi, là buổi quay trở về nên bắt đầu từ Nho Giáo (Nho Tông chuyển thế). Cách thờ phượng thì thờ vị có cấp bậc nhỏ trước lớn sau. Lời Thầy hay các Đấng dạy được ghi chép lại liền và phổ truyền cho môn sinh hiểu biết. Lời dạy được ghi chép lại là hữu tự, môn sinh học hiểu, nhập tâm và trình bày ra là vô tự (lập ngôn).

Chơn truyền buổi Nhứt Kỳ và Nhị Kỳ đổi sang thời Tam Kỳ cho nên Kinh Đại Tường câu 3 & 4:

Tái sanh sửa đổi chơn truyền,
Khai cơ tận độ cửu tuyền diệt vong…

Sửa đổi chơn truyền nghĩa là sửa nguyên lý thời Nhứt và Nhị Kỳ Phổ Độ cho phù hợp với thời Tam Kỳ Phổ Độ. Khai cơ tận độ là từ khi Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật về cơ thuyết bài DI LẶC CHƠN KINH. (Năm 1935 cũng là năm Khai thuyền Bát Nhã, Phước Thiện là Bí pháp Đại Đạo được mở ra sau khi lập Thể pháp là Chú Giải Pháp Chánh Truyền)

HÊT TRANG 07

Tóm lại: Nhứt bổn tán vạn thù là nguyên lý xuất phát, khai hóa của Nhứt và Nhị Kỳ, nơi Đạo từ một gốc mà phân hóa thành muôn hình tướng: Đạo từ Vô vi xuống hữu hình.

Vạn thù quy nhất bổn là nguyên lý trở về, hiệp nhất của Tam Kỳ, nơi muôn đường trở về một gốc: Đạo từ hữu hình trở về vô vi.

Ba thời kỳ hiệp lại là hoàn thành chu kỳ Đạo pháp.

4/- Đạo học xưa & nay: Chu kỳ đạo pháp từ Đức Lão Tử đến Đức Cao Đài.

Đức Lão Tử viết Đạo Đức Kinh, chương 25 viết:

. Đạo không thấy được.

. Đạo rất lớn.

. Lớn thì lan ra khắp nơi.

. Lan ra rồi đi xa.

. Đi xa rồi trở về chỗ cũ.

Nghĩa là: Đạo từ chỗ vô hình hiện ra thành muôn vật, rồi muôn vật lại trở về với Đạo.

Lão Tử sống cách nay hơn 2.500 năm, đó là thời văn minh nông nghiệp. Con người suy nghĩ đơn giản, mộc mạc; nói chuyện bằng hình ảnh tự nhiên: nước, trời, đất, gió…

Đến năm 1926, con người trải qua văn minh công nghiệp và bước vào thời văn minh điện và điện tử. Con người biết máy móc, điện, điện tử và khoa học nên suy nghĩ rõ ràng, có lý lẽ, có hệ thống. Cho nên Đức Chí Tôn dạy rõ ràng hơn, dễ hiểu hơn:

Nhứt bổn tán vạn thù → từ một gốc sanh ra muôn loài.

Vạn thù quy nhất bổn → muôn loài rồi trở về một gốc

Đạo từ Trời xuống thế gian, rồi từ thế gian trở về Trời.

Tóm lại: Đạo chỉ có một, nhưng cách nói tùy thời.

Thời Lão Tử → giải thích đơn giản, ví von (Văn minh nông nghiệp)

Thời 1926 → giải thích rõ ràng, có nguyên lý (Văn minh điện và điện tử) để lập nền Văn minh tâm linh.

Nhưng ý nghĩa giống nhau:

Đạo từ vô hình → hiện ra → rồi trở về vô hình.

Đây là quy luật chung của đạo pháp và vũ trụ.

HÊT TRANG 08

5/- Tam giáo quy nguyên và những gán ghép.

Tam giáo là ba hệ tư tưởng của chư Phật, chư Tiên và chư Thánh. Thầy lấy tinh hoa lời dạy của chư Phật, Tiên, Thánh đưa vào ĐĐTKPĐ. Mỗi giáo có nhiệm vụ riêng biệt trong cộng đồng. Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q1.

Tường quang nhứt khí chiếu minh đông,
Tam-giáo qui nguyên giữ cộng đồng.
Phật-Pháp khuyến nhơn quy mỹ-tục,
Nho-Tông phục thế hưởng thuần-phong.
Diệu-huyền Chơn Ðạo tu tông hướng,
Mê hoặc tà mưu khả dự phòng.
Thế thượng dục tri Thiên sứ đáo,
Tam Kỳ Phổ Độ lập kỳ công.

Thầy cũng dạy:

Thiên Thơ dĩ định nhất danh quy,
Tam giáo quy nguyên chỉ thị kỳ.
Đạo thị tối cao vô thế đoán,
Hà nhơn đạm tánh đáo khinh khi.

Thầy không dạy: Tam Giáo Đồng Nguyên.

Thầy không dạy: Vạn Giáo Nhất Lý. (Thầy dạy chữ giáo trong tam giáo là lời dạy của chư Phật, chư Tiên, chư Thánh đã bị chuyển đổi sang chữ giáo là tôn giáo)

Nhiều vị đã đem hai khái niệm trên gắn vào Đạo Cao Đài. Đó là việc làm không chánh đáng./.

Đạo Hữu Dương Xuân Lương.


https://khoinhonsanh2014.blogspot.com/2020/12/3294-khai-kinh-vo-tu.html#more 

 

 HÊT TRANG 09