Trang

Thứ Năm, 19 tháng 2, 2026

6337. Phong Trào Kháng Chiến Trình Minh Thế (Nhị Lang 1985)

 BBT tìm thấy trên internet sách Phong Trào Kháng Chiến Trình Minh Thế của tác giả Nhị Lang viết năm 1985. 

Sách có nhiều chi tiết hiếm có NHƯNG có nhiều điều cần kiểm chứng nên BBT copy lại và đánh số trang chuyển sang bản PDF cho tiện việc kiểm chứng.

Nay kính.


NGUYÊN VĂN.

BBT tạo bản PDF.

https://drive.google.com/file/d/1cCWQ82LY08lkzyblUrcBSLWOduPKzmC7/view

bản vi tính.

Link trên net.

https://vietmessenger.com/books/?title=phong%20trao%20khang%20chien%20trinh%20minh%20the

 

 

 

 

 

 

Nhị Lang






Phong Trào Kháng Chiến Trình Minh Thế










 

Hồi Ký – Ký Sự




 

 

Bản copy ngày 18-02-2026 từ link:

https://vietmessenger.com/books/?title=phong%20trao%20khang%20chien%20trinh%20minh%20the

 

 

 

 

 

 

Viếng Mộ Cố Nhân

TRÌNH MINH THẾ

Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu,

Anh hùng một tiếng để ngàn thu!

Núi Bà, hẹn đuổi quân xâm lược,

Tân Thuận, nào hay cuộc bể dâu?

‘‘Kháng chiến’’ này ư? Dăm phiến đá!

‘‘Liên Minh’’ bao thuở? Mấy hàng lau!

Mưa rừng, gió núi, sinh như tử,

Há thẹn đời trai đất Bến Cầu?

Nhị Lang (1963)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bản copy ngày 18-02-2026 từ link:

https://vietmessenger.com/books/?title=phong%20trao%20khang%20chien%20trinh%20minh%20the

 

LỜI NÓI ĐẦU

Hơn 33 năm trước đây, trong lúc chiến đấu bên cạnh nhà Lãnh tụ cách mạng Trình Minh Thế trong Chiến khu Núi Bà Đen, thuộc tỉnh Tây Ninh, tôi đã ý thức ngay tầm quan trọng của công cuộc mà Trình Minh Thế đang làm. Nên tôi khởi sự biên chép ngay các sự việc xảy ra, hy vọng sẽ để lại cho đời sau một sử liệu hữu ích. Tập bản thảo lúc bấy giờ luôn luôn nằm trên vai tôi, trên bước đường gian truân đấu tranh với giặc cộng và Pháp, và cứ mỗi ngày một dày thêm lên, theo với các biến chuyển của phong trào kháng chiến. Buổi sinh tiền, Trình Minh Thế đã dành cho tập bản thảo ấy một sự nâng niu quý trọng đặc biệt. Ông cắt cử một toán quân ở cạnh tôi, và dặn dò họ đừng bao giờ để mất nó vào tay giặc.

Tôi đã định khi về Saigon sẽ đem xuất bản ngay. Ấy thế mà hồi 1955, khi có điều kiện xuất bản, thì tôi lại phải tự mình đình hoãn lại. Là vì mãi tới lúc ấy, nhận ra cái điều bất tiện. Nếu sách kia ra mắt đồng bào quốc dân ngay thuở ấy, ắt thế nào cũng phải bộc lộ một số dự kiện lịch sử có dính líu gần xa tới ít nhiều nhân vật còn đang tại thế buổi đương thời. Dĩ nhiên là các dử kiện ấy chẳng tốt đẹp gì mà các nhân vật bị dính vào Phong Trào Kháng Chiến Trình Minh Thế lại là bạn của Trình Minh Thế, còn có uy quyền, mà không chính thức ra mặt địch nhân. Ngay cả Tướng Thế cũng khuyên tôi là hãy nên chờ đợi một thời gian cũng không muộn gì.

Không ngờ Tướng Thế mất, tôi buồn lòng bỏ nước ra đi. Lần lần lữa lữa, thấm thoát đã một phần ba thế kỷ qua đi, mà tôi vẫn chưa công bố được gì về cá nhân Trình Minh Thế và về sự nghiệp đấu tranh cách mạng dân tộc của ông. Ngày nay, tuổi đã về chiều, tôi lại được một số bằng hữu khuyến khích hãy nên cố gắng viết lại trang sử cũ, nếu không - như lời họ nói - chắc chắn không còn ai đủ thẩm quyền hơn nói về lai lịch Trình Minh Thế nữa. Thấy lời khuyên hợp lý, tôi lại cầm bút.

Quả như Nhà Văn Cao Thế Dung đã viết, rằng tôi "đã có cái hân hạnh tham gia tổ chức Quốc Gia Liên Minh với hào quang sáng chói của một Trình Minh Thế - người chiến sĩ dân tộc vĩ đại và tiền phong của thập niên 1950 – mà hiển nhiên Lịch sử Dân Tộc tô đậm bằng một thứ vàng son hiếm quý". Tôi thật đã có cái cơ duyên hãn hữu đứng gần Trình Minh Thế trong cuộc kháng chiến 5 năm trong núi rừng Tây Ninh, và đã nắm giữ một vai trò then chốt để có cái nhìn toàn diện về cuộc kháng chiến ấy, và được hiểu biết cả những điều bí ẩn bên trong mà các anh em khác trong tổ chức Liên Minh không tài nào biết được.

Biết mà để dạ cho tới phút cuối cùng thì cũng thiệt thòi cho lịch sử. Mà đã nói ra thì không thể không bộc bạch cho hết mọi khía cạnh vật chất lẫn tinh thần của phong trào kháng chiến, nói với tư cách "chứng nhân" tự thủy chí chung. Vì vậy mà dẫu "cái tôi’’ vốn đáng ghét xưa nay, tôi bất đắc dĩ vẫn phải đem "cái tôi’’ vào trong câu chuyện, ngõ hầu cống hiến một sắc thái sống động chân thực. Cuốn sách này chỉ vẽ lại một bức tranh lịch sử có giới hạn từ năm 1955 - năm ông mất. Tuy nhiên, sau khi Trình Minh Thế từ trần, xét thấy ảnh hưởng của ông còn bao tỏa trên thời cuộc một thời gian tiếp theo, nên tôi có thêm phần "DƯ ÂM" cho câu chuyện được hoàn toàn đầy đủ về mọi khiá cạnh.

Làm sống lại một phong trào tiền tiến, một phong trào bùng dậy giữa ba đối phương "thực, cộng, phong", một phong trào có triển vọng tồn tại vô hạn định nếu không có vấn đề "hợp tác với chính quyền Ngô Đình Diệm", tôi cũng còn mong ước cống hiến cho đồng bào ngày nay chút kinh nghiệm thực tiễn về công cuộc tổ chức đấu tranh, về cách thức nuôi sống phong trào ngay trong những hoàn cảnh bi thảm nhất. Vấn đề kháng chiến đang là đề tài sôi nổi từ trong tới ngoài nước. Mong sao những giòng này tới tay các chiến sĩ quả cảm đang nằm gai nếm mật bên quê nhà, thì riêng tôi cũng cảm thấy hãnh diện rằng đã đóng góp với anh em, nếu không bằng xương bằng thịt, thì cũng bằng chút kinh nghiệm của lớp người đi trước.

Chính vì lòng tôi luôn luôn nghĩ tới các anh em đang chiến đấu bên quê nhà, nên trong cuốn sách này, tôi đã cố gắng diễn tả thật tỉ mỉ các công cuộc phát minh tài tình lỗi lạc của Trình Minh Thế, những phát minh tôi nghĩ sẽ giúp ích rất nhiều cho công cuộc kháng chiến ngày nay. Chẳng hạn như việc chế tạo "time- bomb", như việc thiết lập đài Phát Thanh, như hệ thống "Điện thoại một giây" v.v.

Ngần ngại đắn đo mãi bao nhiêu năm vì lẽ nọ lẽ kia, tới bây giờ cầm bút chép lại chuyện xưa, thì những người trong cuộc hầu hết đã theo chân Trình Minh Thế mà ra người thiên cổ. Như Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, như Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cố vấn Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn, Nguyễn Bảo Toàn, Hồ Hán Sơn, như các Tướng lĩnh Trần Quang Vinh, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Thành Phương (Cao Đài) Trần Văn Soái, Nguyễn Giác Ngộ, Lê Quang Vinh, Lâm Thành Nguyên (Hòa Hảo), và Lê Văn Viễn (Bình Xuyên) v.v … mỗi người một cái chết khác nhau. Tất cả các nhân vật ấy đã họp thành một "Đám Tinh Tú" trên bầu trời chính trị Việt Nam trong thập niên. Và lạ thay, họ đều có liên quan tới Trình Minh Thế cả. Tôi chưa thấy có giai đoạn nào mà lịch sử lại sản sinh ra quá nhiều nhân vật khét tiếng như thế bao giờ.

Chép về Trình Minh Thế, tôi không chủ tâm làm thương tổn uy tín cá nhân ai, dù người ấy còn sống hay đã chết. Chẳng qua vì sự việc xảy ra có dính líu tới họ, nên tôi buộc lòng phải nói tới họ. Dù tốt hay xấu, họ cũng đã làm rồi, họ phải nhận lấy trách nhiệm trước lịch sử. Tôi không thêm, không bớt.

Trọn đời tôi, tôi chưa cảm phục ai bằng Trình Minh Thế. Khi chiến đấu bên cạnh ông tôi mới thực hiểu biết tại sao giống nòi Việt Nam đã có các vị anh hùng áo vải như Quang Trung như Lê Lợi. Chỉ hận rằng Trình Mình Thế vì quá khinh địch mà thác, khiến đời chẳng được nhìn thấy khúc đuôi của " Con Rồng’’ vừa xuất hiện giữa từng mây. Tôi thành thực tiếc thương con người tài hoa ấy.

Mấy trang sách này, tôi coi như một lễ vật dâng lên bàn thờ anh hùng Trình Minh Thế với tấm lòng tưởng nhớ thiên thu.

Mùa Xuân Năm Giáp Tý (1984)

Tác giả cẩn chí.

NHỊ LANG

CHƯƠNG I
CON ĐƯỜNG CHÍNH NGHĨA DÂN TỘC

Đêm mồng 6 tháng 6 năm 1951. Tại Câu lạc bộ Sĩ quan Quân đội Cao Đài, tỉnh Tây Ninh, có một bầu không khí khá tưng bừng náo nhiệt. Ai nấy đều có vẻ trịnh trọng khác thường. Lẫn lộn giữa các quân nhân cao cấp Cao Đài rất dễ phân biệt với chiếc mũ "chào mào", người ta bắt gặp một số đông các vị chức sắc tên tuổi trong Tòa Thánh Tây Ninh, cùng nhiều sĩ quan Pháp với bộ quân phục lễ nghi gắn đầy huy chương trên ngực.

Được biết đó là một tiếp tân trọng thể, chào mừng Đại tá Trình Minh Thế vừa được vị Giáo chủ Cao Đài, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, Chưởng quản Nhị Hữu hình Đài, cử giữ chức Tham Mưu Trưởng Quân Đội Cao Đài, đóng một vai trò trọng yếu thứ hai trong binh lực giáo phái, sau chức Tổng Tư Lệnh do Tướng Nguyễn Văn Thành nắm giữ. Phải đứng vào thời cuộc buổi đương thời, mới thấy địa vị mới mẽ kia của Đại tá Trình Minh Thế, bấy giờ là một thanh niên mới 29 tuổi, quả thật hiển hách phi thường, không dễ ai cũng chiếm được. Và cũng nên đứng vào thời cuộc buổi đương thời để hiểu rằng Miền Nam Việt Nam thuở ấy có hai lực lượng võ trang giáo phái hết sức quan trọng đồi với nền an ninh quốc gia, đó là Quân đội Cao Đài, đặt Tổng Hành dinh tại Bến Kéo, Tây Ninh và Quân đội Hòa Hảo, đặt Tổng Hành dinh tại Cái Vồn, Cần Thơ. Chính quyền Thực dân Pháp cũng như chính quyền bù nhìn Bảo Đại không dám coi thường họ, mà phải chính thức nhìn nhận họ có quyền tổ chức hàng ngũ binh cơ riêng biệt, có quyền tự trị về mọi mặt. Riêng về phía Cao Đài thì Đức Giáo chủ Phạm Công Tắc là vị Chỉ huy Tối cao. Chính Ngài đích thân chọn lựa và bổ nhiệm các chiến sĩ Cao Đài đắc lực vào các chức vụ then chốt của Quân đội Cao Đài, mà sỉ số ước lượng vào khoảng 15 tới 20.000 người, và quyền hạn kiểm soát lan trải trên dưới 13 tỉnh Miền Nam. Mỗi tỉnh có một vị Đầu Tộc coi về mặt Đạo, và một vị Chỉ huy coi về mặt quân sự.

Đại tá Thế từ lâu vốn nổi tiếng liêm trực, nghiêm khắc và nóng nảy. Nóng nảy đến nổi binh sĩ dưới quyền đặt cho ông cái biệt hiệu "Ông Tướng Lửa", nhất là khi hành quân lâm trận, thì sự nóng nảy kia càng trở nên tai hại đối với quân nhân nào vô ý vi phạm quân kỷ. Mặc dù các binh sĩ rất sợ tính nóng của ông, họ vẫn hết lòng kính phục ông, và sẵn sàng theo ông ra trận mạc, vì tin tưởng nơi tài hành quân độc nhất vô nhị của ông, và cái đức hiếm hoi của ông đã cho quân nhà luôn luôn thu đoạt thắng lợi, mà sự thiệt hại về nhân mạng lại thường rất hiếm hoi hoặc không đáng kể. Người tín đồ Cao Đài triệt để tin tưởng nơi "đức độ" vô hình của vị chỉ huy. Họ thường kể ra nhiều trường hợp trong đó một ông chỉ huy thiếu đức đã "nướng" anh em một cách oan uổng trong những cuộc đụng độ tầm thường. Ngược lại, Đại tá Thế, theo lời họ nói, chẳng những không "nướng' anh em mà còn cứu sống anh em một cách thần diệu khi bị đối phương đột kích bất thình lình.

Với tấm lòng cảm phục kính yêu sẵn có, nên trước cái tin Đại tá Thế được cử giữ chức Tham Mưu trưởng, quân nhân các cấp đều nồng nhiệt tán thưởng quyết định sáng suốt của Đức Giáo chủ Phạm Công Tắc, đồng thời tỏ nét vui mừng về sự vững mạnh của Quân đội Cao Đài từ nay đặt dưới quyền điều động của Đại tá Thế. Tiếc thay, Đại tá Thế không sao đáp ứng nổi tấm lòng kỳ vọng kia của những người mà ông hằng mến yêu. Chẳng phải ông có tâm địa phản trắc. Cũng chẳng phải cá nhân ông không xứng đáng với chức Tham Mưu trưởng vừa được tấn phong. Mà chỉ vì ông đã trót chọn con đường riêng biệt, con đường "Thoát ly" khỏi hàng ngũ Cao Đài, con đường hứa hẹn đầy rẫy chông gai hiểm hóc, con đường chính nghĩa phục vụ dân tộc. Mà cuộc tiếp tân đêm nay, đêm mồng 6 tháng 6 năm 1951, chỉ là cái bình phong đánh lạc hướng mọi sự theo dõi, để cho ông rảnh tay thực hiện kế hoạch vĩ đại của mình.

Thực vậy, cuộc tiếp tân kia với bề ngoài huy hoàng quân cách, khiến ai lại chả tin là Đại tá Thế muốn thừa dịp ấy để khoe tên tuổi với đời, nhất là để đè bẹp tham vọng và uy tín của một vài người đồng đội bấy lâu vẫn đố kỵ ông, vẫn âm thầm cạnh tranh với ông về cái chức Tham Mưu trưởng quyền uy rộng lớn, mà cuối cùng đành ôm mối thất vọng vì kém tài kém đức. Nào ai biết cho rằng Đại tá Thế không nuôi cái tâm địa nhỏ nhen của kẻ may mắn gặp thời, nắm được quyền hành cao, địa vị lớn. Trái lại, ông bất đắc dĩ phải đảm nhận vai trò nhằm che mắt thế gian, và cũng để có điều kiện thuận lợi thu thập thêm đồng chí trong hàng ngũ quân đội, vây cánh càng đông thì kế hoạch thoát ly càng khó bị bại lộ. Thành thử cuộc tiếp tân vừa kể trên chỉ nhằm mục đích "cầm chân" một số nhân vật quan trọng bên phía Cao Đài, trước nhất là Tướng Nguyễn Văn Thành, đương kim Tổng Tư Lệnh, và luôn cả một số sĩ quan tình báo Pháp lâu nay tuy bề ngoài vẫn làm mặt thân thiện hợp tác với Đại tá Thế nhưng bên trong vẫn ngấm ngầm theo dõi từng hành động nhỏ nhặt của ông.

Đêm hôm ấy, những ai tinh ý chắc đã phải ngạc nhiên thấy Đại tá Thế biết "uống rượu" như một người sành điệu xã giao, và luôn luôn chuyện trò cởi mở với những người sĩ quan Pháp, qua một viên thông ngôn. Nhưng lạ thay, cứ mỗi lần câu chuyện chấm dứt, thì gương mặt ông lại lộ nét đăm chiêu lo nghĩ. Thỉnh thoảng một sĩ quan Cao Đài làm bộ nâng ly rượu đến cạnh ông, khẽ nháy mắt ra dấu điều gì, và ông kín đáo gật đầu đáp lại. Thì ra, giữa lúc tiệc vui đang tiếp diễn trong căn phòng rộng rãi của Câu Lạc bộ Sĩ quan, thì ngoài kia, dọc theo bờ sông Vàm Cỏ Đông, dưới bầu trời tối mịch, bao nhiêu đơn vị chiến đấu Cao Đài đang âm thầm lặng lẽ qua sông. Như những chiếc bóng ma lờ mờ ẩn hiện, lớp nọ nối tiếp lớp kia dùng những chiếc thuyền nhỏ, chèo vun vút qua bên kia bờ, rồi tiến thẳng về rừng Bù Lu, biến sâu trong rừng rậm, đoạn dùng dao mác mở đường mòn hướng về phía Bưng Rồ là địa điểm chính đã được giao hẹn trước theo kế hoạch.

Đại tá Thế làm sao không đăm chiêu lo nghĩ, khi ông mang trên vai cái trách nhiệm to tát đối với sự thành bại, sự tồn vong của hàng ngàn chiến sĩ Cao Đài đang mạo hiểm mở đường vào chiến khu, xây nghiệp lớn. Các chiến sĩ kia, hoặc đã sống dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Đại tá Thế, hoặc mới vừa được móc nối qua sự trung gian của vài đồng chí thân cận của Đại tá Thế kể từ năm 1951 trở về sau, đến nay đã quyết định chấm dứt con đường hợp tác miễn cưỡng với Quân đội Viễn chinh Pháp, nghe theo tiếng gọi của "Ông Tướng Lửa", bỏ vợ xa con, nhận chịu một cuộc sống mới tuy hiểm nguy bất trắc nhưng hoàn toàn phù hợp với lập trường "Chống cộng, Đả thực, Bài phong"

Thi hành nghiêm chỉnh các kế hoạch đã được chi tiết hóa và được học tập kỹ càng trong thời gian chuẩn bị, một số sĩ quan Cao Đài do Đại tá Thế chỉ định đã hướng dẫn cuộc hành quân ra khu giữa đêm 6/6/51 đến chỗ thành công mỹ mãn, mặc dù Đài tá Thế còn bị vướng chân tại Câu lạc bộ Sĩ quan cho mãi tới lúc nửa đêm. Khi được bí mật báo cáo là "Ngựa đã qua cầu" (ám hiệu của cuộc hành quân), Đại tá Thế bèn lặng lẽ lách mình ra khỏi Câu lạc bộ, rồi tức tốc ra bến sông nơi đã có chiếc xuồng ba lá đang đợi dưới bóng cây, đoạn biến ngay sang bên kia bờ trong nháy mắt. Thế là đâu đấy an toàn trót lọt. Tướng Nguyễn Văn Thành không hay biết gì hết, và ngay cả phía người Pháp cũng không ngờ đêm ấy tình hình Việt Nam vừa xảy ra một biến cố trọng đại. Mỉa mai thay, khi các giới Pháp khám phá ra việc Đại tá Thế rút quân ra khu chống lại mình, thì lại thấy mình quá ngây thơ dại dột, vô tình tham gia buổi tiếp tân, nâng ly rượu "Mừng" một địch thủ lợi hại từ nay không cỏn chịu sự chi phối của chính quyền thực dân nữa!

Đánh lừa được thượng cấp của ông là Tướng Nguyễn Văn Thành, lại đánh lừa được cả giới quân nhân Pháp, Đại tá Thế lấy làm đắc ý, và suốt 5 năm sống ở chiến khu, ông thường nhắc lại chuyện xưa để làm quà cho các "Ông Chính khách thị thành" thỉnh thoảng lần mò vào rừng rú thăm ông, rồi lại biến mất chẳng để lại mối dây liên lạc nào. Tưởng cũng nên nhấn mạnh rằng Đại tá Thế, trước khi được cử giữ chức Tham Mưu Trưởng Cao Đài, cũng đã được nhà cầm quyền Pháp đặc biệt lưu ý tới. Hoặc giả Pháp thành thực kính trọng ông là người có tài năng đảm lược, hoặc giả Pháp nhìn thấy nơi ông hình bóng một địch thủ đáng sợ trong tương lai, nên kể từ năm 1950, đã bao nhiêu lần Pháp ngỏ ý mời ông sang thăm nước Pháp, gián tiếp và khéo léo hứa hẹn nhiều quyền lợi hấp dẫn nhằm mua chuộc ông đứng hẳn về phía họ. Đại tá Thế tiết lộ rằng, ông bị thúc giục quá mạnh, nên phải miễn cưỡng nhận lời mời trên nguyên tắc, rồi cứ khất lần khất lữa cho tới khi ra khu. Trong thời gian ấy, mặc dù Đại tá Thế chưa nói gì với các anh em thân cận về kế hoạch "Thoát ly", nhưng ông vẫn cứ âm thầm ra lệnh cho các đơn vị dưới quyền tìm cách giấu bớt một số vũ khí, quân trang, quân dụng do Pháp cung cấp. Sau mỗi cuộc hành quân, dù lớn dù nhỏ, mỗi Chỉ huy đơn vị phải khai man thêm số vũ khí đạn dược bị thiệt hại. Rồi khi tiếp nhận được nguồn tiếp liệu mới, thì cất giấu hẳn đi con số thặng dư vào những địa điểm bí mật do chính Đại tá Thế chỉ định. Nhờ vậy mà ngay khi mới thành lập chiến khu, binh sĩ nào cũng được võ trang đầy đủ với những loại súng ống còn mới tinh anh. Nhiều hầm vũ khí lúc mới đào lên hãy còn giữ nguyên những chất dầu mỡ, không có món nào bị hư hại cả. Nói về đạn dược thì vô số kể, thừa dùng hàng chục năm chưa hết. Đó là một yếu tố quan trọng nâng cao tinh thần anh em binh sĩ trong cái thế phải đương đầu với hai kẻ thù là Thực Dân và Cộng Sản. Và sở dĩ công cuộc chôn giấu kia tới phút chót vẫn không bị bại lộ, là vì Đại tá Thế cho biết ông không có mục đích vụ lợi cá nhân, mà như ông nói "Quân Đội Cao Đài cần lớn mạnh để quét sạch cộng sản ra khỏi các vùng ảnh hưởng của Cao Đài, mà người Pháp thì không thật lòng giúp đỡ, khiến ta phải tự túc tự cường bằng mọi cách. Vì quyền lợi chung, việc cất giấu vũ khí không phải là một hành động trộm cướp".

Sự tính toán của Đại tá Thế thật nhịp nhàng linh động. Hơn một năm trước, ông đã tiên liệu được cả những gì cần thiết cho một công cuộc trọng đại đang còn thai nghén trong tâm hồn ông. Tài năng và mưu lược của ông đã bắt đầu xuất hiện ngay khi chưa bắt tay vào việc.

Trở lại cuộc hành quân ra khu trong đêm 6/6/51, như trên vừa nói, kết quả được coi như thành công mỹ mãn. Không có sự rủi ro nào xảy ra. Những đơn vị nào đã tình nguyện theo Đại tá Thế đều ra đi trót lọt đúng theo chương trình ngay trong đêm ấy, hoặc những đêm kế tiếp giữa lúc Bộ Tư Lệnh Quân Đội Cao Đài còn đang hoang mang, chưa kịp đặt mạng lưới hữu hiệu. Ấy là chưa kể một số các đơn vị khác đã tự động nối gót theo sau trong mấy tháng cuối cùng năm 1951, hoặc vì cảm phục cá nhân Đại tá Thế, hoặc vì tình "huynh đệ chi binh" mật thiết đối với các anh em đã ra đi trước họ.

Tại rừng Bưng Rồ, ngay trong đêm vừa kể, các toán quân kháng chiến mới chân ướt chân ráo ra khu, đã sống những giây phút khẩn trương. Họ chờ đợi Đại tá Thế trong nỗi phập phồng lo ngại. Nếu chẳng may Đại tá Thế bị ngăn chặn lại vì lẽ này hay lẽ khác, thì đại cuộc kể như sụp đổ hoàn toàn. Đoàn quân kia sẽ như rắn không đầu, ở lại sẽ lâm nguy mà về cũng chẳng còn đường về. Cho nên, lúc chợt thấy bóng Đại tá Thế xuất hiện dưới ánh lửa chập chờn, tất cả các sĩ quan và binh sĩ đều đồng loạt đứng lên, hoan hô nhiệt liệt. Sự thành công tới lúc này mới được coi là thành công thật sự. Nhưng ông cựu Tham Mưu Trưởng Trình Minh Thế không mang theo trên người ông bộ quân phục sang trọng khi ông đứng làm chủ cuộc tiếp tân, mà người ta chỉ thấy ông mang cái vẻ "bần cố nông" với chiếc quần kaki cũ kỹ và chiếc áo Blouson bạc phếch may bằng thứ vải lều cắm trại không biết ông nhặt nhạnh ở đâu mà có như vậy. Việc canh gác tức thì được bố trí cẩn mật và một cuộc Hội nghị Cao cấp được triệu tập ngay tại chỗ.

Trước hết, các sĩ quan có mặt, nhân danh toàn thể binh sĩ dưới quyền họ đồng thanh đưa kiến nghị tấn phong Đại tá Trình Minh Thế, vị Tân Chỉ Huy Tối Cao của họ, lên cấp bực Thiếu Tướng. Viện cớ rằng từ nay các thành phần chiến đấu trong khu không còn tùy thuộc hệ thống Quân Đội Cao Đài nữa, mà phải có riêng một tổ chức lãnh đạo mới cả về mặt quân sự lẫn chính trị. Chức Thiếu Tướng kia vừa xứng đáng với tài năng và công nghiệp cá nhân của Đại tá Thế, lại vừa là một nhu cầu bất khả tranh luận, hơn thế nữa, là một yếu tố tâm lý nhằm nâng cao uy tín của lực lượng võ trang kháng chiến mới thành hình.

Mọi ý kiến đưa ra đều xác đáng cả, khiến Đại tá Thế không viện được lý do nào để từ chối lời đề nghị của anh em. Khi ông lên tiếng chấp nhận cuộc tấn phong, ai nấy xiết đỗi hân hoan, lại cùng đứng cả lên một lượt trịnh trọng chào mừng theo lễ nghi quân cách. Tiếp đó, "Tân Thiếu Tướng" Trình Minh Thế long trọng tuyên bố thành lập "Quân Đội Quốc Gia Liên Minh", là thể theo thâm ý của ông muốn tiến tới một lực lượng kháng chiến võ trang bao gồm tất cả các tổ chức đấu tranh trong nước, với lập trường quốc gia độc lập, đánh đuổi cả Thực dân, Cộng sản lẫn Phong kiến bù nhìn tay sai Pháp. Để đền đáp lại công lao của các chiến sĩ đã hy sinh cả hạnh phúc gia đình để đi theo ông trên con đường chính nghĩa dân tộc, Thiếu Tướng Thế quyết định ban thưởng mỗi quân nhân lên 2 cấp. Kể từ giờ phút ấy, người ta được biết các khuôn mặt then chốt sau đây: - Trung tá Trương Lương Thiện, sung chức Tham Mưu Trưởng Quân Đội Quốc Gia Liên Minh. - Trung tá Cảm Văn Tỵ, sung chức Giám Đốc Quân Y Cục, kiêm Giám Đốc Công Binh xưởng Liên Minh. - Trung tá Trần Minh Triết, tự Trạng, sung chức Giám Đốc Trường Huấn Luyện Quân Sự Liên Minh. - Đại úy Nguyễn Văn Đờn, sung chức Đổng Lý Văn Phòng Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Đội Quốc Gia Liên Minh. - Đại úy Hồ Đức Trung, sung chức Giám Đốc Quân Chính Cục, kiêm Giám Đốc Đài Phát Thanh Liên Minh. - Trung úy Nguyễn Văn Tranh, sung chức Trưởng Ban Quân Lương. - Trung úy Vũ Trãi, sung chức Trưởng Ban Quân Phục.

Về phương diện chiến đấu, các sĩ quan sau đây, với tài năng đảm lược đáng kể, được cử giữ chức các Tiểu Đoàn Trưởng các Tiểu Đoàn Liên Minh: Trung tá Nguyễn Trung Thừa, Trung tá Nguyễn Tấn Mạnh, Trung tá Hà Văn Tình, Thiếu tá Tô Bính Cầm, Thiếu tá Nguyễn Kim Bằng, Thiếu tá Nguyễn Văn Của. Thiếu tá Lê Phước An đặc trách cơ quan tình báo.

Ngoài ra, còn một sĩ quan khác sắp giữ một vai trò lãnh đạo nhất nhì trong Quân Đội Quốc Gia Liên Minh, nhưng không có mặt trong cuộc họp lịch sử tại rừng Bưng Rồ. Đó là Trung tá Văn Thành Cao, vị sĩ quan này nguyên là Chỉ Huy Trưởng Quân Đội Cao Đài tại Sa Đéc. Ông không thể ra khu cùng một ngày với các đơn vị khác vì được lệnh riêng của Thiếu Tướng Thế phải ở lại thi hành cho xong một công tác đặc biệt. Ấy là vụ tổ chức ám sát tên Trung Tướng Pháp Chanson và viên Đại biểu Chính phủ Thái Lập Thành, khi hai tên này cùng sát cánh nhau trong một chuyến kinh lý Miền Tây. Thi hành xong công tác, Trung tá Văn Thành Cao tức tốc biến vào khu, được thăng 2 cấp từ Đại úy lên Trung tá theo quyết định chung vừa nói ở đoạn trên, và được bổ nhiệm chức Phó Tổng Tư Lệnh Quân Đội Quốc Gia Liên Minh, được quyền thiết lập hành dinh riêng biệt tại rừng Doi Da nằm trong phạm vi chiến khu Bù Lu.

Cũng chính tại cuộc Hội Nghị Bưng Rồ, các cấp đã đi đến một số các quyết định như sau: Quân đội tác chiến được tổ chức tới cấp Tiểu Đoàn là cao nhất. Áo dụng tam tam chế, mỗi Tiểu Đoàn gồm 3 Đại Đội, mỗi Đại Đội gồm 3 Trung Đội ...v.v. Bộ Tông Tư Lệnh được bảo vệ bởi một Đại đội đặc biệt, chịu quyền chỉ huy trực tiếp của Thiếu Tướng Thế trên danh nghĩa nhưng trên thực tế lạ do Đại úy Đổng Lý Văn Phòng Nguyễn Văn Đờn điều động. Về cấp hiệu các sĩ quan, thì từ Thiếu úy lên Đại úy, vẫn dùng 1,2,3 gạch vàng đeo trên vai như Quân đội Pháp, nhưng từ cấp Thiếu tá lên Đại tá thì hình thức lại khác hẳn. Thiếu tá có một gạch vàng kèm theo một ngôi sao năm cánh đặt trên nền đen. Trung tá, 2 gạch vàng và Đại tá, 3 gạch vàng với ngôi sao. Việc thăng thưởng ít nhất phải 3 năm một lần, trừ trường hợp đặc biệt thì không kể.

Mặt khác, Thiếu Tướng Thế loan báo cho mọi người biết là trước khi rút quân ra khu, ông đã bí mật soạn thảo một bức "Tâm Thư" dịch ra ngoại ngữ Anh và Pháp gởi cho tất cả các Phái Bộ Ngoại Giao tại Sài Gòn, trong đó ông vạch trần các lý do khiến ông bắt buộc phải tự nguyện hy sinh "Mở đường cho một công cuộc nổi dậy của toàn dân Việt nhằm đánh đổ âm mưu tái lập nên đô hộ của người Pháp, và loại trừ bè lũ Cộng sản phản quốc hại dân". Và ông kêu gọi các quốc gia trong thế giới yêu chuộng hòa bình tự do (bấy giờ chưa có danh từ Thế giới Tự do) hãy cảm thông cho những đòi hỏi chính đáng của dân tộc Việt Nam, mà vui lòng ủng hộ phong trào kháng chiến giành độc lập do ông lãnh đạo. Bức thư kia, theo ông nói, "Hiện giờ này đã được các đồng chí của chúng ta ngoài thành đệ đạt tới các Phái Bộ Ngoại Giao rồi".

Cuộc Hội nghị lịch sử Bưng Rồ kéo dài cho tới khi trời vừa sáng. Và như thế là bên trong, quân tướng Liên Minh hả hê với cái mộng đầu đội trời chân đạp đất, thảnh thơi một mình một cõi từ nay. Còn bên ngoài thì một tiếng nổ chính trị vừa phát ra một cách đột ngột và dữ dội, khiến người Pháp không thể không giật mình sợ hãi!

 

CHƯƠNG II.
GIAI ĐOẠN CỦNG CỐ CHIẾN KHU

Thoát mình ra khỏi vòng vây kìm kẹp và sự theo dõi thường trực của người Pháp đã là khó. Nhưng cái khó ấy đã vượt qua rồi. Bây giờ tới việc nuôi nấng và duy trì cho đoàn quân kháng chiến "trứng mỏng" kia khỏi bị bóp vỡ ngay buổi đầu, lại càng là một sứ mạng hết sức nặng nề, khó khăn đối với Thiếu Tướng Trình Minh Thế.

Thành thực mà nói, cho mãi tới cái lúc "Ngựa đã qua cầu" trong đêm mùng 6 tháng 6 năm 1951, nào ai biết Trình Minh Thế là người nào? Ngoài các binh sĩ Cao Đài thân cận ra, cái tên Trình Minh Thế hãy còn quá xa lạ đối với các chính khách Việt Nam. Nhưng bây giờ thì cái tên ấy đã bắt đầu gây sóng gió, và được dư luận nhắc nhở tới. Nguồn tin có tính cách bình dân mang bốn chữ "Cao Đài ra khu", tuy bị nhà cầm quyền Pháp và bù nhìn tay sai cấm đoán phổ biến trên báo chí, nhưng nó vẫn đã có con đường riêng của nó để đến tai mọi giới. Khắp đó đây, thiên hạ xì xào bàn tán. Ngay cả Thủ đô Hà Nội cũng rúng động. Người đất Bắc tuy xa xôi, nhưng cũng đã biết chuyện một cách nhanh chóng, và biết với tấm lòng ngưỡng mộ và kính phục một chiến sĩ giáo phái dám làm nên chuyện.

Kể từ ngày ngụy quyền Cộng sản Hồ Chí Minh chính thức mời Pháp đặt chân trở lại trên toàn cõi Việt Nam, để hợp lực với chúng tiêu diệt hàng ngũ quốc gia. Hỏi có chính khách nào, có đoàn thể nào không cảm thấy căm hận? Không muốn làm "một cái gì" cho đất nước? Tuy nhiên, cái ý muốn kia họa hoằn chỉ tiềm tàng trong trí nghĩ, khó nổi thực hiện được. Sau đêm kháng chiến toàn quốc 19/12/1946, mặc dù tập đoàn Cộng sản Hồ Chí Minh thất thế chạy trốn lên miền rừng núi Việt Bắc, và mặc dù sự liên kết thực cộng không còn nữa, hàng ngũ quốc gia cũng chẳng biết phải làm gì. Vì lẽ, trong vùng kiểm soát của Cộng sản, họ bị vướng chân bởi chiêu bài "Kháng chiến chống Pháp" mà bọn Hồ Chí Minh nhai nhải rêu rao, nhằm lôi kéo đồng bào quốc dân theo chúng. Khiến bất cứ cá nhân nào âm mưu đánh đổ chúng đều bị lên án phản quốc, Việt gian, chắc chắn bị dư luận phỉ nhổ. Còn trong phần đất ảnh hưởng Pháp, họ càng không thể hoạt động tích cực dưới hai cái ách thực dân và bù nhìn. Những kẻ có quyền lại chính là những kẻ phản bội tổ quốc hơn ai hết.

May mắn thay, cá nhân Trình Minh Thế, vừa có binh quyền trong tay lại vừa có lòng ái quốc gương mẫu không ai chối bỏ được, nên mặc nhiên đã trở thành "Mẫu người lý tưởng", thực hiện giùm cái mộng "chống cộng, đả thực, bài phong" lâu nay vẫn đốt cháy tâm can bao nhiêu chiến sĩ quốc gia chân chính. Do đó mà việc Trình Minh Thế rút quân ra khu được coi là một biến cố lịch sử trọng đại, được đánh giá rất cao, ngang hàng với các phong trào văn thân Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám thuở xưa.

Chẳng nói ai cũng biết, người căm giận Tướng Thế nhiều nhất là ông Tướng Nguyễn Văn Thành, đương kim Tổng Tư Lệnh Quân Đội Cao Đài, thượng cấp cũ của Tướng Thế. Trung Tướng Nguyễn Văn Thành, theo dư luận chung của binh sĩ Liên Minh trước kia thuộc quyền ông, là một con người "sắt máu", mang trong huyết quản quá nhiều quân nhân tính để trở nên độc tài, hách dịch. Ông vốn xuất thân là một người thợ hồ với cái thời niên thiếu rất tăm tối. Trong cuộc đời binh nghiệp trong phạm vi giáo phái, ông đã tiến thân rất nhanh chóng và được Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc tín nhiệm, đặt vào ngôi vị cao nhất trong Quân Đội Cao Đài.

Tòa Thánh Tây Ninh có xu hướng bảo hoàng, suy tôn Kỳ Ngoại Hầu Cường Để. Vì vậy mà Tòa Thánh giữ lập trường ủng hộ chính quyền Bảo Đại, sau khi Bảo Đại từ Pháp trở về hồi tháng 10 năm 1949 để giải tán chính phủ lâm thời Nguyễn Văn Xuân, rồi hoặc đích thân cầm đầu chính phủ, hoặc giao cho những người kế tiếp như Nguyễn Phan Long, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, Bửu Lộc làm Thủ Tướng. Riêng Tướng Nguyễn Văn Thành thì lại có lập trường thân Pháp rõ rệt. Ông từng được Pháp mời sang Paris thăm viếng. Đối với Tướng Thế, tuy ông vẫn gọi thân mật bằng em, bằng chú, nhưng trong thâm tâm ông chẳng ưa Thế, vì lẽ vì thấy người "Em út" trẻ tuổi này có tài năng quân sự xuất chúng, có thể sẽ trở nên một địch thủ lợi hại về sau.

Chúng ta nên biết trong nội bộ Cao Đài, ngoài cái kỷ luật quân sự khá cứng rắn noi theo tác phong Quân Đội Nhật Bản mà Quân Đội Cao Đài chịu ảnh hưởng khá nặng về phương diện tổ chức và lãnh đạo, lại còn cái tình đồng đạo ràng buộc binh sĩ với nhau một cách gắn bó. Cho nên, một mặt các sĩ quan Cao Đài phải kính cẩn gọi thượng cấp của mình bằng "Ngài", mặt khác trong tình riêng, họ còn gọi nhau bằng anh, bằng chú nghe như ruột thịt trong một gia đình vậy. Thế dẫu không ưa Thành vì cái lập trường quá thân Pháp của ông ta, nhưng Thế vẫn rất mực kính nể Thành ngay cả khi vắng mặt, không bao giờ dám dùng những lời khiếm lễ đối với người anh cả trong quân đội.

Ngay sau khi biết tin Tướng Thế ra khu, kéo theo cả một số quân quan trọng làm cho thế cục Quân Đội Cao Đài bị sứt mẻ trầm trọng, Trung Tướng Nguyễn Văn Thành đùng đùng nổi giận. Một mặt, ông vội vàng phúc trình lên Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, mặt khác ông triệu tập ngay một phiên họp quân sự khẩn cấp để đối phó với tình hình mới. Chỉ ít lâu sau, theo đề nghị của ông, Đức Hộ Pháp bổ nhiệm Đại tá Đ.Q.D thay thế chức Tham Mưu Trưởng Quân Đội Cao Đài đang bị bỏ trống. Cơn giận nguôi đi rồi, Trung Tướng Thành lại nghĩ cách thuyết phục Tướng Thế trở lại hàng ngũ. Mặc dù sự xích mích giữa đôi bên quá lộ liễu, Tướng Thành vẫn ỷ mình là bậc đàn anh, không ngại hiểm nguy bất trắc, thân hành vào khu thăm Tướng Thế mấy bận. Nhưng Tướng Thành đã thất bại hoàn toàn, đành ra về với nổi hậm hực, cái hậm hực đã biến thành những hàng động tai hại, dẫn dắt tới một số biến cố đau thương sau đó.

Về phần Tướng Thế, ông có bổn phận củng cố ngay hàng ngũ trong một thời gian ngắn. Lập trường đã được phổ biến, dư luận khắp nơi đều biết. Kẻ thù tam tứ diện, nào thực dân, nào cộng sản, nào bù nhìn tay sai Pháp, lại thêm mối ác cảm của người anh đồng đội như đã nói trên. Tình thế ấy quả thật nguy hiểm khôn lường. Pháp dĩ nhiên là không tha thứ cho hành động tày trời của Tướng Thế. Thậm chí Pháp đe dọa là sẽ đưa Tướng Thế ra Tòa án Quân sự nếu bắt được, và nhất định sẽ lên án tử hình khiếm diện người chiến sĩ họ Trình. Sự phản ứng dữ dội kia của Pháp vô tình làm cho danh nghĩa của Tướng Thế càng thêm sáng chói, và càng khiến dư luận trong nước Việt Nam đổ dồn về ông một cách tốt đẹp. Tuy nhiên, ta không thể xem thường quyết định của Pháp trong những ngày sắp tới, và chính Tướng Thế cũng biết ông sẽ phải đương đầu với kẻ thù lợi hại như thế nào rồi. Còn đối với Cộng sản, thì sự đụng độ lưu huyết chắc chắn sẽ xảy ra ngày một ngày hai. Vì lẽ đoàn quân kháng chiến của Tướng Thế đã dàn trải ra ngay trên các vùng rừng rú xưa nay vốn là sào huyệt của bọn du kích cộng sản địa phương. Chẳng khác nào ông dẫm chân ngay trên yết hầu của chúng, khiến chúng phải ngạt thở.

Dù sao chăng nữa, cả Pháp lẫn Cộng sản đều cần một thời gian để thăm dò thực lực của quân cách mạng. Và khoảng thời gian chiến lược ấy tạm coi là đủ cho Tướng Thế chỉnh đốn hàng ngũ, củng cố chiến khu. Rủi cho đoàn quân cách mạng là vừa rút ra rừng lại gặp phải mùa mưa. Trong Nam, mùa mưa thường bắt đầu vào khoảng tháng 5, tháng 6 âm lịch. Mưa liên tiếp ngày đêm, mưa dữ dội. Nhất là những cơn mưa rừng ven miền biên giới Miên Việt thì quả là một thứ kỷ niệm chua chát đối với kẻ chấp nhận cuộc đời ăn gió nằm sương. Nước lũ từ phía Cao Miên đổ về, chảy tràn qua rừng rú, ngập tới thắc lưng. Muỗi mòng sinh sôi nảy nở không sao kể xiết được. Loại muỗi đòn xóc bay ngập cả bầu trời, tạo thành một bức màn trăng trắng như sương. Thậm chí cứ đưa tay ra là có thể bắt được một lúc dăm ba con muỗi với đôi cánh cứng và nhám như cánh ruồi. Ban đêm, dù nằm màn, chèn kỹ tới đâu, sáng ra vẫn bắt gặp trong góc mỗi màn một số muỗi đáng ghê sợ, con nào cũng mập tròn những máu, tiết ra cả mùi máu người tanh hôi. Nhìn lại đôi đầu gối và khuỷu tay, ôi thôi, lốm đốm hàng trăm nốt đỏ vì muỗi đốt. Thế là chỉ dăm ba bữa, bệnh sốt rét rừng nổi lên dữ dội quật ngã con bệnh. Không gì buồn cười hơn là giữa ban ngày, bạn hữu muốn trò chuyện với nhau phải ngồi trong màn mà nói. Còn các quân nhân lo việc văn phòng, cũng phải đem máy đánh chữ vào màn ngồi gõ lách cách.

Nổi khổ cực vì mưa, vì muỗi kia, xét ra có cái rủi mà cũng có cái may cho đoàn quân cách mạng. Vì phía Cộng sản, binh đội chúng cũng sống trong cảnh tê liệt, không dám liều mình đi quấy rối. Còn phía Quân đội Viễn chinh Pháp, chắc cũng chẳng có anh nào dám hy sinh mạo hiểm đưa mình vào giữa chốn rừng sâu ngập nước, để phải tan xác vì những quả mìn được khéo léo chôn kín dưới những con đường mòn, hoặc treo lủng lẳng trên các cành cây rậm lá, mà những cơn mưa lũ càng làm cho lá gấp lại, che kỹ mìn, cho luôn cả những đường dây điện li ti được giấu kỹ sau lớp vỏ cây. Tạm lập Tổng hành dinh tại Bưng Rồ trong mấy hôm, sau đó Thiếu Tướng Trình Minh Thế bèn quyết định dời cơ sở Trung Ương xuống phía Nam, ở khoảng giữa khu rừng Bù Lu (Tiếng Miên có nghĩa là Rừng Trầu). Sau này cả khu chiến nằm dọc theo biên giới Miên Việt được gọi chung là chiến khu Bù Lu, nhằm phân biệt với Chiến Khu Núi Bà Đen được thiết lập khoảng 2 năm sau đó. Bộ Tư Lệnh gồm một căn nhà ba gian lợp tranh, cột kèo đều bằng cây rừng cong queo, và với dãy sạp dài dùng làm giường ngủ chung cho nhiều người, được kết bằng những mảnh thân cau rừng chẻ làm đôi và ghép liền nhau lại bằng một thứ dây rắn chắc gọi là dây "cổ rùa". Riêng Tướng Thế được anh em binh sĩ thương yêu, "đặc cách" lập cho một chỗ ngủ kiêm văn phòng, được ngăn cách hẳn ra bằng mấy tấm tranh lởm chởm. Cạnh Bộ Tư Lệnh là một gian nhà tranh khác, nơi làm việc của các quân nhân dưới quyền Đổng Lý Văn Phòng Nguyễn Văn Đờn. Và phía sau Bộ Tư Lệnh là một dãy nhà dài dành riêng cho Đại Đội Hộ Vệ.

Các cơ sở trung ương gồm có một trường Huấn Luyện Quân Sự rất rộng lớn và tổ chức có quy mô, ở gần Bộ Tư Lệnh. Một Đài Phát Thanh thiết lập cách đó chừng một cây số đường rừng. Một Cục Quân Y (hay Dưỡng Đường), và một Ban Quân Phục.

Trường Huấn Luyện Quân Sự đặt dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Trần Minh Triết, tự Trạng. Trường được tổ chức và điều hành theo đường lối Nhật Bản, với kỷ luật hết sức nghiêm minh và cách thức huấn luyện cũng hết sức cứng rắn, nặng nhọc. Sáng nào sinh viên cũng được đưa ra ngoài bãi đất trống tập thể dục, đánh vật, chơi bóng chuyền. Thường thường vào lúc nửa đêm, trường tổ chức báo động giả để soát xét lại phản ứng của sinh viên trong hoàn cảnh du kích. Trường cũng có đào tạo một số nữ cán bộ, sau khi tốt nghiệp được phân phối đi hoạt động khắp nơi.

Cục Quân Y do Trung Tá Cảm Văn Tỵ điều khiển. Ông này vốn là một Đông Y sĩ có tiếng tăm tại Tòa Thánh Tây Ninh thuở trước. Chẳng những có tài chữa bệnh theo hai phương pháp Đông và Tây y, mà lại thêm tài chế chất nổ, làm bom đạn khá tinh vi khéo léo. Binh sĩ Liên Minh bị thương tích được đem về đây chăm sóc trong những căn nhà dài lợp tranh. Thuốc men luôn luôn có đủ, do tổ chức liên lạc ngoài thành cung cấp. Dưới quyền Trung Tá Tỵ có khoảng 20 cán bộ y tế gồm cả nam lẫn nữ. Khi cần di tản chiến thuật, thì các cán bộ kia phải đảm trách việc khiên bệnh nhân bằng võng xuyên qua rừng, qua núi rất là khó nhọc. Sau này, vì nhu cầu chiến trường, tại cả hai chiến khu Bù Lu và Núi Bà Đen đều có Dưỡng Đường riêng, lại có thêm một Y sĩ chính thức tên là Nguyễn Văn Sĩ, vốn từ hàng ngũ đối phương về gia nhập Kháng Chiến Liên Minh và phục vụ bệnh nhân một cách tận tụy, đắc lực. Ông Y sĩ này là con người vui tính, đã có lần vì hoàn cảnh bắt buộc, ông phải dùng cưa sắt cưa chân một binh sĩ vô ý giẫm phải mìn, mong cứu sống anh ta khỏi chứng phong đòn gánh. Nhưng thất bại, vì vi trùng Tétanos hoành hành quá nhanh, binh sĩ kia quằn quại kêu la rồi chết, khi thuốc điều trị Testanos gởi mua từ Sài Gòn chưa về kịp.

Ban Quân Phục có nhiệm vụ cung cấp quần áo cho binh sĩ, được giao cho Trung Sĩ Vũ Trãi điều hành. Ban này cũng có nhiều nữ cán bộ giúp sức, và cũng phải gánh chịu một công tác nặng nhọc là khiêng máy may qua rừng, qua núi mỗi khi cần di tản chiến thuật. Binh sĩ Liên Minh được cung cấp quân phục bằng vải đen, không hạn chế bao nhiêu, cứ hể cũ rách là được thay thế bằng quần áo mới.

Vì hoàn cảnh du kích, các vị Chỉ huy Tiểu Đoàn và Đại Đội được quyền uyển chuyển di động căn cứ, nên không tiện nói rõ ở đây. Có điều là các vị Chỉ huy ấy đều được lệnh phải tích cực đề phòng và chuẩn bị nghênh địch ngay trong những ngày đầu tiên mới lập chiến khu.

Vừa tạm yên công cuộc tổ chức nội bộ, Tướng Thế đã nghĩ ngay tới vấn đề chính trị hóa Quân Đội Quốc Gia Liên Minh. Như ai nấy đã biết, Tướng Thế không dám trông cậy nhiều ở đoàn quân tương đối nhỏ bé của mình để đi đến kết quả mong muốn đoàn quân tương đối nhỏ bé của mình.

Đoàn quân ấy đã đành là cần thiết để bắt buộc các đối phương phải kiêng nể. Tuy nhiên, nó vẫn có tính cách tượng trưng, và một tướng lãnh du kích ắt không bao giờ nỡ đem xài phí thực lực, nó hy sinh tính mạng anh em binh sĩ, trừ trường hợp bất khả bất nhiên. Nghĩa là chiến tranh du kích cần phải bảo vệ chủ lực. Thế cho nên, Tướng Thế cảm thấy không thể thiêú sót một tổ chức chính trị bao trùm lên trên lực lượng quân sự, để gây thêm thanh thế bên ngoài, đánh mạnh thêm những tiếng chuông báo động dư luận và cảnh tỉnh các kẻ thù dân tộc, khiến chúng phải biết rằng hàng ngũ quốc gia ái quốc Việt Nam không phải hoàn toàn mơ ngủ. Rút kinh nghiệm ở các tổ chức hiện hữu khác, như Cao Đài có thêm Việt Nam Phục Quốc Hội, như Hòa Hảo có thêm Việt Nam Dân Xã Đảng, Tướng Thế cũng muốn rằng Quân Đội Quốc Gia Liên Minh phải có thêm một tổ chức nào đây đứng làm hậu thuẫn trực tiếp cho công cuộc đấu tranh chính nghĩa của ông.

Sau một thời gian vận động tích cực, với sự tiếp tay nồng nhiệt của bao nhiêu bằng hữu hoặc chính khách ngoài thành, ngày 20 tháng 8 năm 1951, nghĩa là chỉ cách chừng 3 tháng sau khi rút quân ra khu, một cuộc Hội Nghị Đại Biểu Quốc Gia rộng lớn đã được triệu tập tại Gò Ngải, nơi tạm gọi là tiền đồn của chiến khu Bù Lu, ở về phía hữu ngạn con sông Vàm cỏ Đông và đối diện với Bến đò Cẩm Giang, trên khoảng đường Gò Dầu Hạ - Tây Ninh. Những người được uỷ thác tổ chức và chịu trách nhiệm an ninh cho cuộc Đại Hội kia là Đại Uý Nguyễn Văn Đờn và Đại Úy Hồ Đức Trung, vốn là hai nhân vật thân tín nhất của Tướng Thế.

Trong số các Đại biểu tham dự Đại Hội, người ta thấy có nhiều nhân vật chính trị và cách mạng tên tuổi, như Vũ Hồng Khanh, Xuân Tùng, Trần Văn Văn, Bác Sĩ Nguyễn Xuân Chữ, Chế Công Tiên, Nguyễn Đại Thắng, Hoàng Nam Hùng, Đỗ Đình Đạo, Nguyễn Văn Tường, Trương Khánh Tạo, Phan Quang Bổng, Nguyễn Chử, v.v. Tóm lại, là hầu hết các giới xưa nay vẫn chủ trương chống cộng, chống Pháp, đều có mặt. Qua hai ngày bàn cãi thật sôi nổi, Đại Hội đã đi đến quyết định thành lập một tổ chức Cách mạng mới lấy tên là "Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến Việt Nam". Nhờ danh nghĩa kháng chiến đã quá rổ rệt, chứ không còn là một sự bịp bợm (qua hành động cùa Tướng Thế), nên ai nấy mạnh dạn đòi hỏi lồng danh từ "Kháng chiến" vào trong tổ chức. Kể từ cuộc kháng chiến toàn quốc hồi tháng chạp năm 1946 cho tới lúc này, quả thật chưa có một cuộc Hội nghị nào mà người tham dự cảm thấy chính nghĩa đấu tranh sáng tỏ bằng lần này. Sự hy sinh của mọi người được biểu lộ qua việc họ liều lĩnh xông pha, xem thường sự theo dõi của Pháp và bù nhìn, dấn thân vào một vùng đất tràn đầy hiểm nguy bất trắc.

Nên nhớ rằng cá nhân Trình Minh Thế đã trở thành kẻ thù công khai của nhà cầm quyền Pháp, mà cuộc Đại Hội kia lại được triệu tập ngay trong phạm vi chiến khu của Tướng Thế, tất nhiên là Pháp không thể không biết tới. Vì vậy mà dù muốn dù không, Tướng Thế cũng phải ý thức rằng các chính khách ngoài thành mạo hiểm vào khu tham dự Đại Hội không thể có thái độ dứt khoát như ông, mà phải đuợc dành cho ít nhiều dè dặt, sợ lúc trở về sẽ gặp nhiều rắc rối khó khăn với Pháp. Từ chỗ cảm thông đó, ông luôn luôn chấp nhận những đường lối dung hòa nhằm bảo vệ an ninh chung cho anh em đồng chí. Kết cuộc, Đại Hội bầu ra một Ban Chấp Hành Trung Ương Mặt Trận, mà Chủ Tịch là chiến sĩ Trần Thành, một thanh niên trẻ tuổi ít tiếng tăm, nhưng đầy nhiệt huyết. Hầu hết các Uỷ viên trong Ban Chấp Hành đều dùng bí danh. Ngoại trừ hai nhân vật là Chế Công Tiên và Nguyễn Đại Thắng công khai và quả cảm nhận lấy vai trò vận động ngoại giao và tổ chức. Về phiá quân nhân, Tướng Thế khiêm tốn nhận chức vụ Ủy Viên Quân Sự, và Đại Uý Hồ Đức Trung được tín nhiệm chức Ủy Viên Thông Tin và Tuyên Truyền.

Kế từ đó, dưới danh nghĩa Mặt Trận, anh em Liên Minh chiến đấu dưới ngọn cờ mới nền đỏ, giữa có sọc xanh và ngôi sao trắng 6 cánh, tượng trưng cho các giới quần chúng: "Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh, Tăng". Đồng thời anh em cũng có một bài quân ca riêng biệt được dùng chính thức trong các cuộc lễ nghi quân cách. Ngọn cờ kia, bài quân ca nọ, ai ngờ đã chính thức đi vào lịch sử. Nguyên do là khi Thủ Tướng Ngô Đình Diệm thân hành vào chiến khu mời anh em Liên Minh về hợp tác, anh em đã đòi hỏi, và Thủ Tướng cũng đã chấp thuận, rằng trong buổi lẽ hợp tác tại Saigon, anh em Liên Minh được quyền chào biệt lần cuối cùng ngọn cờ kia với bản quân ca của họ, Thủ Tướng Diệm bèn hạ lệnh cho ban Quân Nhạc phủ Thủ Tướng học tập trình tấu bản quân ca, và sắm một lá cờ Liên Minh thật tọ lớn dành cho buổi lễ hợp tác. Thế là buổi sáng hôm 13 tháng 2 năm 1955, tại đường Nguyễn Huệ Saigon, ban Quân Nhạc Phủ Thủ Tướng long trọng trình tấu bản Quân Ca Liên Minh, trong lúc lá cờ Liên Minh từ từ hạ xuống, sau đó lá cờ Quốc gia mới lại được kéo lên theo với tiếng nhạc Quốc Ca như thưòng lệ. Sự việc hy hữu kia diễn ra trước mắt Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, trước toàn bộ Nội Các, trước Ngoại Giao Đoàn và bàng dân thiên hạ. Tôi sẽ nói rõ thêm chi tiết về vấn đề này trong một Chương khác.

Theo nguyên tắc, khi một tổ chức chính trị đã ra đời, thì tổ chức ấy phải hoạt động tích cực để được tồn tại. Nhưng ở đây, xin thành thật mà nói, Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến Việt Nam chỉ hoạt động trong phạm vi chiến khu và vùng Thánh Địa, với sự yểm trợ của Quân Đội Quốc Gia Liên Minh mà thôi. Còn ngoài thành, vì Pháp và bù nhìn đối phó quá mạnh, lùng bắt các cảm tình viên, tra tấn hành hạ dã man, khiến bầu không khí gần như tê liệt. Tướng Thế chẳng buồn lòng vì bị cô lập. Mục đích ông là cần có một tổ chức chính trị hậu thuẫn, và tổ chức ấy đã có tên tuổi. Thế là đủ. Suốt 5 năm chiến đấu trong rừng, dù chẳng có mấy cơ hội gặp lại những người đã khai sinh ra Mặt Trận, ông vẫn cứ cặm cụi một mình, và với tất cả lòng thành tín, hy sinh gìn giữ uy danh Mặt Trận cho tới ngày ông nhắm mắt!

Quân Đội Quốc Gia Liên Minh! Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến!

Chỉ trong vòng mấy tháng ngắn ngủi, Tướng Trình Minh Thế, với trí óc thông minh, với tài đảm lược xuất chúng, với tấm lòng quả cảm vô song, đã nhanh chóng trồng thêm một khóm hoa thơm trong khu vườn Cách mạng Việt Nam. Các kẻ thù dân tộc chỉ muốn ngắt bỏ khóm hoa kia cho rảnh mắt. Nhưng chúng đã phải trả giá bằng xương máu.

 

 

 

 

 

 

Bản copy ngày 18-02-2026 từ link:

https://vietmessenger.com/books/?title=phong%20trao%20khang%20chien%20trinh%20minh%20the

CHƯƠNG III.
"CON NGƯỜI" TRÌNH MINH THẾ

Trong hồ sơ công an do Pháp để lại, Pháp dùng một số danh từ kém lễ độ để nói về lúc thiếu thời của Trình Minh Thế. Đó là theo con mắt của kẻ chinh phục, cướp nước.

Trình Minh Thế vốn xuất thân từ một gia đình nông dân, tín đồ thuần thành của Tôn Giáo Cao Đài, dưới quyền lãnh đạo tối cao của Đức Giáo Chủ Phạm Công Tắc. Ông là con trưởng cụ Trình Thành Quới, sinh năm 1922 tuổi Nhâm Tuất, tại làng Trà Cau, quận Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Tổ phụ 4 đời của Trình Minh Thế vốn là họ Trịnh) gốc người Bình Định. Vì có dính líu nhiều tới cuộc khởi nghĩa của anh em vua Tây Sơn, nên khi Nguyễn Ánh thành công, các cụ sợ bị nhà Nguyễn trả thù, nên lén bỏ xứ, trốn vào Miền Nam sống lẩn lút, đổi ra là họ Trình, ông có hai người em gái, một gả cho Thiếu Tá Tô Bính Cầm (một Tiểu Đoàn Trưởng của Liên Minh), và một gả cho một viên sĩ quan khác của Quân đội Cao Đài. Ông lại có người em trai tên Trình Minh Đức, theo cha là cụ Trình Thành Quới lập riêng chiến khu nho nhỏ trong rừng Bù Lu, và cùng chết một cách thảm khốc với cụ Quới trong một trận đụng độ khốc liệt với quân cộng sản, trước Tết năm Quý (1953).

Trình Minh Thế ít học, theo tới cấp Primaire rồi ở nhà. Ngay từ thuở nhỏ, ông đã có tính cương cường, không thích chứng kiến những sự bất công, áp bức. Theo lời ông thuật lại, đã có lần ông dám "chơi đòn" một ông hương cả thế lực trong làng, khiến phụ thân ông phải khó nhọc dàn xếp mới xong. Bà vợ ông tên là Nguyễn Thị Kim, người cùng làng, là một người đàn bà gương mẫu trọn đạo thờ chồng, nuôi con, và đã tiếp tay đắc lực với chồng trong công cuộc kháng chiến, ông có người con trai lớn tên là Trình Minh Nhựt, sau gia nhập Không quân Việt Nam, lên tới cấp Thiếu Tá, và khi cưới vợ, được chính Trung Tuớng Edward Lansdale đứng chủ hôn. Năm 1955, sau khi ông đã về thành hộp tác vói chính phủ Diệm, thì bà Nguyễn Thị Kim lại sinh đôi, nhưng cả hai trẻ sơ sinh đều chết, ông lặng lẽ bỏ hai cái xác trẻ vào một chiếc va li, đặt trong cốp xe Simca-9, rồi đưa thẳng về Tây Ninh chôn cất. Ông không biết uống rượu, không ham mê cờ bạc, mà chỉ nghiện thuốc lá thôi. Nghiện rất nặng, hút rất nhiều thứ thuốc lá bình dân, cho đến nỗi hai ngón tay ông nhuộm vàng nhựa thuốc và cháy xém cả.

Trình Minh Thế tuy là một dũng tướng, nhưng lại có tính nết e lệ với phụ nữ. Ông hay nói đùa và "chọc quê" anh em. Lạ nhất là những khi đang nghiêm nghị bàn bạc các vấn đề quân sự sinh tử, nửa chừng ông cho phép nghỉ ngơi, mọi người tha hồ ăn tục nói phét, kể những chuyện trên trời dưới đất mà cười với nhau. Sau đó lại tiếp tục bàn bạc, và mặt ông lại trở nên nghiêm khắc lạnh lùng như một thỏi sắt. Thỉnh thoảng ông có chơi cờ, và ông thích nhất là trò chơi "Bắt Việt gian". Ai muốn tham gia cái trò ấy, thì ngồi chung lại thành vòng tròn. Mỗi người bốc một mảnh giấy đã được gấp lại, và chỉ có một mảnh giấy ghi chữ "Việt gian" mà thôi. Rủi cho ai bốc phải, tất nhiên là mặt mày phải đổi sắc. Nguời nọ dòm người kia, cố dùng tài tâm lý mà đoán, rồi chỉ cho đúng "thủ phạm". Kẻ bị bắt quả tang mang tội "Việt gian" thì bị trừng phạt, hoặc bằng cách uống cho hết một bát nước thật to, hoặc bị vẽ mặt, tùy theo sự giao kết lúc đầu. Rủi cho Tướng Thế, nhỉều lần ông bị tội "Việt gian", thiên hạ được dịp dùng mực đen vẽ ngang vẽ dọc trên mặt ông, cho đến nỗi không còn chỗ nào để vẽ thêm nữa, trông buồn cuời không thể tả.

Trình Minh Thế quen ăn ở đạm bạc. Cách phục sức rất bình dân. Dù đang ở ngôi cao của đoàn thể, ông không hề biết diêm dúa là gì. Thường ngày ông chỉ mặc một bộ quần áo quân nhân cũ kỹ, đầu tóc không hề chải gỡ lần nào. Ai mới gặp ông lần đầu, không thể nào nhận ra đó là một tướng lĩnh khét tiếng, ông ăn nói khiêm tốn, lễ độ. Đối với anh em cũng như đối với các nhân vật tên tuổi, bao giờ ông cũng nhường nhịn lời ăn tiếng nói, không cưỡng từ đoạt lý, không tỏ ra ta đây hơn người. Chính cái thái độ khiêm tốn ấy đã khiến một số chính khách ngoài thành làm tướng Trình Minh Thế là một quân nhân tầm thường, không đúng với lời đồn đãi. Là vì một khi Thế đã có bụng khi ai, ông chẳng nói ra lời, mà chỉ im lặng nghe người ấy phát biểu, rồi nồng hậu tiễn đưa. Riêng cá nhân tôi đã nhiều lần tham dự những cuộc tiếp xúc, thấy khách hùng hồn đưa ra những đề nghị mơ hồ, những ý kiến không thực tế, hoặc những kế hoạch mà Thế đã thi hành từ lâu. Thế thấy nản, không bồng bột hưởng ứng, khiến khách ra về có cảm tuởng Thế thuộc thành phần quân nhân võ biền, không hiểu biết gì lắm. Họ đâu có hiểu, sau phút tiễn đưa, Thế đã nhìn tôi, nở nụ cười mỉa mai chua chát, im lặng chia xẻ nỗi thất vọng trước những con người mà Thế rất tin tưởng là sẽ được "chỉ bảo" nhiều trong công cuộc đấu tranh. Đáng buồn hơn nữa, là một số đông chính khách ngoài thành như có vẻ "vui buổi chợ đông", lúc đầu thì hăng hái viếng thăm bàn bạc, tới lúc thấy hiểm nguy, thì biến đi biệt tăm biệt tích.

Con đường vào khu vẫn mở rộng, mà bạn cũ không thấy trở lại bao giờ! Một hôm, trước khi Pháp mở cuộc tấn công chính thức, Thế bỗng ôm ra một bó gậy mà bảo với tôi rằng: "Đây anh xem, gậy này là vật kỷ niệm của các bạn chính khách ngoài thành. Họ đã dùng nó đi đường vào thăm ta. Bây giờ không biết họ ở đâu, nhưng tôi vẫn giữ và đợi chờ’’! Ôi, câu nói đượm biết bao nhiêu ý nghĩa!

Quả thật, Trình Minh Thế tuy ít học, nhưng lại rất thông minh, với trình độ hiểu biết không biết đâu là bờ bến. Chẳng những thông minh mà lại có tài. Tài cầm quân, tài quyền biến, tài sáng chế kỹ thuật, tài lãnh đạo, tài thu phục lòng người. Tôi thật không hiểu nổi các thứ tài năng lạ lùng đó ở đâu ra? Hóa ra học vấn chẳng phải là cái thước để đo giá trị con người. Tôi đã nhận được một bài học về vấn đề trí thức hay không trí thức, nơi con người Trình Minh Thế.

Nói về tài thu phục lòng người, tôi xin kể ra đây một thí dụ. Một hôm, viên Thiếu Tá Nguyễn Văn Của phạm kỷ luật, bị gọi về Bộ Tư Lệnh ra mắt Tướng Thế. Ông Thiếu Tá này vốn là một con người ngang tàng, ăn nói bộc trực, không biết sợ ai. Nhưng khi về tới Bộ Tư Lệnh, ông ta hơi có vẻ khiếp đảm. Ông vào gặp tôi trước và hỏi: "Ngài làm ơn cho biết Ngài Thiếu Tướng gọi em về có việc gì" Tôi cảnh cáo: "Thiếu Tá hãy coi chừng. Nghiêm trọng lắm đấy"! Biết là nguy, nhưng ông Thiếu Tá vẫn cứ phải liều.

Mình len qua cái vách tranh, tiến vào gặp Tướng Thế. Tôi vừa nghe ông ấy ghép mạnh hai chân vào nhau, cất lên hai tiếng ‘‘Chào Ngài’’ thật mạnh bạo theo kỷ luật quân sự, thì chợt có một tràng súng nổ tiếp theo. Tướng Thế giận đến nỗi ông bắn hết cả một gắp đạn trong khẩu súng P-38 của ông vào người Thiếu Tá Của. Nhưng may mắn thay, Thiếu Tá Của không chết, cũng không bị thương chỗ nào, vậy mà người quân nhân ngang tàng ấy vẫn cứ phải ‘‘gồng’’ đứng im một chỗ, không dám bỏ chạy!

Lát sau, tôi hỏi thăm về cái lẽ tại sao bị bắn như thế mà không chết hoặc bị thương, Thiếu Tá Của bèn tươi cười kể lại rằng: "Thiếu Tướng giận bắn em, nhưng nào có bắn thẳng vào người em đâu. Ngài bắn xuống hai bàn chân, và em cứ nhảy như con choi choi, cho tối khi hết đạn"! Vưà thuật chuyên, ông Thiếu Tá vưà diễn lại cái lối nhảy choi choi của ông, khiến ai nấy ôm bụng cười. Lạ lùng thay, viên sĩ quan kia vẫn không hề tỏ dấu buồn lòng, không rắp tâm đào ngũ vì sự trừng phạt nghiêm khắc. Trái lại, ông còn lấy làm hãnh diện mà bảo: "Thiếu Tướng vẫn thương em"!

Tôi đâm ra nghĩ ngợi. Thường tình thiên hạ bất bình nhau chút đỉnh đã tức khắc bỏ nhau. Thế mà vì lẽ gì một quân nhân bị thượng cấp trừng phạt nặng nề thế kia, vẫn không sinh lòng phản trắc? Tôi nghĩ tới cái "đức" của Trình Minh Thế, cái đức thật tiềm tàng, vô hình vô ảnh, nhưng lại được nhìn thấy qua tấm lòng kính yêu, tùng phục, trung thành của các cấp. Cái đức ấy cũng đã một làn thể hiện bằng đôi giồng nước mắt của Tướng Thế. Hôm ấy, một quân nhân bị đưa ra pháp truờng hành quyết, vì phạm tội đánh cắp tài liệu quân cơ, tư thông với giặc Pháp. Tang chứng rành rành, không chối cải được. Theo kỷ luật nội bộ, kẻ phạm trọng tội phải đền tội. Nhưng Tướng Thế vì lòng nhân ái, bất đắc dĩ phải hy sinh một đứa em nhỏ dại dột, nếu không cứng rắn thi hành kỷ luật, thì làm sao lãnh đạo nổi một đoàn quân binh hàng ngàn vạn nguời? Thành thử Tướng Thế giao cho Trung Tá Văn Thành Cao chủ tọa cuộc hành quyết, còn riêng ông thì ôm đầu, rơi nước mắt trong căn phòng bằng vách lá tối tăm!

Về tình huynh đệ mật thiết giữa Tướng Thế với các anh em, tôi muốn thuật tiếp mẩu chuyện sau đây. Đêm hôm ấy là đêm rằm. Trăng sáng đầy trời. Chúng tôi vừa đi thăm một đơn vị, lúc trở về bằng đường thủy. Chúng tôi tấp vào một bến vắng, rồi vì thấy đêm trăng quá đẹp, không vội về rừng. Bèn rủ nhau trải đệm lát ra trên mặt đất, nằm ngữa xem trăng. Bỗng đâu một viên sĩ quan cấp nhỏ, có tính hay đùa, chợt bước tới. Anh ta chẳng để mắt xem ai là ai, cứ tự tiện đặt mình nằm xuống giữa Tướng Thế và tôi. Thế bấm tôi, ra hiệu bảo nằm im để xem anh ta làm gì. Anh ta bỗng húc khuỷu tay vào sườn Thế, rồi bảo: "Nằm xích ra chút mày"! Thế ngoan ngoãn xích ra nhường chỗ. Anh ta khoan khoái gác chân chữ ngũ. Đoạn không biết hứng chí như thế nào, lại chợt cất tiếng nói tiếp: "Đ.M., trăng sáng như thế này, phải chi có một chầu rượu đế với thịt gà xé phay, thì hả hê biết mấy, phải không mày"? Nẩy giờ chúng tôi đã cố sức nín cười, nhưng tới lúc ấy thì không tài nào nín được nữa. Viên Thiếu Úy kia lấy làm lạ, bèn ngồi chồm dậy nhìn sang hai bên, xem thử tại sao thiên hạ cười mình. Khi nhận ra mặt mày ông Tổng Tư Lệnh của anh, thì anh như bị điện giật, đứng phắt lên, dơ tay "Chào Ngài" một tiếng thật to! Mọi nguời đều biết anh ta hoảng sợ như thế nào, vì đã dám gọi Tướng Thế bằng mày, và còn nói những lời lếu láo. Nhưng Tướng Thế chỉ cười, và bảo anh ta cứ ngồi lại chơi, chứ không tỏ vẻ gì tức giận cả.’’,

Tướng Thế bình sinh rất ham mê nghiên cứu các vấn đề khoa học kỹ thuật, đặc biệt là những gì giúp ích cho việc truyền tin. Chính cá nhân ông đã đóng góp một phần quan trọng vào việc thiết lập đài Phát Thanh Liên Minh, và cũng chính cá nhân ông đã phát minh ra hệ thống "Điện thoại một giây" được dùng trong khắp địa phận chiến khu một cách mầu nhiệm không ai ngờ. Tôi đã chứng kiến trọn vẹn công cuộc phát minh đó. Lúc đầu, Tướng Thế bàn với Đại Úy Hoàng Đình Khâm, một chuyên viên điện tử, về hệ thống kia. Ông bảo:

- Ta hãy cứ lấy một chiếc loa phóng thanh cỡ nhỏ, gắn thêm vào chân loa một bộ phận biến điện, và một cục Pin đèn để phát điện. Rồi ta dùng loại giây đồng thật nhỏ có chất cách điện bên ngoài làm giây liên lạc, và chỉ một giây thôi. Còn đường giây thứ hai, thì ta dùng một thanh sắt cắm sâu xuống đất thay cho "mát". (Masse, tức là giây nguội). Đại Úy thử làm xem!

Đại Úy Khâm tỏ ý ngần ngại, nhăn nhó, muốn phản đối mà không dám nói thẳng:

- Thưa Ngài, theo em thấy, hệ thống này khó thành công được. Em xin đồng ý là bộ phận biến điện với cục đèn Pin kia có thể khuyếch đại tiếng nói một phần nào. Nhưng còn vấn đề liên lạc bằng một giây thôi, thì em thấy là...

Tướng Thế thúc dục:

- Thì Đại Uý cứ thử làm xem sao. Chưa gì đã lo thất bại!

Đại Uý Khâm chẳng dám trì hoãn, bèn cặm cụi đi kiếm các món cần dùng. Ông lấy đâu ra được một bộ phận biến điện nhỏ bằng hộp diêm, rồi ông dùng mỏ hàn gắn chặt nó vào chân loa, theo sự chỉ dẫn của Tướng Thế. Sau đó ông lại gắn một đầu giây điện vào một chỗ khác trên loa, đoạn ghép thêm một cục Pin đèn bên cạnh, để mỗi khi gọi ai, thì khẽ chạm vào một cái chấu của cục Pin, tạo ra tiếng kêu "xẹc xẹc" như tiếng dế khóc. Chuẩn bị xong đâu đấy với 2 chiếc loa đã sẵn sàng, Đại Uý Khâm bèn nhường một chiếc cho Tướng Thế, còn chiếc kia ông thân hành mang ra xa. Song vì lòng ông vốn không tin ở kết quả theo con mắt "Chuyên viên" nhà nghề, nên ông chỉ đứng cách xa chừng vài chục thước, rồi khẽ chạm vào cục Pin đèn, làm hiệu nói chuyện với Tưóng Thế.

Allo, allo, thưa Thiếu Tướng! Allo, tôi nghe đây!

Mầu nhiệm thay, đường điện thoại chỉ có một giây, trông không lớn hơn một sợi tơ trời, mà tiếng nói nghe rõ mồm một. Đại Uý Khâm chịu thất bại keo đầu, liền quay trở lại, thầm nghĩ rằng dẫu có thành công thì cũng chỉ thành công trong khoảng cách ấy là cùng! Nhưng Tuớng Thế bắt buộc ông cứ tiếp tục đi xa, đi xa mãi, một trăm thước, một ngàn thước, rồi tới 5 cây số đường rừng! Tới đâu, hai người vẫn nghe rõ tiếng nhau như đang nói chuyện bằng hệ thống điện thoại tối tân tại Saigon vậy. Truớc sự thành công quá sức lạ lùng, ông "Chuyên viên điện tử’’ chỉ biết cúi đầu thán phục. Trong thâm tâm, hẳn ông phải tự hỏi vị lãnh tụ của mình học hỏi ở đâu mà tài giỏi sáng suốt như thế? Về phần Tướng Thế, ông không lấy làm kiêu căng trước thành quả tốt đẹp kia, mà chỉ nhẹ nhàng bảo nguời chuyên viên: "Đó, Đại Uý thấy không? Nếu mình không cố gắng, không kiên nhẫn thí nghiệm, thì có phải là hỏng đi một việc quan trọng hay chăng"?

Thế là từ đó, khắp chiến khu Bù Lu cũng như chiến khu Núi Bà Đen đều chằng chịt những đường giây điện thoại xuyên qua rừng, qua núi, giúp cho sự liên lạc giữa các đơn vị thêm dễ dàng nhanh chóng. Nhờ hệ thống điện thoại một giây kia, Quân đội Liên Minh đã thu đoạt được một số thắng lợi vẻ vang. Có lần đã nhanh chóng bố trí bắt trọn một toán cán bộ cộng sản lén lút đi ngang qua chiến khu, tưởng không ai biết. Về sau, tin tình báo cho hay cộng sản thèm khát hệ thống ấy lắm, và treo giải thưởng 20.000 đồng cho ai cướp được một chiếc điện thoại kiểu mẫu của Liên Minh. Không chỉ riêng cộng sản thán phục, mà ngay cả người ngoại quốc cũng cảm phục tài phát minh của Tướng Thế. Trong những dịp vào ra thăm viếng chiến khu hồi cuối năm 1954, Tướng Edward Lansdale đã được mời dùng thử hệ thống điện thoại kia để liên lạc trò chuyện với một sĩ quan Liên Minh ở cách xa ông những 15 cây số, rồi ông quay ra bắt tay Tướng Thế, bày tỏ sự ngạc nhiên và sự hoan nghênh nhiệt liệt của mình!

Cũng từ ngày phát minh ra hệ thống điện thoại kia, các "Anh lớn" trong đoàn thể tha hồ "trao đổi tâm tình ấm lạnh" với nhau. Nhất là đêm khuya, những đêm đông lạnh lẽo trong chốn núi rừng, các anh ấy bỏ ngủ, nói chuyện hàng giờ không dứt! Thậm chí có một lần, Đờn và Trung quá say sưa nói chuyện "tào lao", la hét với nhau trong máy điện thoại. Mà đường giây lại chạy ngang qua tôi, khiến tôi bực mình ngủ không được, bèn hét lên một tiếng thật lớn! Cả Đờn và Trung đều giật mình ngưng lại. Tôi nghe họ hỏi nhau: "Ai vậy kìa? Thôi chắc là... Ông Râu"! Và sau đó, họ lại tiếp tục "chọc quê" tôi nữa là khác. Tôi đành chịu thua. Chỉ tội cho mấy ông chuyên viên. Rủi gặp khi gió bão, đường giây điện thoại vốn đã quá mong manh, lại chạy ngòng ngèo qua rừng, qua núi, những chỗ giây đứt biết đâu mà tìm? Thành ra, cứ mỗi lần rủi ro như thế, thì chuyên viên lại phải lần mò theo đường giây, có khi mất cả một ngày đường mới tìm được manh mối mà sửa chữa. Sở dỉ biết như vậy mà vẫn phải dùng loại giây quá nhỏ, là vì muốn tiết kiệm chi phí, lại thêm, khi giặc tấn công, có thể hy sinh bứt bỏ giây đi mà không tiếc rẻ.

Ngoài các tài năng kể trên, Tướng Thế còn có cái tật rất lạ? Cứ mỗi bận có điều gì suy nghỉ khó khăn, hoặc phải tìm ra một mưu kế thần diệu nào đó để đối phó với tình thế, thì lại thấy ông nằm sấp trên giường, hai chân co lên phía sau, với hai ngón tay bị cháy bỏng vì điếu thuốc này nối sang điếu thuốc nọ. Sống gần nhau, hiểu rõ tâm tính nhau như đôi tri kỷ, tôi thường thấy khổ tâm mỗi khi bắt gặp ông nằm theo tư thế vừa kể, và tôi đã cố gắng giúp đỡ ý kiến để giải quyết những vấn đề trọng đại. Đã có lúc, tôi tưởng ông mắc bệnh lao. Vì trông thân thể ông càng ngày càng ốm yếu, đôi môi thâm, với nhữnng cơn ho húng hắng vì hút thuốc lá quá nhiều. Đó là lúc giặc Pháp tấn công quá dữ dội, hàng ngũ suýt tan rã, ông lo lắng nhiều, đêm không ngủ được. Lại thêm màn trời chiếu đất, ăn gió nằm sương, vì cuộc sống lưu vong, nhà cửa không sao xây dựng nổi. Nhưng tôi mừng rằng mỗi khi ông nằm sấp như thế, thì y như rằng ông đã tìm ra được diệu kế, đoàn thể thoát nguy.

Ngày thường Tướng Thế dịu dàng bao nhiêu, thì khi tiến binh, hoặc lâm trận, ông trở nên nghiêm khắc dữ tợn bấy nhiêu. Lúc đầu, tôi tưởng sự thay đổi kia là sự cố ý của người chỉ huy có trách nhiệm. Nhưng không, càng ngày tôi càng nhận ra đó là một đặc tính trời cho, không dễ cho ai bắt chước được. Nếu sự dễ dãi hàng ngày đã khiến ông không nỡ chấp nhất một hạ cấp dám gọi mình bằng mày, thì sự nghiêm khắc lúc hành quân cũng khiến ông sẵn sàng bắn chết kẻ nào phạm tội "cấm hỏa, cấm ngữ ", ông người nhỏ thấp, nhưng đi bộ rất giỏi, và luôn luôn nhanh nhẹn như một con sóc trong rừng. Lạ nhất là toán quân nào có ông lẫn lộn trong hàng ngũ, thì toán quân ấy tự nhiên thấy phấn khỏi tinh thần, thấy tin tưởng ở số mệnh hơn bao giờ hết. Riêng cá nhân tôi cũng đã có cảm tưởng đó.

Hơn một lần, chúng tôi đổ bộ lên một bờ sông. Trời tối mit, ngửa bàn tay không nhìn thấy. Từ bờ sông vào tới biên rừng lại phải qua một khoảng đất trống mà đồng bào trong Nam gọi là ‘‘bưng" hoặc "trảng". Bất thình lình cộng sản tấn công, đạn từ trong rừng bắn ra như mưa bấc. Chúng tôi không có chỗ núp. Tướng Thế dửng dưng như không, hạ lệnh cho quân sĩ bắn trả lại, rồi cùng chúng tôi cứ thẳng người tiến vào bìa rừng, nơi quân thù đang phục kích. Trong đám quân sĩ, có người thấy thế, liền xung phong đi trước, cố ý đỡ đạn. May mắn thay, địch quân rút chạy, và phía chúng tôi không bị một chút thiệt hại nào!

Đã có một trường hợp rất lạ xảy ra giữa quân Liên Minh và Pháp. Chiều hôm ấy, chúng tôi dùng thuyền, khởi hành từ một cái rạch nhỏ để sang sông. Giữa lúc binh sĩ đang chèo chống, thì bất thình lình, một chiếc thuyền lớn của Pháp lại chạy vào trong rạch, xăm xăm tiến về phía chúng tôi. Trên thuyền kia có lá cờ Pháp bay phất phới.

Tình thế quả là thập tử nhất sinh, quá trễ rồi, không sao tránh né được. Nếu bỏ thuyền mà chạy thì lại càng dễ bị tiêu diệt. Chúng tôi đành chấp nhận chiến đấu với cái chết nằm chờ trước mắt. Tướng Thế bèn hạ lệnh cho anh em binh sĩ cứ bình tĩnh như thường. Còn phần ông thì ngồi thụp xuống mạn thuyền, dùng răng rút chốt quả tạc đạn trên tay. Còn tôi thì cũng sẵn sàng với khẩu súng phòng thân. Lạ thay, thuyền Pháp lướt ngang qua, hai mạn thuyền chạm nhau khá mạnh. Nhưng quân Pháp làm như không trông thấy chúng tôi, cứ theo rạch nước mà tiến thẳng! Tới lúc cách nhau chừng vài mươi thước, chúng tôi liền vứt bỏ thuyền, kéo nhau lên rừng tìm chỗ phục kích. Lần ấy, chúng tôi nhìn thấy cái chết quá rõ, nếu không, thì cũng bị Pháp bắt sống trọn ổ! Chúng tôi thực không hiểu tại sao? Pháp không thể nào không biết chúng tôi là Liên Minh, vì nơi ấy thuộc vùng kiểm soát của chúng tôi. Vậy tại sao Pháp không nổ súng? Pháp sợ Liên Minh quyết tử chăng?

Lại một lần khác, nhân một cuộc di binh, chúng tôi đi ngang qua rừng Năm Trại vào lúc nửa đêm. Quân sĩ vô cùng mệt mõi đói khát. Nơi ấy lại sẵn bộ những thửa vườn dưa hấu đầy quả, đã tới mùa ăn được. Việc giải khát cho anh em binh sĩ rất là cần thiết, mà chủ nhân các vuờn dưa kia thì chẳng biết đâu mà tìm. Tự tiện hái ăn là vô liêm sỉ, hơn nửa, cả một đoàn quân đông đảo cùng giải khát một lượt thì còn gì của người ta? Túng cùng, Tướng Thế bèn viết mấy chữ, rồi gối một món tiền vào trong mảnh giấy, đem buộc vào một cây dưa. Sau đó, ông cho phép anh em mỗi nguời thưởng thức vừa phải món dưa hấu ngọt ngào cho qua cơn khát

Nhưng chưa ai kịp mó tới quả dưa nào, thì từ đằng xa, dưới bóng trăng mập mờ, chợt xuất hiện một đoàn người áo đen đang xăm xăm đi tới. Tưởng là địch quân cộng sản, Tướng Thế tức thì hô to: "Ai đó? Đứng lại!" Đoạn ông đua tay đẩy tôi ra phiá sau, còn ông thì rút khẩu súng phòng thân, xung phong tới trước, chuẩn bị nghênh địch. Có một binh sĩ hộ vệ thấy thế, vội vàng phóng tới, không cần hỏi han, gạt phắt cả tôi và Tướng Thế ngã lăn vào bụi rậm, để mặc anh ta đối phó với khẩu súng tiểu liên sẵn sàng nhả đạn!

Ai ngờ đoàn người áo đen kia không phải là địch quân cộng sản, mà lại chính là chủ nhân của mấy thửa vườn dưa. Sau một lúc dọ hỏi, được biết nhau rồi, đoàn người kia bèn tiến lại ngồi nghe tự sự về cái thảm cảnh "buộc tiền vào gốc dưa" để giữ tròn liêm sĩ! Nghe xong, họ khóc rồng rồi ôm lấy Tướng Thế mà nói: '’Tưởng ai chứ gặp Ngài Thiếu Tướng đây, thì xin Ngài cứ tự tiện cho phép anh em chiến sĩ mặc sức dùng dưa cho đở đói lòng. Chúng tôi nhất định không lấy tiền của Thiếu Tướng, cho dù mất hết cả vườn dưa này, chúng tôi cũng chẳng tiếc!"

Thuật lại mấy câu chuyện trên đây, tôi muốn nói rằng người chiến sĩ cách mạng đấu tranh, hạng người luôn luôn gần gũi với cái chết, chỉ trọng nhau, kính nhau, ở cái tinh thần quả cảm, ở cái tư cách anh hùng. Làm chỉ huy một đoàn quân cách mạng không có quyền hèn nhát, ham sống sợ chết. Chỉ cần một lần tỏ rõ cái cung cách khiếp nhược, là kể như suốt đời bị kẻ dưới nguyền rủa, khinh khi, chỉ còn có cách lìa bỏ hàng ngũ mà đi để khỏi phải nghe những thứ "bí danh" mà kẻ dưới đặt cho người chỉ huy "tham sinh úy tử" của họ.

Sự kính phục nhau hàng ngày đưa đến cái quyết tâm sẵn sàng hy sinh mạng sống cho nhau trong con nguy biến. Mấy người chiến sĩ nơi bến sông kia, cũng như người chiến sỉ nơi vườn dưa nọ, tại sao dám tự tiện tiến bước trước vị chỉ huy? Tại sao dám quật ngã người lãnh tụ mà hàng ngày họ coi như thần thánh? Ấy chỉ vì họ ý thức rằng đại cuộc là quan trọng, mạng sống của họ không quý báu và không cần thiết bằng mạng sống một bực anh hùng. Dù sau đó, họ bị khiển trách chăng nữa, họ cũng chẳng lấy làm ân hận. Mà bực anh hùng kia không phải tự mình tuyên xung anh hùng để được kính nể. Mà cái tước vị anh hùng lại do tập thể tuyên phong, xuyên qua nếp sống hàng ngày, xuyên qua những hành động phi thường, xuyên qua những đức độ sáng chói, xuyên qua cái tài biến nguy thành an của con người ấy. Thử tưởng tượng một người cầm đầu tập thể mà suốt đời chỉ thích ăn sung mặc sướng, luôn luôn đòi hỏi những tiện nghi, thấy ăn thì bước trước, mà nguy thì lùi sau, hỏi có ai thấy cần phải xung phong làm bia đỡ đạn cho họ, để họ tiếp tục sống nếp sống ích kỷ, ươn hèn?

Tôi nghĩ rằng sự hy sinh cao độ của Tướng Thế đã làm anh em chiến sỉ hết sức xót xa bùi ngùi, mà chính tôi đây cũng bùi ngùi xót xa không kém. Thẳng thắn mà nói, riêng cá nhân ông vẫn có quyền sống "dễ thở" hơn anh em đôi chút. Dẫu cho hàng ngày ông ăn được miếng cơm ngon, nằm được chỗ nằm êm ái, mặc được tấm áo lành lặn, thì cũng chẳng ai dám chê trách bao giờ. Nhưng không, ông không chấp nhận bất cứ một sự cách biệt nào cả. Cuộc đời vật chất của ông quá khổ, khổ đến độ tôi không muốn nhìn thẳng vào nó nữa. Dăm khi mười họa, gia đình ông mới dám lặn lội băng qua hàng rào phong tỏa cùa đối phương, mang vào tiếp tế cho ông chút thịt cá, dăm ba quả xoài, một vài bao thuốc lá bình dân rẻ tiền. Nhưng nào ông có hưởng thụ một mình! Ông vui vẻ đem chia sớt với chúng tôi, và dĩ nhiên là chỉ trong một thoáng thôi, đã không còn nhìn thấy các món tiếp tế kia đâu nữa. Qua một vài lần "hên" như thế đó, cuộc đời lại trở về với cái nếp buồn tênh, chán chường, đen tối, với thứ cơm nguội lạnh được nấu chín từ lúc nửa đêm để dùng trọn ngày, vì lệnh "cấm hỏa" không cho phép binh sĩ đụng tới củi lửa từ sáng tới chiều, sợ máy bay thám thính địch trông thấy sẽ oanh kích thẳng tay. Lại vẫn mấy miếng cá khô tra tanh tưởi, nướng vội vàng trong bếp lửa, rồi để dành ăn bữa này sang bữa khác. Ấy hãy còn là may, chứ thường thường chỉ có mắm ruốc hoặc muối trắng mà thôi!

Tôi còn nhớ rõ, trong một cuộc hành trình từ Bù Lu sang Núi Bà Đen vào khoảng cuối năm 1953, lúc quá nửa khuya, chúng tôi tạm dừng chân tại một bìa rừng. Người bộ hạ thân tín của Tướng Thế - ông Già Ba, gốc người Thanh Hóa - chợt mang ra một phần cơm nguội đựng trong chiếc gà-mên, với một món ăn hơi lạ mà lúc đầu tôi không biết là món gì. Tướng Thế niềm nở mời tôi cũng ăn với ông cho đở dạ. Nhưng khi nhìn kỹ lại thức ăn kia, tôi đâm hoảng. Đó là mớ thịt lươn với mầu sắc đen sì. Ông già Ba, vốn tuổi tác ốm yếu lại chẳng phải là tay đầu bếp thiện nghệ, khi bắt được con lươn (tôi thật không biết ông bắt được nó ở đâu và bao giờ), đã đem con vật ra chặt ngang chặt ngửa thành những khoanh tròn, rồi cứ thế mà đổ ruốc vào kho, không mỡ dầu, không tiêu ớt, không một thứ gia vị nào hết cả. Thú thật tôi vốn xưa nay chưa hề đụng chạm tới mấy món lươn rùa mà đồng bào trong Nam rất ưa chuộng. Đã thế, việc nấu nướng lại đơn giản như thế kia, nguội lạnh như thế kia, tôi biết làm sao bây giờ? Chẳng dám làm phật lòng người anh em đồng chí kính mến, tôi nhanh nhẹn bốc lấy một cục cơm nguội, nhét hẳn một khoanh lươn vào giữa ép lại, rồi bỏ vào mồm nuốt chửng, chứ không nhai, không thưởng thức! Tướng Thế hỏi tôi: "Anh ăn có được không?" Tôi đáp liều: "Ngon lắm!" Tướng Thế cười, biết tôi nói xã giao cho đẹp lòng ông, nhưng ông không hề biết tôi suýt nữa mắc nghẹn vì cục cơm kia vào nằm chắn ngang giữa cổ!

Đêm ấy, tôi cảm thấy mình có tội, tự nguyền rủa mình thua kém anh em, bởi đã không ăn được thức ăn như họ! Chưa "Lịch tận gian nan" thì chưa thể "Hảo tác nhân" như người xưa đã nói. Bởi thế, từ ngày ấy, tôi làm như tất cả mọi nguời anh em chung quanh, nghĩa là tôi tập ăn tất cả mọi thứ. Nào dế mèn trong rừng biên giới, nào dơi trên Núi Bà Đen, nào thằn lằn, rắn mối, nào thịt chim hồng hoàng, thịt "hón", kể luôn cả các thứ rau lạ chưa từng biết như rau "càng cua" mọc trong kẽ đá, rau hẹ mọc trong rừng tràn ngập nước phèn ..v.v.

Để diễn tả trọn vẹn "con người" của Trình Minh Thế trước khi đề cập tới sự nghiệp lãnh đạo kháng chiến của ông, tôi xin phép nói rõ thêm về cái tình nghĩa đồng chí keo sơn giữa Tướng Thế với tôi, tưởng cũng không đến nỗi vô ích.

Trong tập hồ sơ công an Pháp do sở Liêm Phóng Liên Bang cũ để lại, mà sau này tôi được sở An Ninh tòa Đại Sứ Mỹ cho xem tận mắt, Pháp đã nói về tôi khá nhiều. Riêng về khoản tôi nhập cuộc với Tướng Thế, tập hồ sơ ấy viết như sau:

"Monsieur N.L. est un partisan du VNQDD. II est venu du Nord, et après un bref séjour à Saigon, il a disparu secrètement dans les forèts de Tay Ninh aux fins de joindre le Caodaiste révolteur Trinh Minh The pour prendre les armes contre nous. Ce faisant, N.L. est connu comme ayant exécuté l’ordre du "Group, Nguyen Tuong Tam" qui veut qu’il soit auprès de The pour influencer celui-ci dans un sens favorable aux propres intérèts du Group,".

Tôi xin dịch theo nguyên văn: "Ông N.L. là một đảng viên VNQDĐ. Ông ta từ Bắc vào Nam, và sau một thời gian ngắn tại Saigon, ông ta đã bí mật biến mất vào rừng núi Tây Ninh để liên kết với tên Cao Đài phản loạn Trình Minh Thế, nhằm cầm vũ khí chống lại ta. Sỡ dĩ N.L. hành động như thế, là vì được biết ông ta đã thi hành mệnh lệnh của "Nhóm Nguyễn Tường Tam" muốn ông ta ở gần Thế để gây ảnh hưởng với Thế theo chiều hướng thuận lợi cho các quyền lợi riêng biệt của nhóm ấy".

Đối với đoạn văn phúc trình kể trên, trước hết tôi thấy nên cám ơn người Pháp đã dành cho tôi cái tiếng ‘‘Monsieur’’ trịnh trọng, khác hẳn với cái lối gọi xách mé, khinh miệt mà Pháp vẫn thường dùng đế nói tới những ai chống đối họ. Nhưng tôi không khỏi phì cười, vì đoạn phúc trình ấy hoàn toàn sai sự thật. Tôi không hề nhận chỉ thị nào của "Nhóm Nguyễn Tường Tam" để gây ảnh hưởng với Tướng Thế, mà riêng cá nhân cố văn hào Nhất Linh Nguyên Tường Tam cũng chẳng bao giờ bàn bạc với tôi về Tướng Thế cả. Có chăng là lúc bấy giờ, ông Nhất Linh đang cố viết cho xong, lần thứ ba, cuốn truyện dài "Xóm Cầu Mới" mà ông dự định nhờ tôi sang Pháp liên lạc với nhà xuất bản Nguyễn Ngọc Bích để tái bản toàn thể các sách cũ của Tự Lực Văn Đoàn. Nhưng cuối cùng kế hoạch ấy đã bị bãi bỏ. Sau khi tôi đi khu rồi, ông Nhất Linh mở nhà xuất bản Phượng Giang, in lại các sách ngay tại Saigon, ông có gửi tặng tôi toàn bộ sách với chữ ký của ông, mà khi từ giã chiến khu, tôi Sơ ý để quên lại trong Núi Bà Đen, dấu trong một hang đá.

Nói cho cùng, dẫu tôi có ý định "lèo lái" Tướng Thế theo một đường lối nào đi nữa, thì một người như Thế dễ gi để cho ai chi phối? Huống chi, lập trường đấu tranh của Tướng Thế đã sáng tỏ như đôi vầng nhật nguyệt, một lập trường dân tộc "Chống cộng, đả thực, bài phong" hoàn toàn phù hợp với lập trường cố hữu VNQDĐ, thì tại sao "Nhóm Nguyễn Tuờng Tam" lại chủ trương chi phối? Nguồn tin trên của Pháp không biết do đâu mà có.

°

Việc Trình Minh Thế rút quân ra khu, như tôi đã nói trong một đoạn trước, tiếng vang bay tận đất Bắc, giữa lúc chiến sự ngoài ấy đang vô cùng khẩn trương. Hàng đêm, dân chúng Hà Nội hồi hộp lo sợ, nằm nghe tiếng súng ì ầm từ nơi chiến trường vọng về. Chính phủ Trần Văn Hữu đang chuẩn bị rút các bộ sở vào Saigon. Việc bỏ rơi Hà Nội kể như chắc chắn. Riêng tôi đã được Thế bí mật móc nối khi tôi còn ở Hà Nội qua một nguời đồng chí. Đêm tôi vào khu, chính người ấy đứng ra sắp đặt đường đi nước bước. Thế ân cần cắt cử một toán quân tới đón tôi ngay tại bờ sông Vàm Cỏ Đông. Tôi không biết Thế đã nói gì với toán quân ấy, mà sau này, tôi vẫn thường được nghe họ công khai nhắc đi nhắc lại trước mặt tôi điều mà họ coi là "vinh dự’’ được cắt cử đi đón tôi.

Chúng tôi cùng một tuổi tác, cùng một tâm tư. Nhờ vậy mà mối tình bầu bạn đã nảy nở thật nhanh chóng. Tôi thấy Thế dường như có tâm tưởng cô đơn, đang cần một kẻ tri âm. Tôi đã đến đúng lúc để khỏa lấp nỗi thiếu thốn đó chăng? Trong thời kỳ củng cố chiến khu, khi Pháp chưa mở cuộc tấn công chính thức, Thế với tôi vẫn thường trải nhiều đêm bàn bạc tâm sự. Thế sung sướng cởi mở hết tấm lòng về cuộc đời dĩ vãng của mình, về tình hình đất nước, về những triển vọng mai sau. Ông kể lại việc Pháp chủ trương mua chuộc ông bằng quyền lợi, việc ông ra thăm đất Bắc một vài năm trước, việc ông gặp khó khăn với Tướng Nguyễn Văn Thành khi còn ở trong Quân đội Cao Đài. Thậm chí có những sự bí mật lạ lùng trong phạm vi giáo phái, ông cũng không ngần ngại đem thuật cho tôi nghe, những bí mật mà giờ đây chính riêng tôi cũng đành để bụng, khó thể phơi bày.

Nói thế để chứng tỏ Tướng Thế coi tôi với ông là một. Ông thành thật thú nhận một vài khuyết điểm về phương diện tổ chức buổi đầu. Rồi ông trao ngay cho tôi cái sứ mạng coi sóc và chịu trách nhiệm về con đường chính trị đối ngoại của đoàn thể. Mà công tác đầu tiên là phải chấn chỉnh lại đài Phát Thanh Liên Minh, thẩm duyệt các bài vở, các chương trình hàng ngày của đài. Tôi được ủy nhiệm điều khiển cơ quan Quân Chính Cục, đồng thời tôi mở ngay ra một khóa Huấn Luyện Cán bộ hàm thụ dành chung cho các quân sỉ bên trong lẫn đồng bào bên ngoài. Đáng ghi nhớ nhất là trong số cán bộ hàm thụ kia, có cả bà Nguyễn Thị Kim, phu nhân Tướng Thế. Đáp lại lòng tri kỷ, tôi đã làm tất cả những gì có thể làm được để tô điểm cho chiến khu Liên Minh có một bộ mặt cứng cỏi, một nếp sống tinh thần đầy tin tưởng, và một tiếng nói càng ngày càng thêm uy tín. Theo chiều hướng ấy, tôi sáng tác bài thơ "Anh Hùng Trình Minh Thế’’ vào giữa thời kỳ khủng hoảng nhất, bài thơ được nhạc sĩ Trần Ngọc phổ thành bài ca, để ngày ngày anh em chiến sĩ Liên Minh cùng hát với nhau mà nung nấu ngọn lửa đấu tranh. Bài ca ấy nào hay đã trở thành tiếng khóc đau thương của tôi đối với Thế. Sau khi Thế mất, nó đã được khắc vào chân bức tượng đồng đặt nơi mộ Thế trong Nghĩa Trang Liên Minh ở chân núi Bà Đen. Bà quả phụ Nguyễn Thị Kim đã buồn bã trách tôi sao nỡ sáng tác ra chi những vần thơ tiền định!

Lắm lúc tôi thấy ngượng, vì sống trong cùng một hoàn cảnh gian nan thiếu thốn, mà Thế lại quay ra săn sóc tôi quá sức ân cần, chìu chuộng tôi như chìu chuộng một người mà Thế coi như không đáng để nhận chịu cuộc đời ăn gió nằm sương. Nhân một buổi chuyện trò, tôi ngay tình bày tỏ ý thích về món "Phở Bắc". Nào ngờ hôm sau, Thế ra lệnh cho người liên lạc xông pha nguy hiểm lén lút về tận Saigon, mua hàng chục tô phở, đem về chiến khu! Về tới nơi, phở đã biến thành một thứ cháo "hàm bà lằng", không còn gì hương vị, nhưng ai nấy ăn uống thật vui vẻ. Thế yêu tôi cho đến nỗi lâu lâu có liên lạc về thành, thì lại dặn dò người ấy mang về cho tôi một vò rượu đế. Chua xót thay, tôi có nghiện rượu bao giờ đâu? Nhưng Thế bảo tôi, nếu có thể được, thì mỗi ngày nên dùng chút ít để chống bệnh sốt rét. Chuyện này đã thành giai thoại, thấu đến tai thân phụ Thế là cụ Trình Thành Quới, khiến chính bản thân cụ cũng không quên luôn luôn gửi tặng tôi những vò rượu đế thuộc loại hảo hạng.

Trong năm đầu ở chiến khu, có kẻ thừa lúc sơ hở, len lỏi vào hàng ngũ, định làm tai mắt cho Pháp. Đó là một viên sĩ quan, ẩn dưới bí danh D.T. Anh ta cố ý làm thân với tôi để dò la bí mật, vì biết tôi được Thế tin cậy. Hơn một lần, anh ta ngỏ ý muốn thu hình tôi để làm kỷ niệm. Tôi toan nhận lời, thì bỗng Thế nháy mắt ra hiệu bảo đừng. Ít lâu sau, người ấy đã được Thế dành cho cái số phận của kẻ gián điệp, phản quốc. Tôi giật mình khi biết sự thật.

°

Đêm 28 tháng chạp năm Tân Mão, tức là giáp Tết Nhâm Thìn (1952) quân đội chuẩn bị lià bỏ căn cứ, rút vào rừng sâu. Vì được tin Pháp mở cuộc tấn công. Trước giờ ra đi, Thế bỗng ôm từ phòng riêng ra một bó gậy, nhắc nhở tôi các chính khách ngoài thành. Rồi dưới ngọn đèn lù mù, ông chợt hỏi tôi bằng một giọng hết sức chân thành:

- Anh liệu có chịu nổi không? Gian nan sẽ chồng chất trong những ngày sắp tới. Tôi lo cho anh quá! Tôi đáp cứng cỏi:

- Thiếu Tướng đừng lo, tôi đã sẵn sàng mọi thứ. Anh em chịu được thì lẽ nào tôi lại không?

Tình nghĩa đệ huynh lên cao chót vót, cho tới độ Thế yêu cầu tôi thay mặt cả gia đình ông, đóng vai chủ tang, lo liệu từ đầu chí cuối công cuộc an táng thân phụ ông là cụ Trình Thành Quới và bào đệ ông là Trình Minh Đức, cả hai cùng bị cộng sản sát hại một cách cực kỳ dã man thê thảm vào những ngày giáp Tết năm 1953. Trong một Chương sau, tôi sẽ nói rõ về thân thế và sự nghiệp của nhà cách mạng lão thành Trình Thành Quới, về cái chiến khu nho nhỏ của Cụ lồng trong chiến khu Bù Lu, và về sự xung khắc đụng chạm khá lạ lùng giữa Cụ và người con trai Cụ là Trình Minh Thế.

°

Trình Minh Thế chọn con đường binh nghiệp khi còn ít tuổi. Thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng Đông Dương, ông đứng vào hàng ngũ chống Pháp, hoạt động bên cạnh người Nhật lúc bấy giờ. Chính giai đoạn ấy đã ảnh hưởng con người ông khá nhiều, ông cảm phục tư cách các sĩ quan Nhật, đường lối chỉ huy của họ, cái triết lý "tiên phong" đã thành truyền thống của tướng lãnh Nhật càng cao cấp bực thì lại càng ở gần mặt trận hơn ai cả. Khác với Pháp ở chỗ sĩ quan Pháp càng lên cao địa vị, thì lại càng lùi xa trận tuyến, càng được an lành tính mạng trong phòng hành quân với ly rượu mạnh trên tay! Phải chăng sự cảm phục kia đã đưa con "Hùm dữ Tây Ninh" tới cái chết tức tưởi tại cầu Tân Thuận ngày mồng 3 tháng 5 năm 1955? Tôi cho là đúng, bởi Thế không đáng chết ở đó, nếu Thế không cần xuất trận mà có thể tạm giao quyền chỉ huy cho cấp dưới đắc lực là Trung Tá Nguyễn Trung Thừa. Thế là một trong những phần tử Cao Đài tham gia đơn vị võ trang trứng nước đầu tiên của Cao Đài mệnh danh là "Chi Đội 7, 8". Nhật đi rồi, Pháp lại đến, cộng sản cũng xuất đầu lộ diện. Chi Đội kia đã lớn mạnh trong hoàn cảnh khẩn trương của đất nước, dần dần biến mình mà lập nên Quân đội Cao Đài với hàng vạn binh sỉ quyết lòng hy sinh giữ Đạo, giữ nước, không bao giờ chấp nhận chủ nghĩa cộng sản.

Ít chữ nghĩa mặc dầu, Trình Minh Thế đã ‘‘học’’ trong trường đấu trang cách mạng, đã thu góp vào mình bao nhiêu tinh hoa dân tộc. Thế không bao giờ phải hổ thẹn với trình độ học vấn thấp kém? Mà trái lại, Thế đã khiến bao nhiêu thù địch khiếp sợ, bao nhiêu bực thức giả khác kính nể, như Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Cố Vấn Ngô Đình Nhu, như cựu Trung Tướng hồi hưu Edward Lansdale chẳng hạn!

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG IV
TIẾNG NÓI MẶT TRẬN QUỐC GIA KHÁNG CHIẾN VIỆT NAM

Tuy là một quân nhân, nhưng Tướng Thế lại có phong độ một nhà chính trị lỗi lạc, ý thức trọn vẹn các mưu cơ cần thực hiện trong cuộc đấu tranh cân não. Vừa tạm yên việc phân phối lực lượng kháng chiến ra chiếm giữ các nơi trọng yếu nhằm chuẩn bị cái thế cầm cự lâu dài, Tướng Thế liền ban ưu tiên cho việc thiết lập đài Phát Thanh Chiến khu, ngay cả trước khi Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến ra đời.

Địa điểm đầu tiên của đài này nằm tại rừng Bù Lu, cạnh Bộ Tư Lệnh. Kế tiếp dời xuống rừng Doi Da, rồi lưu động theo chiến thuật, và cuối cùng thì thiết lập hẳn tại Chùa Hang, ở lưng chừng Núi Bà Đen. Trước sau đều đặt dưới quyền điều khiển của Thiếu Tá Hồ Đức Trung. Về mặt kiến trúc, quả thật là thê thảm. Một căn nhà tranh vuông vứt, với vách đất dày che phủ bốn mặt, rộng vừa đủ cho ban nhạc và xướng ngôn viên làm việc. Bên trong có một lớp vải mền nhằm giữ tiếng nói, giữa là một đường giây vượt khỏi nóc nhà, ăn thông với giây trời khá cao chằng giữa hai ngọn cây, nhưng vẫn núp dưới lớp lá rừng để tránh cặp mắt thám thính của phi công địch. Máy phát thanh được dùng cho đài do chính chuyên viên Hoàng Đình Khâm tự tay ráp lấy, và thường được gọi là "Máy 807'’. Cả bộ phận này lẫn chiếc máy phát điện đều đặt sâu dưới lòng đất, vừa để tránh bị địch phá hủy, vừa giữ cho tiếng động cơ không ảnh hưỏng tới làn sống của đài. Sức mạnh truyền âm của đài được ước tính vào khoảng 150 cây số đường bán kính chim bay. Buổi đầu, đài mệnh danh là "Đài Phát Thanh Liên Minh". Khi Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến ra đời, thì lại đổi danh hiệu theo Mặt Trận.

Lạ thay, chiếc máy thô sơ kia, với căn nhà tranh vách đất, không ngờ đã đưa tới kết quả tốt đẹp ngoài sức tưởng tượng. Hàng ngày, vào lúc 8 giờ tối là giờ phát thanh thường lệ, đồng bào các tỉnh Miền Nam nghe thấy tiếng nhạc hiệu quen thuộc phát ra từ một chiếc đàn Mandoline của nhạc sĩ Trần Ngọc, tiếp theo là lời xướng ngôn viên: "Đây, Đài Phát Thanh chiến khu, tiếng nói Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến Việt Nam", rồi lại tiếp bản Quân ca vang lên hùng hồn lanh lãnh. Nội dung chương trình hàng ngày gồm một bài bình luận chính trị, một số tin tức về kháng chiến, rồi đến phần ca nhạc chiến đấu. Đài luôn luôn giữ được ba thứ tiếng Việt, Anh và Pháp, sau này có thêm phần Hoa và Miên ngữ.

Ban Anh ngữ của đài giao cho Trung Úy Bút. Người này vốn là một cựu Trung Uý phi công Đức Quốc Xã, tên thật là Buck, được Việt Nam hoá cho dễ đọc. Anh bị Pháp bắt làm tù binh sau Đệ Nhị Thế chiến, gia nhập đoàn quân Lê Dương Pháp sang Đông dương chiến đấu. Anh trốn bỏ hàng ngũ, theo Quân đội Cao Đài, rồi lại theo Tướng Thế vào khu, vui lòng chịu sống cuộc đời du kích. Tôi tưởng cũng nên đề cập ít nhiều về người quân nhân ngoại quốc đáng thương này. Anh Bút vừa phụ trách phần Anh ngữ đài Phát thanh, lại vừa làm Huấn luyện viên quân sự tại trường Huấn Luyện Liên Minh. Anh có biệt tài xem thiên văn, đoán thời tiết. Một dạo, Tướng Thế vui vẻ bày cuộc thi đua trời mưa trời nắng với anh em. Tướng Thế được anh Bút bí mật giúp sức, nên bao giờ cũng thắng cả, đoán trúng thời tiết không sai một lần nào. Là vì phải sống trong rừng rậm, nên muốn xem thiên văn, anh Bút yêu cầu cho anh ra một chỗ quang đãng, mà anh bảo là "Cho tôi một ông trời". Ở đấy, anh nằm ngửa hàng giờ xem mây xem gió, đoạn quay về mách riêng với Tướng Thế để thắng cuộc.

Dạo ấy, trong trường Huấn Luyện có một nữ cán bộ tên Thủy, khá xinh đẹp. Bút đem lòng yêu trộm nhớ thầm. Nhưng chẳng bao lâu, Thủy nhận công tác phải đi xa, Bút buồn rầu bỏ ăn bỏ ngủ. Anh thường lắc đầu than thở bằng câu tiếng Việt "Thủy đi, Bút buồn" Anh em thấy thế bèn đâm ra trêu chọc Bút. Tại đài Phát Thanh lại có viên Thiếu Úy Toại vốn có tính hài hước. Anh này nghịch ngợm dạy cho Bút một bài hát dị lạ thường. Bút nào có hiểu biết hết ý nghĩa, nên cố gắng học thuộc lòng, và khi được mời mọc khẩn khoản, thì anh cất tiếng ca như sau:

‘‘Thục con mắt, lắc hầu bao, thù cha, hại mẹ, bỏ cửa đốt nhà’’ v..v… Không ai có thể nín cười được. Chính tôi cũng chả hiểu bài hát kia có ý nghĩa gì mà Thiếu Úy Toại lại đem dạy cho người anh em như thế. Nào đã hết đâu. Bút còn được Toại dạy ca vọng cổ nữa mới là chuyện lạ. Câu ca vọng cổ nổi danh của Bút như thế này: ‘‘Than ôi, một hai ba bốn năm cu li, ăn cơm với muối, luống những đoạn trường!’’… Mỗi lấn Bút ca, mắt anh nhắm nghiền với tất cả nỗi đau khổ, vì khi anh hạ thấp giọng cuống chữ “trường’’, thì anh em cười nghiêng cười ngả, cười ngả, cười chảy cả nước mắt. Thấy vậy, Bút đâm nghi và tức. Hơn một lần, anh ăn mặc quần áo chỉnh tề, đội mũ chào mào lên, rồi bước thẳng tới Bộ Tư Lệnh, «kiện» việc trên với Tướng Thế và tôi mà anh gọi là ‘’ Gentleman’’. Chúng tôi phải cố xử cho xong câu chuyện quái gở này.

Trong cuộc sống gian lao thiếu thốn, Bút chịu đựng tất cả, chỉ có điều là anh chê món cá mắm của người Việt ta, mà anh bảo là ‘‘Cá chết ba năm, không ăn được’’! Mùa Noël năm 1951, chúng tôi cám cảnh tha hương lữ thứ của anh, nên đặc biệt tặng anh một chai rượu Bia với ít bánh ngọt? Anh khoác đủ lễ bộ quân phục vào mình, rồi đủ lễ bộ quân phục vào mình, rồi ra giữa bãi trống, ngồi một mình vừa uống rượu vừa khóc! Càng về sau, Bút càng bị bệnh sốt rét rừng khá nặng. Người anh đã cao, lại quá gầy ốm, trông chả khác nào một cành tre trụi lá. Anh hết lòng quý mến chúng tôi, tưởng là trọn đời gần nhau. Nào hay trong trận đánh ở gò Sơn Tây vào hồi tháng 3 năm 1953, chúng tôi bị lũ cộng sản âm mưu báo cáo với Pháp để Pháp tới tấn công bất thình lình trở tay không kịp, khiến Bút bị Pháp bắt khi anh đang tắm rửa ngoài giếng. Nghe đâu anh đã được Pháp trả về quê hương, và từ đó không được tin tức gì của anh nữa cả. Ngoài anh Bút ra, trường Huấn Luyện Liên Minh còn có thêm 2 cựu sĩ quan Nhật cũng đều khá tài giỏi. Họ giúp ích rất nhiều trong chương trình huấn luyện.

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG V
HAI QUẢ BOM SAIGON CUỘC THÁCH THỨC ĐẦU TIÊN VỚI PHÁP

Tiếng nói hằng đêm của đài Phát thanh Chiến khu như chọc vào tai Pháp, khiến Pháp ngày càng sốt ruột, không thể ngồi yên. Chúng tôi biết việc gì phải đến rồi sẽ đến, và chúng tôi chuẩn bị cả vật chất lẫn tinh thần, sẵn sàng đối phó.

Ngày 28 tháng chạp năm Tân Mão, nguồn tin riêng của gia đình Tướng Thế cho hay Pháp sắp đổ bộ tấn công. Mọi người nhanh chóng lìa bỏ căn cứ, rút vào rừng sâu. Ngoài vũ khí cá nhân và lương thực thường lệ, mỗi chiến sĩ Liên Minh đều nhận được một phần quà đặc biệt gồm bánh tét, bánh ít, bánh chưng, để gọi là hưởng cái Tết đầu tiên ở trong rừng. Số là, trong mấy ngày giáp Tết, đồng bào ngoài thành bỗng chạnh lòng tưởng nhớ anh em, phần đông là con cháu họ, nên tự động rủ nhau tổ chức tiếp tế quà Tết. Vì đường vào khu khó khăn, lại sợ dẫm phải mìn chống nguy hiểm, đồng bào chẳng biết hỏi ai để trao quà bánh. Họ bèn nghĩ ra cách thức đơn giản là cứ việc mang các thứ bánh trái chất ngay nơi bià rừng, mỗi nơi thành từng đống cao vời vọi. Họ đốt một mớ nhang cắm lên trên, rồi lặng lẽ bỏ đi. Quân liên lạc bắt gặp, lấy làm lạ, chạy về báo cáo với Tướng Thế. Ông đoán biết đây là quà tặng của đồng bào đạo hữu ngoài thành, nên hạ lệnh cho mang về, mặc dù không biết rõ ân nhân là ai. Các chiến sĩ mừng thầm, vì khi chống giặc, họ có thể ăn bánh thay cơm ít nhất cũng đôi ba ngày, đỡ phải nấu nướng củi lửa.

Nhưng hôm ấy Pháp lại chẳng cử động gì, nguồn tin kia tỏ ra thất thiệt. Chúng tôi lại lần lượt trở về căn cứ cũ. Dù sao trường hợp ấy ít ra cũng đã giúp Liên Minh kiểm điểm lại hàng ngũ, rút kinh nghiệm về cách thức điều động binh tướng trong hoàn cảnh du kích. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn thấy áy náy trong lòng. Chẳng phải áy náy vì sắp bị Pháp tấn công, mà chính là áy náy vì nỗi lo sợ Pháp sẽ "không đánh" mình. Thành thực mà nói, khi rút quân ra khu tuyên bố đánh Pháp, đánh cộng sản, Tuớng Thế chí mong tạo một tiếng vang trong dư luận quốc nội và quốc tế. Đem một lực lượng võ trang trứng mỏng tí hon chống lại một đoàn viễn chinh hùng hậu, quả là sự liều lĩnh phi thường, nhưng là sự liều lĩnh được tính toán kỹ. Thảng hoặc Pháp cứ làm ngơ, không thèm đụng chạm tới, thì cũng khá nguy hiểm cho danh nghĩa kháng chiến. Qua giây phút sôi nổi buổi đầu, nếu chẳng thấy gì khác xảy ra, dư luận sẽ lãng quên. Đã quyết tâm chiến đấu, thì phải chiến đấu thiết thực, phải nhận chịu một cái giá nào, dù mắc dù rẻ.

Thành thử khi thấy Pháp tung tin tấn công, rồi lại im lìm, Tướng Thế rất lấy làm điều suy nghỉ. Đôi bên như có vẻ rình rập nhau, dò dẫm nhau. Lại đến lượt Tướng Thế không thể ngồi yên, mà phải ra tay trước, phải tạo cái thế thượng phong đối với Pháp. Một hôm, ông bỗng kiếm đâu ra được 2 quả bom Pháp loại 25 ký tức là 50 cân Anh, bom do Pháp ném xuống một nơi nào đó bị tịt ngòi không nổ, và được binh sĩ khiêng về đặt giữa sân Bộ Tư Lệnh. Tướng Thế dự tính một việc làm táo bạo. Ông cho đòi Trung Tá Cảm Văn Tỵ, một chuyên viên chất nổ vào hàng lỗi lạc, về Bộ Tư Lệnh cho ông dạy việc. Trung Tá Tỵ vốn là Giám Đốc Quân Y Cục kiêm Giám Đốc Công Binh xưởng Liên Minh. Ông này liền được lệnh xem xét lại 2 quả bom kia, tăng cường gấp hai sức công phá của bom, rồi gài vào mỗi quả bom một cơ phận nổ tự động do mình quyết định giờ phút trước, mà các nhà quân sự Âu Mỹ gọi là "time-bomb".

Chúng ta nên biết, khoảng đầu thập niên 50, hai tiếng "time-bomb" hay là mìn tự động nổ đúng giờ, hãy còn rất xa lạ đối với dư luận. Ngay như cộng sản cũng chỉ mới biết xử dụng loại mìn có giây điện nối liền với hạt nổ, rồi một du kích chôn dấu giây kia dưới lòng đất, chạy thật xa tìm chỗ an toàn, rồi mới chắp hai mối nóng nguội của cái bình điện "Ắc quy" xe hơi, để gây tiếng nổ. Vậy mà lúc bấy giờ Trình Minh Thế đã biết dùng "time-bomb" một cách chính xác, hữu hiệu phi thường, khiến ta có thể ban cho Thế cái danh hiệu "Cha đẻ" đầu tiên của "time-bomb" trên chiến trường Đông Dương.

Sự phát minh của Trình Minh Thế như sau: Trong lòng quả bom không đặt hạt nổ như thường lệ, mà là một mớ thuốc pháo rất nhạy lửa. Giữa mớ thuốc pháo ấy - chế tạo bằng phân dơi - là một cái bóng đèn Pin nhỏ bằng đầu ngón tay, loại vẫn thường bán ngoài thị trường. Trung Tá Cảm Văn Tỵ đích thân dùng một chiếc dũa, mài cho bóng đèn Pin kia thủng ra một lỗ nhỏ ở trên đầu, rồi lại nhét đầy thuốc nổ vào trong bóng đèn ấy. Ở phiá dưới bóng đèn, ông gắn 2 đường giây điện rất nhỏ và ngắn. Giây nóng nối liền với một cái chốt tí hon bằng kim khí được hàn trên mặt một chiếc đồng hồ đeo tay của đàn bà (chỉ còn lại chiếc kim chỉ giờ mà thôi). Muốn bom nổ vào giờ nào, phút nào thì cái chốt kia phải được hàn kỹ vào giờ phút ấy. Đường giây nóng kia lại được nối tiếp vào chiếc cọc "Dương" của một cục Pin đèn. Còn đường giây nguội đi từ bóng đèn Pin ra thì được nối vào cọc "Âm" của cục Pin. Như vậy có nghĩa là khi chiếc kim chỉ giờ của đồng hồ quay đủ một vòng, chạm trúng cái chốt tí hon bằng kim khí trên mặt đồng hồ, thì hai mối âm dương gặp nhau tạo ra điện lực, bóng đèn Pin sẽ bật sáng lên, mở thuốc pháo bên trong bóng đèn phát cháy, lan ra ngoài, tác động tới cả khối chất nổ bị dồn ép của quả bom. Và thế là quả bom nổ tung, đúng giờ đúng giấc đã định trước, không sai một li một tí. Điều đáng nói là chiếc bóng đèn Pin kia rất bén nhạy, chỉ cần một giòng điện cỏn con cũng đủ sáng lên. Lại thêm mớ thuốc nổ trong bom được tăng cường gấp đôi, thành thử bom gây ra sức tàn phá thật ghê gớm.

Phần chế tạo bom tự động đã xong, bây giờ phải làm sao đây? Tướng Thế sai người thân tín lén lút về Saigon, tới đường Nguyễn Huệ, thuê 2 chiếc xe Hoa Kỳ lộng lẫy. Thuở ấy, đường Nguyễn Huệ là nơi tập trung các loại xe Hoa Kỳ sang trọng mà những gia đình có việc cưới hỏi luôn luôn thuê mướn. Tài xế 2 chiếc xe Dodge sơn màu nhà binh vui mừng nhận được mối bở, xăm xăm chạy lên ngả Tây Ninh, chẳng chút nghi ngờ. Nhưng khi tới bến đò Cẩm Giang, họ mới được biết một tin sét đánh. Liên Minh đang cần dùng 2 chiếc xe kia! Cùng với mớ tiền thưởng to tát, họ được phép tự do trở về Saigon, nhưng xe thì bị giữ lại. Một người miễn cưỡng nhận điều kiện ấy, còn người kia thì quá lo sợ cho hậu quả, nên tình nguyện ở lại, theo luôn vào chiến khu.

Trung Tá Tỵ bèn đem bom kia gài vào 2 chiếc xe, dấu kín ở dưới gầm xe. Bây giờ tiếp đến màn "đạo diễn" cho 4 chiến sĩ Liên Minh diễn "vở kịch tử thần". Đại Úy Nguyễn Văn Sâm (một cựu quân nhân ONS - ouvrier non spécialiste - từng sang Pháp tham dự Đệ Nhị Thế Chiến bên Phi Châu), Thượng Sĩ Tài, và 2 nữ cán bộ duyên dáng được chọn lựa làm diễn viên. Bốn người phân nhau ra làm hai cặp "uyên ương" ăn mặc sang trọng, chồng lái xe, vợ ngồi bên cạnh, nghiêm chỉnh thi hành mệnh lệnh là bằng mọi cách, phải lái hai chiếc xe kia tới đậu trước rạp Hát Lớn Saigon (sau đổi làm trụ sở Quốc Hội) và trước Tòa Đô Chính Saigon, chậm nhất là 10 giờ 30 sáng hôm mồng 9 tháng 1 năm 1952. Xong đâu đó, họ phải tức khắc tìm đường lẩn tránh, rồi trở về chiến khu báo cáo công tác. Trong bốn "diễn viên" kia, chỉ 2 người đàn ông được biết rõ mục đích và sự hiểm nguy của công tác. Họ còn được lệnh, trước khi bỏ xe chạy trốn, phải gài thêm một bộ phận tự động khác trong xe, cắm chìa khoá xe trong ổ khoá, làm như vô tình bỏ quên. Đó là một cạm bẫy, vì nếu có kẻ nào định đánh cắp xe, thấy có sẵn chìa khoá thì mở máy, bom kia sẽ nổ ngay tức khắc, không cần đợi tới giờ giấc, sở dĩ ai nấy phải lìa địa điểm chậm nhất lúc 10 giờ 30, vì bom đặt dưới gầm xe đã được quyết định phát nổ đúng lúc 11 giờ sáng hôm ấy. Sau này, theo lời Đại Úy Sâm thuật lại, thì ông với cô ''vợ hờ'' trẻ trung duyên dáng còn có thì giờ đóng một màn kịch, làm bộ cãi vả nhau một trận bên cạnh chiếc xe cho các cảnh sát viên đứng gần đó trông thấy. Nhiên hậu mới len lén tách nhau ra mỗi người một ngả, ''vắt giò lên cổ'' mà chạy. Còn cặp ''uyên ương'' thứ hai thì nhanh chân chạy lên ngả Gò Vấp, về tới chiến khu bình yên vô sự.

Quả đúng như dự tính, cả 2 quả bom cùng phát nổ một lượt, và cùng đúng lúc 11 giờ. Sự thiệt hại về vật chất thật đáng kể, nhiều xe đậu bên cạnh bốc cháy, nhưng may mắn không có ai bị thiệt mạng. Thành phố Saigon náo động hẳn lên. Nhà cầm quyền Pháp đang mở cuộc điều tra, thì ngay đêm hôm ấy đài Phát Thanh Liên Minh lên tiếng xác nhận chính cá nhân Trình Minh Thế đã cố ý ban cho Pháp một lời cảnh cáo nghiêm trọng bằng vụ nổ kia. Chẳng nói ai cũng biết, Pháp căm giận đến bực nào. Vô hình chung, nhà cách mạng họ Trình đã công khai tuyên chiến với Pháp, khiêu khích Pháp bằng một hành động làm cho Pháp mất mặt. Trong bản tin ngày hôm sau, tờ báo Pháp ngữ "Le Journal D'Extrême Orient" tường thuật đầy đủ chi tiết về 2 quả bom, và cũng chính tờ báo ấy đã loan tin Bộ Tư Lệnh Tối Cao Pháp quyết định đưa Trình Minh Thế ra xử khiếm diện trước Tòa án Quân Sự, và lên án tử hình! Khi tôi phiên dịch bản tin kia cho Tướng Thế nghe, ông cất tiếng cười một cách ngạo mạn. Khoảng 2 tuần lễ sau, thành phố Nam Vang của Cao Miên cũng lại bị náo động vì mấy vụ nổ khác, cũng do Trình Minh Thế gây ra cả.

° ° °

Tưởng cũng nên nói rõ thêm là hôm tiễn chân 4 chiến sĩ Liên Minh về Saigon thi hành công tác, Tướng Thế quá lo ngại về những rủi ro bất trắc dọc đường có thể làm họ uổng mạng, nên ông bí mật ra ẩn mình tại nhà một đồng bào đạo hữu ở bến Cẩm Giang, theo dõi sát nút. Cả một hệ thống liên lạc nằm dọc theo con đường Saigon - Tây Ninh, sẵn sàng báo cáo theo lối giây chuyền. Còn giữa Tướng Thế và tôi thì đã có một đường "giây nóng" bằng máy liên lạc vô tuyến (lúc ấy chưa thiết lập hệ thống điện thoại một giây). Được tin nào, ông chuyển về tôi ngay tức khắc với đầy đủ chi tiết để kịp loan báo trên đài Phát Thanh. Nhờ vậy mà nội nhật hôm ấy, đài Phát Thanh Liên Minh không ngần ngại xác nhận kết quả vụ bom nổ, cả trên các chương trình Anh ngữ và Pháp ngữ.

Cũng từ ngày có hai quả bom lịch sử nói trên. Trung Tá Cảm Văn Tỵ sản xuất hàng trăm hàng ngàn loại mìn nhỏ tự động theo cùng một thể cách như đã diễn tả. Ông cải tiến kỹ thuật của ông tinh vi cho đến nổi mìn tự động có thể dấu ngay trong một quản bút máy, hoặc một chiếc bật lửa. Lúc bấy giờ, đồng hồ phụ nữ bán tại Saigon bỗng nhiên lên giá vùn vụt. Ai ngờ chính Liên Minh đã gây ra nạn đầu cơ về một món hàng nhỏ mọn. Vì Trung Tá Tỵ tích trữ cả "bao bố" đồng hồ phụ nữ, càng nhỏ nhắn bao nhiêu càng được ông chiếu cố bấy nhiêu. Được biết Pháp đã ra lệnh cấm các quân nhân của họ không được đụng chạm tới bút máy hoặc bật lửa của ai không quen biết, vì đã có một số binh sĩ bị thương hoặc chết vì dùng nhằm những loại đó.

Nói tiếp về kỹ thuật dùng bóng đèn Pin làm ngòi nổ, nó có cái lợi là khi quân du kích cần giật mìn một chiếc xe địch đang phóng nhanh trên đường, họ có thể chờ cho đúng lúc xe ấy chạy ngang qua bãi mìn mớỉ bấm điện, mìn cũng sẽ nổ ngay, kịp phá hủy chiếc xe. Khác với kỹ thuật thô sơ của du kích cộng sản là dùng một loại giây điện gọi là "Résistant" không mấy bén nhạy. Vì từ lúc bấm điện cho tới lúc mìn nổ được, nhanh nhất cũng phải nửa phút đồng hồ, giây "Resistant" mới bốc nóng tạo ra mồi lửa. Mìn nổ được thì mục tiêu đã biến đi đâu mất!

Quá phấn khởi trước thành quả tốt đẹp, TướngThế bỗng đâm ra chơi trò nghịch ngợm, nhét những hạt nổ tí hon vào giữa các điếu thuốc lá của ông. Số là hồi đó, thuốc hút rất hiếm hoi trong khu, liên lạc ngoài thành bị khó dỗ, không tiếp tế đuộc. Thành thử một số anh em trong Bộ Tư Lệnh thường lén lút "chọt" bớt đôi ba điếu thuốc của "Ông Tướng" cho đỡ thèm. Mãi rồi Tướng Thế đâm ra nghi có người anh em "chơi xấu" mình, ông bèn âm thầm nhét hạt nổ trong điếu thuốc, rồi làm bộ bỏ đấy mà đi. Anh nào tưởng bở "nhào dô", đốt thuốc phì phèo, lửa bắt tới hạt nổ cháy xòe lên, "tá hỏa tam tinh" kêu la oai oái, suýt bị cháy xém cả râu cả tóc. Ai nấy ôm bụng cười. Trung Tá Tham Mưu Trưởng Trương Lương Thiện và Thiếu Tá Đổng Lý Văn Phòng Nguyễn Văn Đờn nhà ta cũng đã từng là nạn nhân của trò chơi có tính cách quân sự kia.

Nhờ vậy mà cái nạn "chuột tha thuốc lá" không còn nữa, "Ông Tuớng" đỡ phải canh chừng như trước.

 

 

 

CHƯƠNG VI
PHÁP TẤN CÔNG CHIẾN KHU BÙ LU

Sau vụ bom Saigon, sự đương đầu bằng vũ lực giữa Liên Minh với Pháp càng trở nên chắc chắn và gần gũi hơn. Khiêu khích cho Pháp đánh mình, Liên Minh không khờ dại đem cả chủ lực ra "nướng" với họ. Vì vậy mà Liên Minh thi hành kế sách "tránh voi không xấu mặt nào", nhưng mặt khác, vẫn theo đường lối du kích mà gây cho Pháp càng nhiều thiệt hại càng tốt.

Mãi tới ngày mồng 4 tháng 3 năm 1952, chỉ sau Tết ít lâu, bất thình lình Pháp nã trọng pháo vào tiền đồn Gò Ngải lúc trời vừa sáng. Đó là dấu hiệu Pháp mở cuộc tấn công chính thức. Thiếu Tá Hồ Đức Trung phải bỏ Gò Ngải chạy về Bộ Tư Lệnh.

Chẳng bao lâu, Pháp đã vào tới trong rừng, mở đường cuộc tiến binh bằng những tràng pháo kích thật dữ dội. Chúng phá hủy ngay căn cứ Bộ Tư Lệnh, trường Huấn Luyện Quân Sự, và Đài Phát Thanh bấy giờ đã bỏ trống. Nhưng chúng cũng đã nếm ngay mùi thiệt hại. Trước khi rút bỏ căn cứ, quân Liên Minh không quên để lại tặng Pháp một số cạm bẫy giết người. Nào tạc đạn, nào mìn, được chôn dấu khắp nơi. Giữa nền nhà Bộ Tư Lệnh, có một quả mìn khá mạnh được gài sẵn trong một cái ấm nước, giả vờ bỏ lỏng chỏng với bao nhiêu vật khác, làm ra vẻ quân Liên Minh quá vội rút lui, không kịp mang theo. Một sĩ quan Pháp, được biết là Thiếu Tá, vốn sẵn mối căm giận Trình Minh Thế trong lòng, lại được biết đây là chỗ ở của Trình Minh Thế; nên hung hăng đưa chân đá tung cái ấm nước kia đi. Mìn phát nổ, viên sĩ quan kia bị tan xác tại chỗ với một số binh lính, số bị thương cũng khá nhiều. Do đó, Pháp bắt đầu dẻ dặt, không dám xông xáo như trước nữa.

Trận chiến diễn ra khắp mọi nơi, kéo dài trên dưới khoảng 10 ngày. Là vì, như Tướng Navarre đã đe dọa, Pháp quyết ''tiêu diệt'' Liên Minh bằng trận này. Pháp khởi sự đốt rừng sáng rực cả bầu trời, vừng trăng biến thành màu đỏ. Thú rừng bị sát hại vô kể, nhưng về phần Liên Minh thì chưa có gì thiệt hại. Trong rừng già bưng bít, với những nẻo đường mòn quanh co rất dễ bị lạc lối, quân đôi bên tìm kiếm nhau như trẻ con chơi trò cút bắt. Pháp vừa bỏ đi, Liên Minh đã tới. Liên Minh mới quay gót, Pháp lại xuất hiện. Nhiều lần, đôi bên chỉ cách nhau chừng vài trăm thước mà vẫn không trông thấy nhau. Pháp tới đâu, để lại dấu vết tới đó, thật dễ phân biệt. Pháp nhận viện trợ của Mỹ để theo đuổi chiến tranh Việt Nam, nhưng lại tỏ ra hào hoa phung phí. Họ bỏ lại sau lưng khá nhiều món đồ hộp quý báu, khiến anh em Liên Minh vui mừng nhặt lấy các món thực phẩm của họ, nhất là trong khi đang bị giặc bao vây, không tiện củi lửa nấu nướng gì được cả.

Trọng pháo Pháp vẫn nổ đều đều trong những ngày Pháp hành quân. Nổ vào những khu rừng mà Pháp nghi có Liên Minh ẩn náu bên trong. Rừng Bù Lu thỉnh thoảng có vài nơi chí có gò mối với thứ cây gọi là "mật cật", trồng giống như loại cây chằm nón tơi, cao chỉ bằng đầu người. Rừng trống trơn, với hàng ngàn hàng vạn gò đất mối hình tròn, cao chừng một thước. Anh em Liên Minh đi qua những nơi ấy, rủi bị trọng pháo áp đảo, chỉ còn có cách ngồi núp bên gò mối, bịt tai lại trước những tiếng nổ chát chúa muốn vỡ cả tim, hộc máu mồm máu mũi, phó mặc tính mệnh cho may rủi. Từ nơi quốc lộ Saigon - Tây Ninh, và từ phía Cao Miên, Pháp bắn trọng pháo khá tàn bạo. Bắn theo hình chữ nhất, hình cánh cung, hình rẽ quạt, rồi hình chữ nhật, đan qua đan lại không còn thiếu sót một khoảng đất nào. Đất gò mối bị hất tung lên cao, rơi nhằm chúng tôi suýt vỡ sọ.

Hơn một lần, một quả đạn pháo cỡ 105 li rơi cách chúng tôi chừng vài thước, ngay trước mặt. May thay quả đạn ấy lại tịt ngòi không nổ, nếu không, ắt cả đoàn người đã phải bỏ thây. Một đồng chí đã già yếu - Thiếu Tá Vũ Ước - ngồi núp đạn bên cạnh tôi. Anh vừa nắm tay tôi, vừa lâm râm đọc kinh cầu nguyện Cao Đài, khiến tôi thấy xót thương cho cả một đoàn người đang câm nín đối diện với cái chết. Anh quê đất Bắc, vào Nam đã lâu. Hồi 1945, anh gia nhập hàng ngũ Việt Minh chống Pháp. Nhưng ít lâu sau, anh lìa bỏ Việt Minh theo Cao Đài, hết lòng mến phục Tướng Thế, nên cùng theo vào khu với ông, mặc dù tuổi anh đã cao. Sau cuộc tấn công này, anh bị đau nặng và mất. Hôm chôn cất anh, tôi đã thay mặt đoàn thể đọc một bài điếu văn. Tướng Thế tưởng tình anh, có sai người về Tòa Thánh, mua cho anh một cỗ quan tài. Rủi thay, cỗ quan tài lại không vừa kích tấc, vì khi chết, dạ dày anh căng lên quá cao, hơn cả một phụ nữ mang song thai, khiến xác chết không sao bỏ lọt vào hòm và nắp hòm cũng không sao đậy lại được. Cuối cùng, đành phải gởi thây anh vào một tấm đệm lát với 7 tấm tre, rồi hạ huyệt. Đau lòng thay, khi vừa lấp đất chưa kịp phủ kín người anh, thì bà vợ anh giắt theo đứa con nhỏ cũng vừa chạy tới, chẳng còn kịp trông thấy mặt chồng lần cuối. Tôi và bao nhiêu anh em khác đều rơi nước mắt, im lặng cúi đầu, trong khi người góa phụ đau khổ kia ôm con trẻ trong lòng, ngồi bệt bên bờ huyệt mộ, khóc than kể lể thảm thiết. Tôi nghĩ không còn cảnh tượng nào xót xa hơn cái cảnh tượng đó.

Tới đây, tôi thấy cần nói thẳng ra một điều quan trọng, nói đúng ra là một biến cố lịch sử đau thương chung cho giáo phái Cao Đài, mà tôi đã để bụng suốt 33 năm qua, ngần ngại mãi không dám tiết lộ trước công luận. Đó là việc Trung Tuớng Nguyễn Văn Thành, người anh đồng đạo ngày nào của Tướng Thế, đã chính thức bắt tay với Pháp, quay lại chủ trương "diệt Thế" bằng cách gửi quân Cao Đài theo Pháp vào tấn công chiến khu Bù Lu trong trận đánh kể trên. Toán quân của Tướng Thành được đặt dưới quyền điều động trực tiếp của Đại Tá Tham Mưu Trưởng D.Q.D. Người anh em này, theo lệnh trên, đã có mặt bên cạnh quân viễn chinh Pháp trong cuộc tấn công. Mọi người trong chúng tôi, khi biết chuyện, đều sửng sốt bồi hồi, nhất là Tướng Thế. Ông tỏ ra cực kỳ đau khổ trong giây phút đầu tiên, rồi sau đó, ông trở nên giận dữ, sẵn sàng đương đầu với biến cố. Tôi bắt gặp trên gương mặt ông tất cả nỗi tuyệt vọng trước hành động tương tàn "cạn tàu ráo máng" của Tướng Thành. Dẫu ông với Thành xưa nay xung khắc nhau trên lập trường chiến đấu, nhưng ông không bao giờ tưởng tượng nổi là ngày nay Thành lại nỡ đem quân Cao Đài đánh lại quân Liên Minh, cả hai đều cùng một nguồn gốc, một tín ngưỡng. Bất thình lình lâm vào thế chẳng đặng đừng, ông hạ lệnh cho binh sĩ Liên Minh phải hết sức dè dặt, chỉ được phép nổ súng trong trường hợp bất khả kháng mà thôi.

Một binh sĩ Liên Minh phụ trách đặt mìn trên các chiến trường, tình cờ chạm mặt với thượng cấp cũ của anh ngày xưa. Anh không bỏ chạy, cũng không nổ súng, mà thản nhiên đứng lại kính cẩn đưa tay lên chào, và nói: - Thưa Đại Tá, chỗ này em đã đặt mìn, xin Đại Tá đợi em gỡ xong rồi hãy đi. Ngoài mẩu chuyện nho nhỏ thương tâm kia ra, còn bao nhiêu chuyện khác đáng ghi nhớ giữa anh em Cao Đài và Liên Minh. Trên thực tế, toán quân Cao Đài hiện diện trong cuộc hành quân là kẻ thù của anh em Liên Minh, nhưng trên danh nghĩa, cả đôi bên vẫn tiếp tục coi nhau như "anh em đồng đạo" ngày nào. Họ âm thầm tự động hưu chiến với nhau, nhất thiết không ai chịu bắn giết ai cả. Nhờ vậy mà chủ trương tối hậu của Tướng Nguyễn Văn Thành khi gửi quân theo Pháp đã bị vô hiệu hóa hoàn toàn. Tôi đã được trình xem một số bằng chứng về cái tình nghĩa đậm đà ấy. Một binh sĩ Cao Đài đã dùng vật cứng viết mấy giòng thư ngắn trên một cái hộp thiếc đựng thức ăn của Pháp. Đại ý cho hay ngoài thành ai nấy rất buồn khi phải tham dự cuộc hành quân, bất đắc dĩ phải đi, chứ chẳng có lòng nào đánh đấm nhau nữa. Lại một người khác viết nhắn gửi bạn: "Vợ con mày vẫn bình yên. Chúc mày được luôn luôn khỏe mạnh".

Tôi không biết Tướng Thành đã suy nghĩ kỹ chưa, trước khi tở mặt làm chuyện "huynh đệ tương tàn", gà nhà bôi mặt đá nhau. Tôi nghĩ rằng ông đã bị Pháp làm áp lực phải tham chiến bên cạnh họ, và ông đã phải nhượng bộ trước áp lực đó, nhằm củng cố địa vị cá nhân ông. Chứ dù thâm tâm ông có ghét Thế tới đâu chăng nữa, ông cũng không thể đầu hôm sớm mai đổi bạn ra thù, mà gây nên một biến cố trọng đại làm sứt mẻ uy tín Cao Đài quá lớn như thế. Việc đã trót xảy ra rồi, cá nhân ông phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về cái hành động quá ư tội lỗi của ông, và tôi không muốn kết tội ai khác. Thưở ấy, anh em hết sức căm giận Thành, và chính tôi đây cũng thấy là không thể tha thứ được. Nhất là từ ngày ấy trở về sau, Liên Minh càng ngày càng thêm khốn khổ điêu đứng, không phải khốn khổ điêu đứng vì thực dân Pháp rắp tâm tiêu diệt, mà phần lớn vì thái độ nghiệt ngã của Tướng Thành qua bộ máy quân sự dưới quyền ông. Nói trắng ra, là qua bàn tay của Trung Tá Nguyễn Văn Cát, Trưởng Phòng Nhì của Quân Đội Cao Đài. Cát tỏ ra đắc lực đối với Thành, đối xử với Liên Minh một cách tàn tệ, bắt người Liên Minh về tra tấn đánh đập dã man không khác gì đối với cộng sản. Dĩ nhiên là Cát chỉ biết nhắm mắt thi hành mệnh lệnh của Thành mà thôi. Tôi đã công khai nói với Tướng Thế rằng tội ác của Thành chỉ có cái chết mới đền bồi xứng đáng.

Ấy vậy mà 12 năm sau, năm 1964, ai ngờ tôi lại đổi ý. Chẳng những tôi tha thứ Thành về cái tội đã đóng góp một phần thiết thực vào chiến dịch đàn áp Liên Minh, mà tôi còn có thiện tâm muốn giúp Thành có một cuộc sống dễ thở hơn. Bị Đức Thầy Phạm Công Tác cất chức hồi năm 1954 để bổ nhiệm Tướng Nguyễn Thành Phương lên thay thế, Thành đâm bất mãn, ngả theo Bình xuyên để phải mắc nạn tại khu rừng Sát hồi 1955. Sau khi bị Tướng Dương Văn Minh bắt sống tại Rừng Sát, Thành bị đày ra côn đảo mãi tới khi bọn đảo chính Dương Văn Minh lên cầm quyền, Thành mới được cái gọi là "Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng" phóng thích. Thành lui về sống âm thầm nơi ngôi nhà riêng của ông tại Thánh địa Tây Ninh. Tôi vốn quen biết Dương Văn Minh từ năm 1955, khi ông ta còn là Trung Tá chưa có tên tuổi gì. Tôi bèn viết một bức thư, sai một người anh em thân tín, anh Nguyễn Tam Đa lên tận Tây Ninh, đón Thành về Saigon để tôi đưa vào giới thiệu với Dương Văn Minh bấy giờ là Quốc Trưởng. Thành ngần ngại lắm, không muốn gặp lại kẻ đã bắt mình ngày xưa. Nhưng tôi ép buộc Thành phải đi, để diện đối diện mà quên đi chuyện cũ. Hôm Dương Văn Minh tiếp Thành tại Dinh Gia Long, có tôi chứng kiến, Minh tỏ ra cởi mở, thân thiện. Nhân dịp đó, Thành lại được Thủ Tướng Nguyễn Khánh tiếp kiến, tặng cho một chiếc xe riêng, rồi giới thiệu với Tướng Phạm Xuân Chiểu để Thành lãnh một trách nhiệm trong tổ chức Hội Cựu Chiến Sĩ Việt Nam với trụ ở đặt tại đường Trần Hưng Đạo.

Sở dĩ tôi hành động như trên, vì thâm tâm tôi rất yêu mến các chiến sĩ Cao Đài, mà riêng với Tuớng Thành thì tôi lại tiếc cho sự nghiệp của ông. Càng nghĩ tới người mệnh bạc Trình Minh Thế bao nhiêu, tôi càng thấy xót thương Thành bấy nhiêu. Tất cả nỗi căm giận ngùn ngụt trong lòng tôi ở một thời xa xua, giờ đã biến đi hết, chỉ còn lại một tình thương yêu đùm bọc các anh em thất thế, ngã ngựa. Thành dù sao cũng là kẻ có tài, có uy tín, trong thời gian cầm đầu Quân Đội Cao Đài, Thành rất được các cấp kính nể. Từ một dĩ vãng tối tăm bước lên tới địa vị Tổng Tư Lệnh Cao Đài không phải là chuyện dễ. Tiếc thay, một tính toán sai lầm đã chôn vùi cả sự nghiệp của Thành.

Trở lại trận chiến Bù Lu, tôi muốn nhấn mạnh về cái tình trạng "nửa thù nửa bạn" giữa người Liên Minh với người Cao Đài nó làm cho cuộc chiến thêm phức tạp. Với sự đồng ý của Tướng Nguyễn Văn Thành, màn phá hủy kho lương thực chủ yếu của Liên Minh đã diễn ra một cách khá lạ lùng, mường tượng như cái lối đánh của Khổng Minh thời Tam Quốc ngày xưa vậy. Kho lương thực kia chứa đựng hơn 70.000 giạ thóc, định để nuôi quân ít nhất cũng dăm sáu tháng. Kho ấy được thiết lập giữa rừng, chung quanh là cả một vòng đai mìn có tới hàng nghìn quả. Tôi không biết ai đã đưa ra sáng kiến dùng trâu để chống lại mìn. Một đàn trâu được lùa đi trước, bị quất đau lại bị khủng bố bởi những tràng súng nổ tiếp theo, trâu sợ hãi chạy tán loạn, đâm thẳng vào giữa bãi mìn, chết nằm lăn quay ra khắp nơi. Thành thử các con vật vô tội kia đã bị trí óc thông minh của loài người dùng làm quân cảm tử, mở ra một đường máu an toàn cho lớp quân sau tiến tới. Kho lúa khổng lồ bị đốt cháy, cho mãi 3 tháng sau, lửa vẫn chưa tắt, cứ ngấm ngầm bốc khói duới lớp tro tàn chồng chất. Anh em Liên Minh tiếc của trời, cố gắng cứu vãn một ít thóc còn lại, nhưng cũng chẳng dùng được, vì hạt lúa bị hơi lửa đốt nóng đã nát vụn ra từ hồi nào, không thể xay giã gì được nữa, đành phải vứt đi.

Pháp muốn kéo dài cuộc tấn công để may ra bắt được các nhân vật đầu não của Liên Minh, đặc biệt là Trình Minh Thế. Nhưng Pháp đã hoàn toàn thất bại, có thể nói họ đã về tay không trong trận đó. Chỉ có chút thắng lợi duy nhất là phá nát một ít rừng già, làm hại cây cối thú vật mà thôi. Liên Minh cố ý dụ cho Pháp tiến sâu mãi vào trong rừng già, nhưng Pháp tỏ ra sợ sệt, cứ quanh quẩn nơi mé rừng và nhờ trọng pháo che chở mặt sau cho họ. Về phiá quân Cao Đài, chỉ có Tướng Thành bị lem luốc danh nghĩa, chứ đôi bên chẳng hề tặng nhau một phát đạn nào. Lính Cao Đài còn khéo léo chỉ đường cho Liên Minh tránh đạn Pháp. Chán rồi Pháp phải rút lui.

Tuy nhiên, ảnh hưởng trận đó cũng khá nặng. Một số chiến sĩ Liên Minh sa sứt tinh thần, vì cuộc sống trở nên hết sức lầm than tăm tối. Lương thực bị đốt sạch, cả Bộ Tham Mưu đông đảo mà chỉ còn lại không đầy 15 lít gạo, khiến Trung Tá Trương Lương Thiện phải chia cho nhau nấu cháo tạm lót lòng. Trong thời gian bị tấn công, đã có một sự lạ xảy ra với cánh quân này. Đêm hôm ấy, đêm mồng 10 tháng 3, đoàn người di tản tới một khu rừng gần mạn biên giới Miên Việt. Ai nấy mệt mõi đói khát, mà chung quanh lại chẳng có một giòng suối hoặc một cái giếng hoang nào. Trung Tá Thiện bèn tổ chức đào giếng, và đích thân ông nhảy xuống cái hố sâu hì hục vỡ từng khối đất khô cằn, vì chỗ ấy cao, đất cứng đến độ cuốc xẻng chạm vào thì tóe lửa. Khốn thay, giếng được đào sâu xuống 10 thước, 15 thước, rồi 30 thước, vẫn chẳng thấy một giọt nuớc nào ứa ra cả. Nỗi thất vọng không biết tả sao cho hết. Trước tình thế nguy nan, mọi người đành ngồi bó tay than vắn thở dài. Cứ tiếp tục ngồi lại đây thì sẽ chết khát, mà bỏ đi nơi khác cũng không xong, vì anh em không còn sức lực nào lê gót. Tôi thấy Trung Tá Thiện ôm mặt khóc.

Lạ lùng làm sao! Ngay giữa lúc ấy, bầu trời bỗng tối mịt, rồi một cơn mưa như thác lũ đổ xuống ầm ầm trong khu rừng hoang vắng. Anh em vừa mừng, vừa sợ hãi, không biết tại sao lại có cơn mưa "cứu nạn" bất thình lình như thế đó, cơn mưa không hề được báo hiệu trước, cơn mưa đến đúng lúc đúng thì để cứu sống một toán quân đang bị giặc bao vây. Nhiều người tin tưởng có Thần linh ra tay giúp đỡ, và chung quanh tôi chợt có tiếng kinh tạ ơn nhè nhẹ vang lên đó đây. Riêng phần tôi, dù có muốn tin hay không, thì sự việc hy hữu kia cũng đã rõ ràng trước mắt, khiến tôi hết sức bàng hoàng. Chỉ chốc lát, giếng kia đã chứa đựng một khối nước khá nhiều. Nhưng anh em chưa vội dùng tới nước ấy, mà họ bắt đầu vo gạo nấu cơm bằng thứ nước lũ đọng lại thành từng vũng ở ngay chung quanh họ. Sinh khí đã trở lại thật nhanh chóng.

Sau cuộc tấn công lần đầu vô hiệu quả, Pháp chẳng biết làm gì hơn là ngày một ngày hai nã trọng pháo vào rừng để khủng bố tinh thần Liên Minh. Suốt một năm trời, từ 28 Tết năm Tân Mão tới 25 Tết năm Nhâm Thìn, Pháp chẳng ngừng tay, khiến anh em Liên Minh cứ sống mãi trong cảnh màn trời chiếu đất. Vì lều trại không thể thiết lập dưới con mắt cú vọ của không quân Pháp. Vừa cất xong căn lều nào là Pháp ném bom phá hủy ngay căn lều ấy. Pháp dùng cả những chiếc máy bay vận tải cũ kỹ Junkers từ hồi Đệ Nhị Thế Chiến, mở toang cánh cửa phi cơ, rồi lính Pháp hất xuống những thùng dầu hỏa có gắn một bộ phận phát hỏa. Điều này chứng tỏ Pháp cũng quá nghèo nàn khi theo đuổi cuộc chiến xâm lược.

Hơn một lần, một máy bay cỡ nhỏ hai cánh quạt hạ thấp xuống rừng để thám thính, viên phi công đảo vòng tròn qua đầu chúng tôi một cách ngạo mạn. Tướng Thế đang ngồi dưới bóng cây, thấy thế thì nổi giận, chợt cướp nhanh một khẩu liên thanh trong tay một binh sĩ, gài cơ phận tự động tới mức tối đa, rồi nhắm thẳng phi cơ nhả sạch một tràng đạn. Không ngờ phi cơ trúng đạn, thân phi cơ nghiêng qua nghiêng lại như muốn đâm đầu xuống đất. Cuối cùng dường như viên phi công phải cố gắng lắm mới bay khỏi rừng, biến đi mất. Sau này, Tướng Thế có hỏi thăm một người bạn Mỹ về trường hợp kia, thì được xác nhận là một Thiếu Tá phi công Pháp đã trúng thương và chết. Tôi chắc người ấy đã lái chiếc phi cơ khinh mạn vừa kể.

Nhằm mục đích tiêu diệt kháng chiến Liên Minh, không những Pháp luôn luôn khủng bố bằng các cuộc oanh kích dữ dội của không quân hoặc trọng pháo, mà Pháp còn chính thức mở ra cả thảy 5 cuộc tấn công đại quy mô. Sau cuộc tấn công lần đầu vào chiến khu Bù Lu, như đã nói trên, Pháp đánh úp Liên Minh ở gò Sơn Tây (hay là gò Ông Hàn), thêm hai lần đại phá chiến khu Núi Bà Đen, và một lần đột kích căn cứ Bàu Gõ đẫm máu hơn tất cả.

Bàu Gõ được coi là tiền đồn của Liên Minh, ở về phía cực nam của Chiến Khu Bù Lu, trông ra con đường quốc lộ số 1 chạy lên Nam Vang. Căn cứ này được giao cho Trung Tá Hà Văn Tình chống giữ. Mùa xuân năm 1953, Trung Tá Tham Mưu Trưởng Trương Lương Thiện cùng tôi và một số sĩ quan khác trong Bộ Tham Mưu, từ Doi Da về Bàu Gõ quan sát tình hình. Chúng tôi đi gần trọn một ngày đường mới tới nơi, thì trời đã tối. Sau khi được nghe Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng Hà Văn Tình báo cáo mọi việc, chúng tôi ở lại Bàu Gõ đêm ấy. Cách mặt nhau đã lâu, mọi người đều thức trắng đêm, hết trao đổi tâm tình, lại quay ra mở máy hát, nghe vọng cổ cải lương. Nào ngờ Pháp theo dõi biết tin, đúng 6 giờ sáng, bất thình lình nã trọng pháo vào căn cứ.

Đồng bào thường dân ở gần căn cứ rủ nhau chạy loạn. Trung Tá Tình ý thức trách nhiệm, nên vừa lo bố trí chống giữ, vừa đề nghị anh em chúng tôi nên rút về một khu rừng tràm cách không xa mấy, vì chưa thông thuộc đường lối, chúng tôi suýt chết hụt khi băng qua một bãi đầm lầy, không cách nào rút chân ra được. May sao có một thường dân vừa chạy tới, tìm cách cứu sống. Trận này, Pháp ra tay một cách hết sức tàn bạo. Với phi cơ thám thính bay rà rà trên không, trọng pháo Pháp từ mạn Cao Miên đổ vào căn cứ như mưa bấc, mãi tới 6 giờ chiều mới chấm dứt. Chúng tôi bị thất thế, đành núp trong khu rừng tràm, ngập nước tới cổ, không dám cử động, sợ làm động ánh nước, phi công Pháp sẽ trông thấy, chỉ điểm cho trọng pháo hoành hành. Mặc dù trong cơn hoạn nạn, tôi cũng đã được một trận cười cả đời không quên được. Nguyên do là Trung Tá Trương Lương Thiện bị ngâm mình dưới nước quá lâu, thấy lạnh, bèn trèo lên một cây tràm nằm vắt mình qua cành cây mà nghỉ ngơi. Bất ngờ ông lại ngủ quên, sơ ý thế nào mà rơi đánh tõm một cái xuống làn nước sâu. Ông loi ngoi giữa mớ nước đục ngầu ngầu, áo quần đầu tóc đều ướt sạch cả. Ông run như cầy sấy, và anh em đã cười một bữa quên cả đói.

Chúng tôi thầm nghĩ Pháp sẽ đổ bộ sau màn oanh kích đầu tiên. Nhưng dường như Pháp đã có chủ định, nên chỉ dùng trọng pháo mà thôi, và dùng tới mức tối đa chưa từng thấy trong mọi cuộc đụng độ khác. Kiểm điểm lại trận này, Liên Minh bị thiệt hại khá nặng vì không kịp đề phòng. Lều trại cháy tan hết. Đồng bào thường dân chết lây vô số kể. Thảm thương nhất là những người quá hoảng hốt, thay vì tìm nơi tránh đạn, thì lại rủ nhau ngồi thuyền trốn sang bên kia sông. Trúng phải trọng pháo, thuyền vỡ tan, bao nhiêu sinh mạng đều chết trôi theo giòng nước. Chúng tôi ngâm mình dưới làn nước phèn của khu rừng tràm gần trọn 12 tiếng đồng hồ cả thảy. Da thịt bị nhăn nhúm trông thật đáng sợ. Ai nấy đành phải bứt tạm mấy khóm rau hẹ mọc trong rừng mà nhai cho đỡ đói.

Giữa mùa chinh chiến, đồng bào đạo hữu ngoài thành vẫn không sợ gian nguy, cứ tiếp tục vào khu tham gia hàng ngũ Liên Minh. Một hôm, có ba thanh niên vừa được tiếp nạp buổi trưa, thì buổi tối, phi cơ Pháp tới oanh tạc ngay đơn vị có mặt họ. Thật chẳng may, cả ba người đều chết cả. Tướng Thế ủy thác cho Trung Tá Văn Thành Cao và tôi đứng ra lo việc tống táng. Chúng tôi vừa tới nơi, thì chợt nghe thấy tiếng gầm thét trên không trung. Một đoàn phóng pháo cơ Spit Fire gồm 8 chiếc ào ào lướt tới giữa đêm tối, rồi như đã biết rõ vị trí, chúng đâm đầu xuống nhả đạn và ném bom, hết chiếc này tới chiếc khác. Tôi cần nói rõ sở dĩ Pháp hoạt động mãnh liệt như thế, vì mục tiêu kia là đài Phát Thanh mới của Liên Minh, được thiết lập tại rừng Doi Da. Trung Tá Cao vội rủ tôi tìm chỗ núp. Trong cơn hốt hoảng, chúng tôi nhắm mắt phóng mình vào một bụi gai mây mà không biết. Bị gai đâm bốn mặt, nhưng chẳng dám cử động. Vì hỏa châu Pháp chiếu sáng rực cả bầu trời, thậm chí một con vật nhỏ chạy qua dưới đất, phi công Pháp cũng có thể nom thấy được. Pháp ném bom và bắn đạn lửa, đốt thêm một mớ rừng. Nhiều cây cổ thụ xanh tươi bốc cháy như một mớ củi khô, đổ xuống ầm ầm trông thật khiếp đảm.

Pháp bỏ đi rồi, chúng tôi phải khổ cực lắm mới chui ra khỏi đám gai mây sắc bén, mình mẩy đầy thương tích. Chúng tôi vội vàng trở lại nơi đặt 3 xác chết lúc nãy, trong lòng chỉ sợ cọp lén tới mang đi. Cọp rừng Bù Lu nổi tiếng dạn dĩ với súng bom. Nơi nào có tiếng súng nổ, thì y như rằng mấy chú cọp đói lò mò tìm tới để xơi xác chết. May sao, 3 cái thi hài vẫn còn nằm đó. Trong bóng tối, dưới ánh lửa rừng và tiếng cành tươi nổ lét đét, chúng tôi đào vội 3 cái huyệt nông trên một khoảng đất rắn, chôn mấy người anh em xấu số chưa kịp biết mặt, biết tên. Mấy con chim hoành hoạch nghe tiếng động, chợt cất cánh bay cao, kêu lên những tiếng não nùng càng làm cho chúng tôi thêm phần xúc động.

Trái với điều tôi vừa nói trên là, trong khi người ngoài tìm đường vào khu để sớm chiều mai một như trường hợp ba thanh niên vừa kể, thì người trong khu lại chẳng muốn ở lại với anh em. Một số quân nhân, vì lẽ này hay lẽ khác, đã lén lút bỏ đi, rồi bị Pháp bắt quay ra cung cấp cho Pháp những tin tức thật tai hại. Đứng trước phong trào đào ngũ mỗi ngày mỗi đe dọa sự tồn vong của Liên Minh, Tướng Thế thấy không còn cách nào hơn là chính thức đem vấn đề ra mổ xẻ với anh em, ai muốn về, ai muốn ở, tùy lòng. Một hôm, ông tập hợp các đơn vị, rồi với giọng nói thật bùi ngùi, ông cảm ơn tất cả những ai đã tình nguyện theo ông, rồi cuối cùng ông tuyên bố chấp thuận cho bất cứ cá nhân nào không còn muốn tiếp tục chiến đấu nữa, có quyền tự do ra đi, không bị một sự trừng phạt nào cả. Lời tuyên bố thẳng thắn của ông quả đã làm kinh ngạc nhiều người đang có mặt. Các vị chỉ huy lo sợ, thầm bào nhau: "Thế này thì không khéo hàng ngũ sẽ tan ra mất!" Tôi liếc mắt thấy phần đồng binh sĩ hoàn toàn im lặng khi Tướng Thế yêu cầu những ai có ý định về thành thì hay do tay lên rồi đứng sang một bên. Mãi tới mấy phút sau mới có một số nhỏ làm theo lệnh ông, nhưng rõ ràng là với tấm lòng miễn cưỡng, với gương mặt thẹn thùng cúi xuống. Tướng Thế lại phủ dụ thêm vài lời với lớp người ấy, đoạn ông ra lệnh cho Độ Tham Mưu sắp đặt cho họ lên đường, về đến nơi đến chốn.

Nhờ chính sách khôn ngoan "tháo nước cho nước khỏi tràn bờ", từ dạo ấy, phong trào đào ngũ tự nhiên chấm dứt. Những lời nói tâm tình thiết tha của Tướng Thế đã đánh mạnh vào lòng ái quốc, vào tự ái cá nhân, vào cái danh dự của người chiến sĩ cách mạng, khiến số người còn lại dù có muốn xa ông đi nữa, thì cũng đã tự mình đánh đổ sự hèn nhát, sự phản bội. Nếu phải như ai khác, thì đã bày ra hình phạt cứng rắn nọ kia, càng vô tình đào sâu thêm nỗi chán chường bất mãn trong đám sĩ binh kém nhiệt huyết, và không khéo đã đưa tập thể Liên Minh tới bước tan tành cát bụi từ dạo ấy. Tôi càng thêm cảm phục Tướng Thế ở điểm đó. Mặt khác, nếu Tướng Thế không nói thẳng ra, tôi chắc số người muốn ra đi sẽ cứ ngấm ngầm tăng lên mãi. Ở chỗ họ thiếu hiểu biết về đường lối chung, thiếu cả niềm cảm thông với mối tâm sự của người lãnh đạo. Bây giờ trái lại, một khi cái ung nhọt đã được đem mổ xẻ công khai, thì hàng ngũ tuy có bị sứt mẻ chút ít, nhưng lại sót lại toàn những hạt "gạo cội" hoàn toàn đáng tin cậy. Ngoài ra, những kẻ đã bỏ cuộc ra đi, ra đi mà được tha thứ, lòng vẫn luôn luôn bị ám ảnh bởi thái độ quân tử của người lãnh đạo, nên không nở làm điều phản trắc, mà còn gián tiếp giúp đỡ anh em còn ở lại trong rừng nữa là khác. Thế mới biết cầm đầu một đoàn binh tướng cách mạng không phải dễ. Đã đành kỷ luật nghiêm minh là điều cần thiết, nhưng lắm lúc kỷ luật nghiêm minh lại không giúp ích bằng cách đổi xử tâm lý khôn ngoan sáng suốt.

Sau khi đã giải quyết xong vấn đề đào ngũ, Tướng Thế lại còn phải lo un đúc tinh thần, nâng cao niềm tin tưởng trong lòng binh sĩ. Đây là giai đoạn ông bày tỏ cái tài chiến tranh tâm lý của ông. Ông kín đáo bàn riêng với tôi về việc bất đắc dĩ phải làm, rồi ông tung ra nguồn tin là đã bắt được liên lạc với Phái Bộ Mỹ tại Sàigòn, được Chính phủ Mỹ bí mật hứa viện trợ cho phong trào kháng chiến Liên Minh tồn tại. Tin ấy bay ra cùng một lúc với lệnh của Tướng Thế bắt buộc tất cả các đơn vị phải kê khai lại sĩ số cho minh bạch. Rồi các sĩ quan nào ở địa vị chỉ huy thì phải ăn mặc chỉnh tề, về Bộ Tư Lệnh "chụp hình gửi cho Phái Bộ Mỹ" để họ biết mặt, biết tên.

Thú thật, lòng tôi xiết bao nghi ngại. Tôi lo cho kết quả sẽ phản lại mục đích. Tôi lại nghĩ tới cái gương lịch sử xưa kia, khi Nguyễn Trãi cùng với anh hùng Lê Lợi bày mưu dùng mỡ viết tám chữ "Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trai vi thần" trên lá rừng cho kiến đục, rồi lá ấy được thả trôi theo giòng nước cho dân chúng bắt gặp để tin tưởng nơi sự thành công "trời định" của hai người. Dù nghi ngại mặc lòng, tôi vẫn không có quyền phản đối, không dám phản đối, vì "còn nuớc thì còn tát", Tướng Thế phải làm tất cả những gì cần làm để gìn giữ một công cuộc trọng đại.

Thế rồi Tướng Thế giao chiếc máy ảnh cũ của ông cho một cán bộ chuyên môn chụp hình. Thảm thương thay, máy hình lại chẳng có phim ảnh. Từng loạt sĩ quan lần lượt về trình diện Bộ Tư Lệnh, được chỉ định ra đứng một nơi cho người cán bộ chụp hình làm việc. Tôi muốn ưá nước mắt khi trông thấy các sĩ quan đưa tay vuốt ve quần áo cho thẳng thơm, sửa lại cái mũ chào mào trên đầu, ngắm lại mấy chiếc "Galons" trên vai áo, và giữ bộ mặt hết sức trang nghiêm trước ống kính. Khi nghe tiếng "tắc" của máy ảnh, họ mỉm cười sung sướng, có ngờ đâu bên trong máy ảnh chẳng có chút phim ảnh nào để ghi lại tấm ảnh kỷ niệm ấy.

Vì chỉ có Tướng Thế và tôi chia nhau sự bí mật, nên tôi lại càng hết sức giữ gìn, nhỡ việc kia tiết lộ ra, thì sự tai hại không biết tới đâu mà lường được.

Tội nghiệp cho các binh sĩ. Họ thấy các "anh lớn" tấp nập đi đi về về, được "Ngài Thiếu Tướng chụp hình để gửi đi đâu đó", thì họ càng thêm tin là đoàn thể sẽ không đến nỗi nào, nay mai cuộc đời sẽ lại tươi sáng! Hơn thế nữa, trong đám binh sĩ lại có sự xì xào bàn tán về một nguồn tin khá hấp dẫn, là chẳng bao lâu, Mỹ sẽ dùng phi cơ thả gạo xuống rừng ban đêm, tiếp tế cho anh em Liên Minh. Thành thử đêm đêm, có lắm kẻ nhẹ dạ thơ ngây mãi ngước mắt nhìn trời, mong đợi một biến cố tốt đẹp theo trí tưởng tượng của họ. Nào có khác chi Tào Tháo thuở xưa, lúc hành quân ở Hạ Bì, thấy binh sĩ quá khát, bèn nâng cao roi ngưa chỉ phiá trước mà bảo: "Đằng kia sắp có rừng mơ!" nhằm giúp binh sĩ tưởng tới các quả mơ mà rỏ giải cho đở khát.

Cũng nhằm mục đích nâng cao tinh thần binh sĩ. Tướng Thế luôn luôn đi thăm các đơn vị. Ông rủ tôi cùng đi với ông khắp nơi khắp chốn. Tới đâu ông cũng tỏ vẻ lạc quan, mặc dù lòng ông đang hết sức lo nghĩ. Một đêm nọ, tôi còn nhớ là khoảng tháng 10 âm lịch, chúng tôi về thăm Bến Cầu, quê cùa Tướng Thế. Lúc trở về ngồi trên một chiếc thuyền nan. Gió lạnh thổi trên sông Vàm cỏ Đông khiến lòng chúng tôi se thắt lại. Tướng Thế thò tay mở cái máy Radio để nghe tin tức. Bất ngờ lại gặp phải làn sóng điện phát ra tiếng hát bi thương: "Từ chàng ra đi, lưng khoác chiến y, và hồn nương bóng quốc kỳ"... Tiếng hát lê thê bay trong gió, lan trên mặt nước buồn vào lúc nửa khuya, thật là một sự diễu cợt đối với người đang ăn gió nằm sương. Cả hai chúng tôi cùng ngẩng mặt nhìn nhau trong bóng tối. Tướng Thế thở dài, tắt ngay làn sống điện.

Đêm ấy, chúng tôi tới thăm đơn vị của Trung Tá Hà Văn Tình. Được thết đãi một bữa cơm khuya với cơm gạo lứt, với cuống hoa súng làm rau chấm nước mắm. Vậy mà Tướng Thế cũng ăn được tới hai tô cơm lớn, vừa ăn vừa nhìn tôi với cái vẻ thẹn thuồng thật đáng yêu!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG VII
CỘNG SẢN ĐÃ LÀM GÌ ĐỐI
VỚI TRÌNH MINH THẾ

Khoảng đầu thập niên 1950, thế lực cộng sản tại Miền Nam chẳng có gì đáng kể. Với những ổ du kích lẻ tẻ, với vũ khí tồi tàn, chúng chỉ có khả năng hoạt động trong bóng tối nhiều hơn là ra mặt đối chọi với các lực lượng chống cộng tiếng tăm như Cao Đài và Hoà Hảo.

Được tin Trình Minh Thế kéo quân ra khu, cộng sản hốt hoảng, vì chúng không lạ gì khả năng chiến đấu của Trình Minh Thế khi ông còn ở trong Quân Đội Cao Đài. Nhất là quân sĩ của Thế ngày nay lại dàn trải ra trên một đường chim bay khoảng 70 cây số, dọc theo biên thùy Miên Việt, mà lại chiếm cứ ngay những địa điểm chiến lược xưa nay vốn là chỗ ẩn núp tung hoành của bọn du kích cộng sản. Người ta được biết, trước khi Pháp trở lại Miền Nam, các vùng đất chạy dài theo bìa rừng Bù Lu, Doi Da, Cai Tắc, Bưng Rồ...v..v đều có đồng bào thường dân cư ngụ. Nhà cửa cất rải rác khắp nơi, vườn tược sum suê, ruộng đồng xanh tốt. Nhưng từ khi cộng sản xuất hiện làm mất an ninh trong vùng, thì đồng bào lần lượt tản cư, bỏ lại tất cả tài sản. Chúng tôi bắt gặp một số nền nhà cũ bằng xi măng láng bóng, vô số những khu vườn vô chủ rộng lớn có rào dậu hẳn hoi, tuy cỏ dại đã mọc cao quá đầu người, nhưng vẫn còn đầy đủ những hàng cau, những rặng dừa không quả, đứng thi gan cùng tuế nguyệt.

Bị quân Liên Minh đánh hất mình ra khỏi sào huyệt, lại bị đẩy lui vào tận các khu rừng sâu gần mạn biên giới, mất đường liên lạc, dỉ nhiên là cộng sản phải căm tức. Nhưng chúng không làm gì được, đành giở trò lén lút sát hại các quân nhân Liên Minh đi công tác lẻ loi trong rừng, hoặc đột kích một vài đơn vị nhỏ ở xa, hoặc hơn nữa thì rủ bè rủ bọn, rủ cả đàn bà con nít đi cướp gạo của Liên Minh về ăn.

Như tôi đã thuật trong một đoạn trước, mùa mưa trong Nam với nước lũ ngập rừng, với mỗi mòng vô kể, với chứng sốt rét rừng giết người dễ như không, đã là một trở ngại lớn cho kẻ ở rừng suốt một thời gian dài năm sáu tháng mỗi năm. Đời sống gần như hoàn toàn bị tê liệt trong mấy tháng đó. Cộng sản cũng cùng một số phận như chúng tôi. Tuy nhiên, tháng 6 năm 1952, thừa dịp Liên Minh mới bị Pháp tấn công, hàng ngũ chưa kịp chỉnh đốn, cộng sản đã cố gắng tổ chức phục kích một đơn vị nhỏ, ước chừng một Tiểu đội, đóng tại một cánh rừng giữa Bộ Tư Lệnh và Đài Phát Thanh. Anh em Liên Minh vốn khinh địch, lại nghỉ rằng giữa mùa mưa gió, chắc cộng sản chưa thể hoạt động gì. Nên họ hơi chểnh mảng việc đề phòng canh gác. Bấy giờ đám anh em đang mải bận làm cơm vào khoảng 6 giờ chiều, trời vừa tối. Một toán cộng sản rình rập bên ngoài từ hồi nào không hay, bỗng hô ''xung phong'' rồi nhảy qua hàng rào phòng thủ, ra tay hạ sát. Chúng không dám nổ súng, mà dùng dao mác chém chết 6 chiến sĩ Liên Minh trong giây phút. Xong đâu đấy, chúng cướp đoạt vũ khí, rồi lặng lẽ rút lui.

Khi được tin thì đã trễ. Tướng Thế giận lắm không ngờ cộng sản lại cả gan ra tay trước. Ông bèn cho tình báo theo dõi, biết được sào huyệt của bọn kia. Một toán quân Liên Minh tức thì mở cuộc tấn công báo thù, tiêu hủy sạch căn cứ chúng ở gần Đồng Chó Ngáp, và giết được 11 đứa trong bọn.

Sau đó ít lâu, chúng tôi lại phải một lần di tản chiến thuật, vì được tin Pháp sẽ lại tấn công lần nữa. Trước khi di binh, chúng tôi đặc biệt săn sóc tới kho gạo vừa mới thiết lập. Một số lớn mìn được gài chung quanh kho để bảo vệ mạch sống. Nào ngờ cộng sản lại biết được, thừa lúc chúng tôi bỏ đi, chúng lần mò đến cuớp gạo. Trườc hết, chúng sai một toán chuyên viên gỡ mìn, mạo hiểm tìm tòi từng quả, mở ra một con đường nhỏ an toàn dẫn vào kho gạo. Tiếp theo, chúng huy động một số đông dân chúng thuộc vùng chúng kiểm soát, kể cả đàn bà và con nít (theo dấu chân để lại), thay phiên nhau xúc sạch kho gạo quý giá kia chỉ trong vòng một đêm. Hôm sau, chúng tôi trở về, và việc đầu tiên là sai người tới xem xét lại kho gạo. Một quang cảnh tiêu điều bày ra trước mắt. Kho bị phá nát tan, gạo rơi rớt khắp một vùng, hàng trăm vết chân lớn nhỏ còn để lại trên mặt đất ướt, chứng tỏ kẻ thù không phải chỉ gồm có lũ cầm súng, mà trái lại, có rất nhiều thường dân giúp sức chúng cho kịp tẩu tán kho lương thực quan trọng kia trước khi trời sáng. Hành động cướp bóc này không những gây cho chúng tôi sự khốn đốn cấp thời về việc nuôi quân, mà còn nói lên thái độ khinh mạn của kẻ thù không đội trời chung cứ luôn luôn rình rập để phá hoại chúng tôi.

Tướng Thế không một phút trì hoãn, nghiêm khắc hạ lệnh cho Trung Tá Văn Thành Cao phải tức khắc tìm cho ra sào huyệt của lũ ăn cướp, phải cho chúng một bài học đích đáng, và phải thu hồi cho bằng được số lương thực đã mất. Cứ như tình thế này thì bọn cướp hãy còn tạm dấu tang vật đâu đây, nếu không ra tay gấp rút, chúng sẽ tẩu tán đi nơi xa thì không hy vọng gì tìm thấy.

Trung Tá Cao thân hành dẫn một cánh quân, noi theo dấu chân khoảng 6 cây số đường rừng, thì biết chắc là bọn cộng sản thủ phạm có một căn cứ tại Hố Bò. Đang đêm, ông mở cuộc tấn công chóp nhoáng, vừa chia quân bao vây căn cứ, vừa đánh thẳng vào Bộ chỉ huy của chúng. Đối phương không kịp trở tay, bị thiệt hại hết sức nặng nề. Chỉ một vài đứa trốn thoát, còn bao nhiêu đều bị giết hoặc bị thương nằm la liệt, thêm 2 đứa khác bị bắt sống dẫn về. Trận ấy, Liên Minh lấy lại được cả số gạo hãy còn chất đống trong một căn lều tranh, Liên Minh lại đốt sạch căn cứ địch. Lại khám phá được một đường hầm nơi ấy cộng sản chất chứa không biết bao nhiêu vại cá mắm, vốn là thức ăn cần thiết nhất và quý giá nhất đối với quân du kích. Ngoài ra, Liên Minh còn thu đoạt một số vũ khí, tịch thu một con bò và hai con lợn, với khá nhiều quần áo đen đã may sẵn. Thế là chung cuộc, cộng sản mất cả chì lẫn chài. Xét ra, chúng cũng hơi có vẻ tự tin, không nghĩ rằng Liên Minh thừa sức trừng phạt chúng một cách khá nhanh chóng và hiệu quả. Huống chi những dấu chân tội lỗi kia không thể nào che dấu được sào huyệt chúng, để đến nỗi "chưa vui chiến thắng đã sầu... tán mạng!"

Theo lời Trung Tá Cao báo cáo, căn cứ Hố Bò vừa kể trên mang kích tấc của một sào huyệt quan trọng. Lều trại rất nhiều và đều mới cả, chứng tỏ cộng sản mớì di chuyển về đó. Theo số quần áo may sẵn bị tịch thu, thì bọn chúng ắt đang chuẩn bị tập trung thêm một số quân đông đảo, hoặc để đánh úp Liên Minh một ngày nào đó, hoặc để tăng cường lực lượng tại địa phương kia. Liên Minh thật đã may mắn trừ khử kịp thời một lực lượng đối phương đáng kể.

°

Một mặt lo đối phó với Pháp, mặt khác lại phải lo đề phòng những màn đánh lén của cộng sản, vai trò người chiến sĩ Liên Minh quả thật nặng nề khó khăn. Tuy nhiên, vì sự sống còn, Liên Minh vẫn càng ngày càng mở rộng vùng đất kiểm soát. Tiểu Đoàn của Trung Tá Nguyễn Trung Thừa về đóng tại khu Bời Lời. Tiểu Đoàn của Trung Tá Nguyễn Tấn Mạnh đứng làm cái nút chặn tại ranh giới Đồng Tháp.

Dạo ấy, cộng sản có con đường liên lạc quan trọng từ Cao Miên chạy qua địa phận Tây Ninh về tới Bình Dương, mà Bời Lời là cứ điểm then chốt. Mọi hoạt động của cộng sản đều qua ngả ấy. Có thể nói đó là cái yết hầu của cộng sản. Bởi vậy sự có mặt của Trung Tá Thừa tại khu Bời Lời là một đe dọa lớn đối với cộng sản. Chúng làm mọi cách để ngắt cái gai ấy đi. Chúng mở liên tiếp bao nhiêu cuộc tấn công dữ dội, nhưng trước sau Trung Tá Thừa vẫn không nao núng. Người sĩ quan gan lì này là một trong những phần tử nổi tiếng của Liên Minh, và được Tướng Thế yêu mến, tin cậy. Binh sĩ dưới quyền ông ít khi bị thiệt hại, mà thường lại hay thu đoạt thắng lợi vẻ vang. Hơn một lần, ông phục kích bắt trọn ổ một toán cán bộ thuộc cấp miền của cộng sản. Ngoài hai người trong toán ấy được sống sót nhờ có trình độ học vấn cao lại thuận tình quay sang hợp tác với Liên Minh, còn bao nhiêu đều bị thủ tiêu cả. Lại một lần khác, cũng chính ông phục kích giết mất hai nhân vật quan trọng Pháp trên đường Saigon - Tây Ninh. Lạ lùng thay, Pháp lại đem vấn đề ra khiếu nại với Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, chứ không trực tiếp trả đũa Liên Minh. Mặc dù Đức Hộ Pháp không dính líu gì tới Liên Minh, nhưng Ngài cũng dùng uy tín cá nhân, yêu cầu Liên Minh mở cuộc điều tra và trừng phạt xứng đáng kẻ đã giết hai nhân vật Pháp, theo như Pháp đòi hỏi.

Tướng Thế vô tình rơi vào cái thế khó xử. Vì lòng kính nể Đức Thầy, chẳng đặng đừng, ông hạ lệnh cho Trung Tá Trương Lương Thiện, Thiếu Tá Hồ Đức Trung, hợp lực với tôi giả vờ thiết lập một Tòa án Quân Sự Liên Minh, mở cuộc điều tra và tuyên án "tử hình" thủ phạm! Báo hại, cá nhân tôi phải "chế tạo" cả một tập hồ sơ dày cộm, toàn những công văn giấy tờ qua lại giữa người này với người kia, giữa cơ quan nầy với cơ quan nọ, mục đích làm sao cho bản án có vẻ hợp lý, gián tiếp thoa dịu nỗi phẫn uất của Pháp. Về sau, Pháp biết là giả mạo, nhưng họ cũng đành làm ngơ cho xong chuyện. Trong buổi lễ ra mắt hợp tác của một phần lực lượng Liên Minh cử hành ngày 13 tháng 2 năm 1955 tại Saigon, chính Trung Tá Nguyễn Trung Thừa đã được chỉ định đóng vai Tư Lệnh Danh Dự. Và cũng chính ông đã có mặt bên cạnh Tướng Thế trong cuộc đụng độ với Bình Xuyên tại cầu Tân Thuận ngày mồng 3 tháng 5 năm 1955. Khoảng cuối năm 1955, sau cái chết của Tướng Thế, ông chán nản xin giải ngũ rồi về nhà làm nghề xẻ gỗ tại đường Phát Diệm.

°

Trung Tá Nguyễn Tấn Mạnh cũng là một cấp chỉ huy khá nổi tiếng của Liên Minh, nhờ tài hành quân độc đáo, và nhờ cái tính nết liều lĩnh gan dạ ít có ai bằng. Ông lầm lì ít nói, trước đám đông thì đầy vẻ ngượng ngùng ấp úng. Nhưng khi lâm trận, thì bao giờ cũng xách súng đi trước anh em, tiến gần mục tiêu tới mức tới cận rồi mới khai hỏa. Trong một cuộc đụng độ với cộng sản, ông nằm ngay làn đạn của một ổ súng máy địch, mà tên xạ thủ địch lại bắn quá rát. Ông tức giận đợi cho tên kia vừa tạm ngừng tay để đổi sang thùng đạn mới, bèn chạy băng qua trước họng súng, phóng một bước thật dài tới ngay ổ súng, rồi nhanh như chớp nhoáng, ông đưa tay vặn cổ tên xạ thủ kia từ đằng trước ra đằng sau, tên ấy chết tức khắc không kịp kêu lên một tiếng nào. Thế là ông đoạt được ngay khẩu súng máy và lại dùng nó để bắn trả lại địch.

Khi được chỉ định đem quân về làm nút chặn tại ranh giới Đồng Tháp Mười, Trung Tá Mạnh gặp khá nhiều chuyện buồn cười khi phải đối phó với cộng sản. Dạo ấy Đồng Tháp Mười kể như bị cộng sản hoàn toàn khống chế.

Đồng bào thường dân bị chúng tuyên truyền đầu độc đến độ cuồng tín, bất chấp lẽ phải. Một hôm, binh sĩ của ông vô ý làm rụng mấy quả cam trên một cành cam ngả ra ngoài lối đi công cộng. Chủ nhân trông thấy, phản ứng một cách dữ dội, nhất thiết đòi bồi thường. Ông tiến lại gần người ấy, hỏi giá phải đền bao nhiêu. Quái gở thay, người chủ vườn cam không chịu lấy tiền, mà lại bắt buộc "thủ phạm" phải làm cách nào cho mấy quả cam "dính liền" trở lại cành cũ mới được. Bằng không thì đừng hòng bước khỏi. Trước cái yêu sách cổ kim chưa từng thấy kia, ông Trung Tá lầm lì nhà ta chẳng hề lộ vẻ tức giận, ông đứng yên một chặp, đợi cho tên kia tha hồ chửi mắng, rồi ông bỗng nghiêng tai nói một câu sấm sét như Trương Phi đứng trên cầu Trường Bản: "Mày mà còn lải nhải, tao vặn cổ mày ném xuống rãnh bùn kia! Mày chọn đằng nào?" Tên kia chợt trợn tròn đôi mắt, rồi đâm đầu chạy biến vào trong khu vườn, trốn mất, chẳng nhận được một xu bồi thường nào cả. Tuy vậy, ông Trung Tá cũng bắt chước Tướng Thế độ nào, đem tiền buộc trên cành cam rồi mới bỏ đi. Lại một lần khác, cũng tại Đồng Tháp Mười, ông giải quyết "vệ sinh" ngay giữa cánh đồng hoang, chẳng đụng chạm gì tới ai cả. Nhưng bất đồ một nông dân trông thấy, cứ đứng giữa trời chửi đổng, hết mắng nhiếc lại quay ra tuyên truyền theo lối cộng sản. Ông chẳng nói chẳng rằng, lầm lì bước ngang mặt tên ấy, rồi bất thình lình ông tung chân đá băng một phát, tên ấy bay luôn xuống cái rãnh nuớc như một chiếc lá. Thế là chấm dứt một hành động vô lý thứ hai của đám dân quê bị cộng sản nhồi sọ, thấy ai cũng ghét.

Hai mẩu chuyện trên đây chứng tỏ một cách hùng hồn lòng thù hận của cộng sản miền Nam đối với Liên Minh. Mục đích chúng là triệt hạ " con hùm dữ'' Trình Minh Thế. Nhưng việc ấy khó thành tựu. Chúng bèn quay ra chọn mục tiêu dễ dàng hơn mà cũng trực tiếp liên hệ tới Tướng Thế. Ấy là thân phụ ông, cụ Trình Thành Quới và em ruột ông, Trình Minh Đức. Hai người này đã bị cộng sản sát hại một cách cực kỳ tàn bạo, mà tôi sẽ tường thuật chi tiết trong Chương XI tiếp theo.

Cuối cùng, cộng sản lại quay ra chơi trò dụ dỗ, thuyết phục. Dưới chiêu bài "Hòa bình'' và ''Đoàn kết chống Pháp", trướcTết Nhâm Thìn (1953), chúng in một mớ truyền đơn lén rải khắp trong rừng, kêu gọi Tướng Thế hãy "xiết chặt nắm tay" với chúng, để đánh đuổi thực dân ra khỏi nước. Xem xong truyền đơn, tôi với Tướng Thế đưa mắt hội ý nhau, quyết sẽ ''chơi'' cho bọn xỏ lá này một trận cho chừa cái thói lừa bịp trẻ con. Một đêm nọ, chúng tôi tới thăm căn cứ của Thiếu Tá Nguyễn Kim Bằng. Mới ngồi được một lát, đã nghe đâu đây có tiếng loa nhai nhải kêu gọi nào là '' Anh em đồng chí Liên Minh'', nào là ''Các đồng bào có tấm lòng yêu nước gương mẫu'' v..v… hãy cùng ''Chúng tôi hợp thành trận tuyến thống nhất, đánh đuổi bọn đế quốc Pháp, tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa'' !..

Tướng Thế mỉm cười, khẻ ra hiệu bằng khóe mắt, rồi toán quân của Thiếu Tá Bằng lặng lẽ chia nhau ra bao vây mấy thằng cán bộ tuyên truyền kia. Súng nổ khắp bốn mặt. Tiếng hô hào tịt ngay tức khắc. Chúng ném loa, vắt giò lên cổ mà chạy nghe ào ào như hổ bị đuổi. Chúng tôi được một bữa cười no bụng.

Xét một cách vô tư về mặt trang bị vũ khí, buổi đương thời cộng sản chẳng hơn gì Liên Minh, mặc dù chúng được tổ chức từ lâu. Cộng sản vẫn còn dùng loại súng trường Nga sản xuất từ hồi Đệ Nhất Thế Chiến, nòng súng dài một cách kém kỹ thụật, lại quá nặng và rất hiếm đạn để bắn nó. Có khi cả một đơn vị lớn của cộng sản cũng chưa có nổi một khẩu trung liên, còn mìn thì trước sau vẫn là thứ mìn "máng xối" mà bộ phận phát hỏa lại làm bằng thứ giây "Résistant" kém hiệu lực, dùng phá hủy mục tiêu bất động thì mười lần sai hỏng tới bảy tám. Trong khi ấy, Liên Minh có rất nhiều đại liên và trung liên trang bị cho từng đơn vị nhỏ. Lại thêm một số lớn tiểu liên "bá gấp" của Pháp được coi là tối tân hơn hết lúc bấy giờ. Hơn nữa, Liên Minh lại còn tự chế tạo thứ mìn rất nguy hiểm, thường gài giữa lưng chừng ở các lối đi. Mìn nổ cắt đứt cả đôi chân địch tới ngang đầu gối, không thể nào cứu sống được.

Ngoài ra, Liên Minh còn hơn hẳn cộng sản ở chỗ Liên Minh có một hệ thống điện thoại riêng biệt giúp cho sự thông tin liên lạc nhanh chóng hơn. Hệ thống này được cộng sản thèm khát cho đến nỗi chúng treo giải thưởng cho ai bắt được một chiếc máy kiểu mẫu để chúng bắt chước.

Thời kỳ đóng quân trên Núi Bà Đen, tình hình tương đối yên ổn, nên Công Binh xưởng Liên Minh có điều kiện hoạt động đắc lực hơn. Với Đại Uý Nguyễn Văn Tranh đứng quản đốc thay thế Trung Tá Cảm Văn Tỵ bận lo Quân Y Cục, và với sự giúp sức tài ba của một số chuyên viên Cao Đài mới gia nhập hàng ngũ, Công Binh xưởng Liên Minh bắt đầu sản xuất súng cá nhân, nói đúng theo kiểu "Colt - 45" của Mỹ, nhưng nòng súng lại chỉ có 9 ly, để tiện dùng đạn tiểu liên mà Liên Minh sẵn có rất nhiều. Kiểu súng mới này - có thể gọi là "Made-In-Lienminh" không hổ thẹn - thoạt trông rất dễ lầm với súng Colt của Mỹ lắm. Vì cách chế tạo, tuy bằng tay, nhưng rất tinh vi mỹ thuật, đường nét hoàn toàn như đường nét do máy làm ra, trơn tru, thẳng thớm, không để lộ một dấu vết gì của bàn tay người cả. Nước thép lại cũng đen xanh và bóng lộn, làm cho khẩu súng có một vẻ quyến rũ lạ thường. Cái khó nhất trong việc chế tạo súng là làm sao xoáy được mấy đường rãnh "trôn ốc" gọi là "khương tuyến" trong nòng súng bằng thép cứng, để đưa lằn đạn đi xa. Không có mấy đường rãnh ấy, súng sẽ thành vô dụng, đạn ra khỏi nòng là rơi ngay xuống đất, Ấy thế mà các nhà chế tạo Liên Minh đã dạt tới mức thành công tuyệt kỹ, không sao tưởng tượng được. Cứ đưa nòng súng lên trời ngắm thử, tưởng như thép đã được "ép" lại để tạo ra mấy đường rãnh "trôn ốc" kia vậy.

Khẩu súng "Colt-9 Liên Minh", khẩu súng đầu tiên ra khỏi lò đúc súng vào khoảng tháng 10 năm 1953, tại Công Binh xưởng thiết lập trong một hang đá mà diện tích có thể chứa được cả một Đại Đội. Đằng sau hang đá này, tình cờ chúng tôi khám phá được một đường hầm thiên tạo dài bất tận, đi suốt ngày cũng chẳng biết tới đâu. Tại đây, chúng tôi bắt gặp một bộ hài cốt lâu đời nằm cạnh một chiếc ô đã mục nát, chỉ còn lại cái khung sắt rét rỉ. Không hiểu do đâu mà có người vào nằm chết nơi đó, và người chết đó là ai? Một nhà ẩn sĩ tu tiên, hay là nạn nhân của một vụ ám sát nào?

Tướng Thế có nhã ý tặng ngay khẩu súng đầu tiên kia cho tôi để làm kỷ niệm. Trên mặt thép đen xanh, có khắc tên tôi và giòng chữ đề tặng của ban Giám Đốc Công Binh xưởng. Nhằm bày tỏ lòng biết ơn, và cũng để đánh dấu sự thành công đầu tiên trong công cuộc chế tạo vũ khí, tôi đã tổ chức một "tiệc mừng" anh em bằng một quả mít chín có cái lai lịch khá kỳ dị. Số là, khi mới dọn về Núi Bà Đen, tôi có cất một căn lều tranh nằm dựa vào một tảng đá lớn. Sẵn có cây mít với thân cây to vừa bằng gang tay, tôi dùng ngay nó làm một chiếc cột trụ cho căn lều. Tới mùa gió bão, cây mít bị gió đánh lắc lư, lôi theo cả chiếc lều cũng rung chuyển theo nó từng cơn, kêu lên ken két như muốn đổ. Được biết cây mít này dường như là vật sở hữu của một nhà đạo sĩ ẩn tích mai danh nào đó thuở xa xưa. Nhà ẩn sĩ này không biết đã về chơi tiên cảnh hay là còn mãi đi "hái thuốc" phương xa, mà quên săn sóc cây non mới trồng. Vắng chủ, dường như vật vô tri cũng biết thương nhớ, buồn rầu, nên dù hàng năm vẫn sinh thêm cành lá, mà tuyệt nhiên không hề có một lần đơm bông kết trái. Khi có tôi về ở đó, lạ thay, cây mít bỗng lớn cao vùn vụt, và năm ấy, tôi đếm không biết bao nhiêu là quả trên cành. Ngay trên mặt bàn viết của tôi (được kê sát vào thân cây) có hai quả mít càng ngày càng to, rồi bốc mùi thơm thật hấp dẫn. Thế là tôi mời khách tới nhà, cứ để nguyên quả mít gắn liền vào thân cây mà bổ ra làm tiệc, mọi người được thưởng thức một bữa no nê.

Sau này, khi tiếp kiến Tướng Edward Lansdale tại chiến khu, tôi có đem giới thiệu với ông khẩu súng kỷ niệm của tôi. Ông cầm lên xem với đôi mắt kinh ngạc, và sau khi bắn thử một gắp đạn, ông lắc đầu thán phục cách thức chế tạo và hiệu năng chính xác của nó. Năm 1956, tôi bỏ nước ra đi, khẩu súng quý báu được gửi lại cho Tướng Nguyễn Thành Phương, nhờ cất giữ giùm. Nhưng sau nghe nói nhà của Tướng Phương bị khám xét, và không biết khẩu súng kia đã về tay ai?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG VIII
NHỮNG NGÀY GIAN KHỔ

Nói tới cái khổ của quân kháng chiến Liên Minh thì không bút mực nào tả xiết. Người Liên Minh không những cần một ý chí hy sinh anh dũng để đương đầu với kẻ thù bốn mặt, mà còn phải có một tấm lòng sắt đá bền bỉ để chịu đựng mọi sự thiếu thốn trên đời.

Ngày nay ôn lại những nỗi đọa đày gian nguy chồng chất ở trong rừng suốt cả 5 năm đằng đẳng, tôi không khỏi giật mình tự vấn lương tâm mình bằng cách nào hồi đó chúng tôi đã không bỏ cuộc trên con đường chỉ thấy chết chóc, tối tăm, đói khổ, và bệnh tật? Suốt cả 5 năm, dường như chỉ có một đôi lần chúng tôi nhìn thấy mặt mũi đồng tiền đồng bạc. Và khi cầm nó trên tay, chúng tôi có cảm tưởng là lạ như anh mán rừng, không biết dùng nó để làm gì đây? Khắp trong đoàn thể đều sống một nếp sống như nhau, không ai sang cả hơn ai, không ai có quyền thụ hưởng theo cái chính sách kỳ thị, phân giai cấp "Tiểu Táo", "Đại Táo" như bọn cộng sản. Bình thường thì quanh đi quẩn lại vẫn có gạo lứt, muối, nước tương Tàu Vị Yểu, khá hơn chút nữa thì có thêm cá mắm đồng, hoặc cá khô tra. Nhưng Tàu Vị Yểu vẫn không được ăn nguyên chất, mặc dù giá bán chỉ có 15 đồng buổi đương thời, mà phải pha chế thêm nước muối nữa. Cứ mỗi chai nước tương lại phải đổ thêm vào 16 chai nước muối, rồi cho lên bếp đun sôi cho nước muối với nước tương lẫn lộn nhau, xong để dành ăn ngót cả tháng mới hết. Thiếu Tá Nguyễn Văn Đờn đã cám cảnh, đặt tên cho loại thức ăn ấy là "Thập lục hòa tương". Trong thời kỳ bị Pháp khủng bố, tình cờ một bữa tôi ăn cơm chung với Đại Úy Lê Văn Sâm. Thấy tôi bốc cơm nhai với muối trắng, mà anh em thường gọi là "Muối Bà Rịa", ông cựu quân nhân ONS của Pháp chợt trịnh trọng rút từ trong cái "gùi" của anh ra một lọ nước tương "Maggi" nổi tiếng của Pháp. Tôi sáng cả đôi mắt, mừng thầm là sắp được thưởng thức một món ăn đặc biệt. Nhưng không, lọ "Maggi" kia chỉ còn là cái lọ trống trơn, tận cùng dưới đáy chỉ còn sót lại vài giọt nước màu nâu. Sâm cầm cái lọ chúc xuống, đợi mãi hồi lâu cho mấy giọt nước chảy ra, ngấm vào giữa mớ muối trắng đựng trên một chiếc lá. Chúng tôi bèn chia nhau những hạt muối phảng phất mùi tương trưởng giả mà coi như ăn tiệc. Thì ra, Sâm vừa bắt được cái vỏ chai "Maggi" do Pháp dùng xong, vứt trong rừng. Thế mà anh ra vẻ quý trọng nó, cất kỹ trong cái bao quần áo như một thứ kim cương, hột xoàn.

°

Đồng bào ngoài thành khi nghe nói tới "cá khô tra" thì lấy làm ghê tởm, vì cái lai lịch xấu xa của loài cá ăn bẩn đó. Nhưng đối với anh em Liên Minh, nó chả bẩn tí nào. Dăm thì mười họa được tiếp tế "khô tra", người nào cũng hí hửng đem nướng ngay trên bếp. Ăn hết thịt còn xưong thì bẻ nát ra bỏ vào trong nồi, nấu với lá bứa làm canh chua, ăn cũng ngon đáo để. Tôi thiết tưởng cái thứ xương ấy, vứt cho chó cũng chả thèm đụng tới. Canh lá bứa cũng là một câu chuyện rất lý thú. Trong rừng, bứa mọc khắp nơi. Anh em đâm ra phung phí của trời. Đáng lẽ cần vặt một mớ lá non cũng đủ nồi canh, có người lại đẵn cả một cây bứa sum suê xuống cho bõ ghét. Nếu không nấu canh, thì cũng còn cách nhai lá non với muối cho đỡ dạ. Trung Tá Mạnh đã có lần phẫn uất, đề nghị mai sau về thành, thì rủ nhau làm một bữa tiệc gồm có "Thập lục hòa tương", cá khô tra nướng, với canh bứa "chính hiệu Liên Minh". Kẻ nào chê không ăn thì...bắn bỏ!

Có một dạo, vì tình hình quá khó khăn, chúng tôi chỉ được tiếp tế lúa hạt thay cho gạo lứt. Khổ nỗi trong rừng làm gì có đủ vật dụng để biến lúa kia thành gạo. Người bộ hạ của tôi bèn nghĩ ra cách đào lỗ, đặt một cái hộp thiếc nhỏ đựng thức ăn của Pháp xuống lòng đất, rồi đổ một ít lúa vào, giã bằng một khúc cây nhỏ từ sáng tới chiều, vừa đủ một nồi cơm. Ngày nào cũng thế, cứ hì hục lo giã gạo cho đủ ăn cũng đã quên hết thì giờ buồn tênh. Nhưng cái việc "giã lúa" cho tróc vỏ ra để thành gạo, cuối cùng đã làm cho hạt gạo nát vụn ra thành tấm. Anh em đành phải ăn cơm tấm tràng kỳ, ăn với măng luộc chấm với muối trộn ớt "chim iả". Số là trong rừng có thứ ớt do chim phóng uế ra mà mọc lên. Cây ớt cao hơn cả đầu người, cành lá sum suê và tròn trịa trông như một cây rơm ở miền quê. Ớt quả không biết cơ man nào mà kể, chín đỏ rực, tha hồ mà hái. Nhưng thứ ớt bé bằng hạt tiêu ấy nồng cay vô cùng, cay không kém gì các loại ớt nổi tiếng tại vùng Nam Mỹ, nơi mà người ta thường tổ chức các cuộc thi ăn ớt để phát giải thưởng. Có truyền thuyết cho rằng kẻ ở rừng nên ăn cho thật nhiều ớt cay để chống nước độc, thành thử anh em cứ cố xơi vào cho lắm để ngồi mà khóc cả đám như đưa ma.

Dường như trời cũng biết thương kẻ lầm than. Gặp thời kỳ khủng hoảng, thiếu thức ăn, bỗng nhiên lại bắt gặp măng tre "tầm vông" khá ngon ngọt và dễ kiếm. Chắc là đồng bào xưa kia đã trồng tre này làm rào dậu, lâu ngày chày tháng, tre tự nhiên sinh sôi nảy nở, mỗi bụi tre có khi chiếm trọn cả một khu vườn hoang. Khoảng tháng 5 tháng 6 âm lịch, măng non xuất hiện ê hề. Cứ mỗi buổi sáng, anh em rủ nhau ra "phục kích" các bụi tre, cắt những mụt măng vừa nhô lên khỏi mặt đất chừng một hai tấc. Cắt nhẵn cả măng lớn, măng nhỏ, chẳng chừa một mống nào. Muốn cho chắc hơn, anh em cẩn thận thò tay vào tận giữa hàng tre, vét sạch lá khô cành mục, sạch cho đến nỗi người bên này có thể nhìn thấy kẻ bên kia đang làm gì. Làm như thế là để yên chí hôm nay không còn "trự" măng nào sống sót. Ấy thế mà ngày hôm sau, đã lại bắt gặp hàng chục "trự'' khác nhô lên giữa bụi tre. Chả hiểu có tài gì mà mọc nhanh như thế!

Một hôm, tôi theo anh em đi kiếm măng. Tới bìa rừng, chợt chạm trán với Trung Úy Vũ Trải, Trưởng ban Quân phục. Anh có vẻ mặt hớn hở khác thường. Là vì tôi nom thấy anh quảy trên vai một gánh đồ vật khá hấp dẫn. Đầu này là một xâu măng kết lại bằng cái giây "cổ rùa", đầu kia là một tĩn nước mắm mà anh cho biết là mới được gia đình tiếp tế. Anh vui vẻ hứa ngay với tôi là sau khi về lều, anh sẽ cho người mang tới biếu tôi "chút nước mắm dùng cho đã!" Nhưng tôi vừa quay gót thì chợt nghe có tiếng vật gì rơi xuống đất. Tôi vội vàng chạy lại vừa đúng lúc anh Vũ Trải đang đưa tay chùi nước mắt! Thì ra, trong một phút sơ ý, anh đã để cho tĩn nưốc mắm tụt khỏi đầu đòn gánh, rơi nhằm chỗ đất cứng, võ toang. Nước mắm đổ đầy đường, chảy tràn vào trong cỏ, mùi thơm nồng nực. Tệ hại hơn nữa là ông trời đã "chơi khăm" anh cho đến nỗi cái tĩn sành kia vỡ nát làm sao mà không để lại cho anh lấy một giọt mắm nào. Cả một gia tài quý báu bỗng biến ra mây khói. Trước sự tình quá mỉa mai, tôi muốn cất tiếng cười mà chẳng dám cười, đành im lặng chia xẻ nỗi đau khổ thất vọng với người anh em đáng thương! Trên Núi Bà lại đặc biệt có "măng Mạnh Tông", thứ măng rất hiếm quý vừa to như măng tre lồ-ồ, lại vừa hết sức ngon ngọt bổ dưỡng, chỉ mọc vào mùa đông tháng giá mà thôi. Sở dĩ có cái tên "măng Mạnh Tông" là theo truyện "Nhị Thập Tứ Hiếu" bên Tàu kể lại rằng thuở xưa có ông Mạnh Tông thờ mẹ rất có hiếu. Khi mẫu thân ông già, đau bệnh, và sắp chết, có ước ao một điều duy nhất là trước khi chết, nếu được ăn một bát canh măng, thì dẫu có nhắm mắt cũng vui lòng. Lời ước nguyện kia lại xảy ra giữa mùa đông tuyết phủ trắng phau, làm gì còn có măng mọc? Nhưng ông Mạnh Tông vì lòng hiếu thảo với mẹ già, vẫn cứ đội nón mang tơi, gieo bước khắp núi rừng, mong tìm được măng đem về nấu canh cho mẹ. Ông vừa đi vừa khóc sụt sùi. Chợt có Đức Phật hiện lên, hỏi rõ lý do, bèn động lòng hóa phép cho một cây tre mọc lên giữa vùng tuyết trắng, với một mụt măng non mơn mởn. Nhờ vậy mà ông Mạnh Tông làm tròn chữ hiếu với mẹ già. Và cũng từ đó, bỗng có thứ măng mọc trái mùa, và chỉ được tìm thấy nơi rùng sâu núi thẳm, mà người Việt đặt tên là "măng Mạnh Tông". Quả thật thứ măng này rất hiếm hoi. Trên Núi Bà thỉnh thoảng mới bắt gặp một bụi nho nhỏ, thoạt trông có thể lầm với tre lồ-ồ, loại tre sinh ra thứ măng đắng rát cả cổ, không thể ăn được. Măng Mạnh Tông có mùi vị thơm tho ngọt ngào, ngon hơn cả thứ măng có tiếng tại miền Nam là "măng Vĩnh Long".

Người Liên Minh hết sức khốn khổ vì bệnh sốt rét rừng. Mùa muỗi mòng sinh sôi nảy nở là mùa sốt rét hoành hành dữ dội. Nhất thiết không một người nào tránh khỏi, dù có đề phòng đến đâu cũng vậy. Chỉ sau một vài cơn sốt là cả một đơn vị, cả một đoàn quân đông đảo đều bị tê liệt, không còn hoạt động gì được nữa cả. Ngay việc cơm nước hàng ngày cũng đành lãng quên, vì ai nấy sức lực hao mòn, mặt mày hốc hác xanh xao, không buồn cựa quậy. Tội nghiệp cho các quân nhân đêm đêm lo việc canh phòng, vừa run cầm cập vừa lo tròn bổn phận. Cũng may trong hoàn cảnh ấy, địch lại chẳng tấn công. Vì phía cộng sản nào có hơn gì, chúng cũng chết lên chết xuống vì chứng sốt rét. Còn Pháp thì chẳng dám vào rừng, vì mùa sốt rét lại là mùa nước lũ dâng ngập rừng rú, đỉa vát ê hề, dẫu Pháp có điên chăng nữa cũng chẳng dám liều mạng.

Thật thảm thê cho anh em Liên Minh, vì cùng với cái họa sốt rét, họ lại còn phải thân màn trời chiếu đất không cửa không nhà, vì không quân Pháp luôn luôn hoạt động, đốt phá. Mang tấm thân bệnh hoạn, họ nằm ngủ ngay trên mặt cỏ ướt. Ban đêm trời mưa dầm dề, phải chọn chỗ nằm dưới gốc cây to, lấy tấm quần tấm áo che mặt để tránh những giọt nước lá rơi bồm bộp suốt canh thâu. Sáng ra mình mẩy bốc hơi, áo quần hôi hám, đành ngồi đợi ánh nắng cho khô ráo. Vì thế mà bệnh càng thêm nặng khó chữa.

Trong rừng có loại mòng hút máu người thật đáng sợ. Cá nhân tôi đã một lần làm nạn nhân của chúng. Hôm ấy, tôi mượn được cái thùng múc nước của một người anh em, định đi tắm rửa tại một cái giếng hoang ở giữa rừng. Giọc đường tôi bỗng bắt gặp một con lợn rừng khá to, với làn da sần sùi và hai cái nanh nhọn hoắt chỉa ra hai bên mép. Tôi hoảng sợ, vội vàng trèo ngay lên một thân cây gần đó. Con vật khổng lồ kia cứ đủng đỉnh vừa đi vừa ủi cái mõm dài xuống mặt đất, cày đất lên thành luống dài trông phát khiếp. Nó qua rồi, mồ hôi tôi toát ra như tắm. Khi tới cái giếng hoang, tôi lại vô ý đánh rơi cái thùng múc nước xuống đáy giếng. Thấy có cây tre ai bỏ dưới giếng, tôi bèn vịn theo nó, nhảy xuống làn nước cạn. Nào ngờ tới nơi tôi mới biết là nguy. Mặt tôi nóng bừng bừng, tim đập như trống trận. Tôi không thở được nữa. Thì ra tôi đã bị hơi độc làm tắc thở. Giếng hoang lâu ngày chất chứa hơi độc trong lòng, làm cho không khí nặng hẳn lên. Lần đầu tiên tôi đuợc kinh nghiệm, ý thức ngay cái tai họa chết người, nếu chậm trễ giây phút, ắt sẽ bỏ thây dưới giếng. Tôi bèn nín thở, cố lấy sức bám vào cây tre, trườn mình lên mặt đất, rồi nằm lăn quay ra vì mệt mõi. Một hồi lâu tỉnh lại, tôi nhìn thấy trên mình tôi đầy những con vật màu nâu bằng con ruồi lằng, đang cắm đầu hút máu. Hoảng quá, tôi đuổi chúng đi, rồi chẳng thèm tắm nữa, cứ để nguyên thân hình lốm đốm những dấu máu và bùn, trở về nhà.

Thành thật mà nói, tôi không sợ giặc bằng sợ những con mòng đáng ghê tởm đó.

Ngoài ra, trong rừng lại thêm cái nạn sâu rọm mối đất, và ve, độc hại cũng không kém. Sâu rọm to hơn cả ngón chân cái, bò lổm ngổm khắp nơi. Chúng chết trên những đống lá khô, để lại thứ lông đen, sẵn sàng đâm nát cả chân người. Vô ý dẫm phải, chỉ còn có nước ngồi bệt xuống, dùng dip tốt nhổ từng chiếc lông một, có khi cả một ngày trời mới xong. Nếu còn sót lại, chỗ ấy sẽ làm độc, thối cả chân. Còn thứ mối đất tôi kể ra đây không phải là thứ mối vẫn thường đùn đất lên làm thành tổ mối mà người miền quê hay dùng làm cối xay rất tốt. Trái lại, thứ côn trùng nguy hiểm này lại thích sống từng đàn, thường nằm giữa các lối đi. Khi nghe tiếng bước chân người, chúng bỗng vùng cả dậy, gây ra những tiếng kêu rèn rẹt. Chúng tấn công bằng cách mở rộng hai chiếc gọng kềm nhọn hoắt ở phiá trước miệng, gắp chặt vào da thịt. Dù có giết được chúng, thì đôi gọng kềm kia vẫn còn dính trong da thịt, gây ra những vết thương khá đau đớn. Loại côn trùng nguy hiểm thứ ba được đặt tên là "con ve", hình thù bé tí teo, thường ẩn mình trong lớp vỏ cây tràm. Chúng lén lút bò lên người, chui vào các chỗ kín, hoặc trong lỗ tai, khóe mắt.

Ai bị đốt, sẽ nổi hạch và sốt li bì. Nếu không sớm tìm ra "thủ phạm" để ngứt bỏ đi, thì cơn sốt sẽ kéo dài và càng thêm trầm trọng bỏ ăn bỏ uống. Nhưng đặc biệt là chỗ bị "Ve" đốt cứ tiếp tục đóng vẩy hàng năm trời, hễ lớp này gỡ bỏ đi thì lớp khác lại mọc lên, ngứa ngáy khó chịu.

Mùa mưa sinh ra thứ nấm tràm hằng hà sa số. Thoạt mới trông thấy, chúng tôi tưởng là của quý, vội đem về ăn. Ngờ đâu, nấm đắng hơn bồ hòn, không nỡ vứt đi, vẫn cố ăn cho hết, nhưng vừa nhai vừa bịt mũi để khỏi nghe mùi đắng. Đêm đêm, rủ nhau đi bắt dế mèn về nướng ăn cho đỡ dạ. Ăn cả những con nhện đen, lông lá thật là ghê gớm. Riêng trên Núi Bà, có loại thằn lằn đen bóng, to bằng cả một con cắc kè. Chúng sống từng đàn từng lũ, và thường bám trên ngọn cây gáo. Chúng sợ nhất lũ chim Hồng Hoàng, một loài chim đồ sộ có cái mỏ vàng thật to tướng, khi bay phát ra tiếng kêu vun vút như tiếng trọng pháo đang bay qua đầu. Thành thử mỗi khi Hồng-Hoàng bay qua, cả một đám thằn lằn đều bủn rủn buông chân, rơi đồm độp xuống đất. Người anh em Nguyễn Văn Phương vốn có tính khôi hài, một hôm bỗng đưa ra ý kiến bắt thằn lằn kia ăn thịt. Anh lý luận: "Chúng ta sẵn có một kho lương thực trước mắt, tội gì không dùng? Tôi xin tình nguyện làm cuộc thí nghiệm. Nếu tôi chết, thì đừng ai bắt chước nữa!" Thế là anh đi bắt thằn lằn về nướng, bóc lớp da đen để lộ mảnh thịt trắng hếu. Anh nhai ngấu nghiến, mà rồi anh vẫn không chết. Tuy vậy, tôi cũng đành chịu thua, ít dám đụng chạm tới món thực phẩm ấy.

Núi Bà cũng lại là sào huyệt độc nhất vô nhị của loài dơi. Có tới hàng triệu con dơi sống trong các hang đá. Buổi chiều, khi mặt trời vừa tắt, từng đàn dơi bay ra khỏi núi cho mãi tới gần sáng mới về. Anh em bèn nghĩ ra mọi sáng kiến bắt dơi về làm món ăn. Riêng tôi, chẳng có lưới, chẳng có vợt, mà cũng rủ người bộ hạ tổ chức bắt dơi như ai vậy. Tôi bảo người ấy vào trong hang, cầm cây khua động cho dơi bay ra. Còn phần tôi thì đứng thủ thế ngoài cửa hang, sẵn sàng dùng hai tay không để "chơi" với loại "phi cầm phi thú". Ngờ đâu khi dơi hoảng hốt tung ra, thì chúng lại "tè" ngay trên đầu, trên mặt, hôi hám không thể tả. Bị tối tăm mặt mày, tôi chụp được con nào là bóp ngay con ấy, rồi nhét vào túi quần. Nhưng chúng sống lại, cắn đau quá, rồi bay thoát mất. Rút cục, chỉ còn lại dăm ba con là nhiều. Đem chiến lợi phẩm về nhà lột da, cắt bỏ đầu, rồi bằm nát nấu cháo. Mùi xạ dơi vẫn còn nồng nực, người thị thành đời nào thèm chiếu cố. Nhưng "quân tử cố cùng", vẫn cứ coi như "mỹ vị", có sá chi cái mùi xạ dơi khó ngửi. Ăn mãi mấy tháng cho tới mùa dơi có chửa, thì không còn lòng dạ nào sát hại chúng nữa.

Từ khi dời Bộ Tư Lệnh về Núi Bà, Tướng Thế bị sốt rét nặng. Tuy nhiên, hoặc vì lòng tự ái của một tướng lĩnh cầm quân, hoặc muốn lấy việc làm để quên đi cơn sốt, ông hì hục đi vác đá làm phòng tuyến. Chỉ được một lát thôi, ông lại phát run cầm cập, đành bỏ dở công việc, nằm đáp chăn chịu đựng cơn sốt. Phần tôi cũng thế, bị sốt liên miên. Qua những cơn đau ốm khủng hoảng, với tấm thân càng ngày càng gầy yếu, với miệng khô cổ đắng, mọi người đều thầm ao ước phải chi có được một ngụm cà phê hoặc một điếu thuốc lá đặt trên môi, thì cuộc đời đỡ khổ biết chừng nào. Những thứ ấy trở thành hiếm hoi, tăng cường sự thèm khát cho đến nỗi một hôm Tướng Thế được gia đình lén gửi vào cho một bịch thuốc, Tướng Thế cùng với anh em đốt sạch chỉ trong vòng một đêm thôi. Tới khi hết nhẵn, lại thấy thèm, bèn rủ nhau đốt đèn cầy, mò mẫm xuống dưới hố sâu, nơi tàn thuốc vừa được quăng xuống. Đáng thương cho Tướng Thế, ông bị phân dơi làm khó thở, hắt hơi, cả hàm răng giả văng đâu mất. Hố sâu, đèn cầy không đủ sáng, đành bỏ dở việc tìm kiếm. Lúc trở lên phòng họp, anh em cứ chọc cho ông cười. Nhưng ông mắc cở, liền tuyên bố bế mạc phiên họp quan trọng đã kéo dài gần trọn đêm.

Dường như có lúc Tướng Thế cũng muốn "trả thù" cuộc đời thiếu thốn cho bỏ ghét! Nên nhân dịp Tết năm thứ hai, ông nhận được một chút quà Xuân, liền bày ra một bũa tiệc Tân Niên gồm có rau muống, nước mắm, và cơm gạo trắng! Ông ra điều kiện là mỗi thứ ấy phải ăn riêng rẽ chứ không được lẫn lộn. Nghĩa là rau muống thì cứ việc nhai không một mình cho hết, nước mắm húp riêng cho sạch, rồi tới cơm thì... ăn nhạt! Anh em làm bộ tươi cười tham gia "bữa tiệc" hơi quái gở ấy, mà lòng thì "nát tan đau khổ", bởi đã không được thưởng thức bữa cơm theo lối bình thường với rau muống chấm nước mắm thì còn cái thú nào hơn?

Lại một hôm, lúc còn ở tại rừng Bù Lu, tôi bỗng nhận được cú điện thoại vào lúc nửa đêm của Trung Tá Cảm Văn Tỵ, mời tôi với Trung Tá Tham Mưu Trưởng Trương Lương Thiện, Thiếu Tá Hồ Đức Trung, Thiếu Tá Nguyễn Văn Đờn, "vui lòng quá bộ" tới căn cứ của ông ở mãi dưới khu rừng Cai Tắc, để dự một "bữa tiệc"... cà phê sữa! Phải biết từ chỗ tôi ở tới rừng Cai Tắc, đường chim bay ít nhất cũng phải 6 cây số. Vậy mà anh em chúng tôi chẳng có người nào từ chối cả. Mắt cứ sáng lên, chúng tôi mừng rỡ lên đường, lội bì bõm trong làn nước sâu gần tới rốn, lại phải đi qua một chiếc cầu treo bằng giây mây bắc ngang giòng suối đang mùa nước lũ. Lúc tới nơi, thấy Trung Tá Tỵ vẻ mặt hớn hở, cho hay gia đình ông vừa gửi cho một hộp cà phê bột Nestlé với một hộp sữa bò. Anh em nhìn ông với vẻ thán phục. Thế rồi cà phê được mang ra đãi khách trong mấy chiếc điã nhôm (chứ làm gì có tách mà dùng). Báo hại, đỉa nhôm nóng bỏng môi, không tài nào húp được, ai nấy đành lè lưỡi ra "liếm" cà phê từng chút, từng chút, cho tới khi hết nhẵn. Sau đó, thấy lòng ấm áp, lại ngồi "tán dóc" thêm một hồi, xong mới rủ nhau lội bộ thêm 6 cây số nữa, trở về nhà.

Nhân nói về cái tài "tán dóc" của người Liên Minh, tôi dám chắc không ai bằng họ. Tôi không hiểu do đâu mà bụng dạ người nào cũng chất chứa cả một kho tàng những chuyện trên trời dưới đất, những chuyện hài hước thích thú lạ lùng, để khí rảnh rỗi thì xúm nhau lại trao đổi liên miên bất tận. Nhất là khi gặp cảnh gian truân, thì khoa "tán dóc" càng tăng gia gấp bội, tiếng cười tiếng nói rộn ràng như ngạo mạn khinh khi sự nguy biến, sự tử sinh đang chờ đợi đâu đây. Riêng Tướng Thế xem chừng cũng thích tham gia tán gẫu với anh em, và kể ra nhiều câu chuyện ngộ nghĩnh cười nôn ruột. Đặc biệt khi ông có điều chưa giải quyết được trong lòng, thì ông dám phí cả buổi trời nói chuyện "tào lao". Tôi nghiệm thấy đồng bào trong Nam phần đông mang trong giòng máu cái tính hài hước, dễ dãi, hay chế nhạo người mà không hề có ác ý. Chẳng hạn; khi một cá nhân vô tình lầm lỗi việc gì, thì họ lấy ngay việc ấy mà đặt tên cho người trong cuộc, mãi rồi khắp bàng dân thiên hạ đều biết tên biết tuổi.

Cũng vì cái nạn "đào ngũ" của một số binh sĩ kém tinh thần, mà bao nhiêu "anh lớn" trong đoàn thể đều bị đày đọa hết sức khốn khổ. Nhằm giữ bí mật an toàn, chúng tôi phải thân hành đi vác gạo đổ vào kho, chứ không dám phó thác cho các cấp nhỏ như mọi khi. Gạo đựng trong bao sọc xanh 100 ký. Vì không có kinh nghiệm trong nghề vác gạo, chúng tôi tưởng "dễ ăn", định cứ hai người khiêng một bao từ chỗ chất gạo vào tới trong rừng, ước chừng một cây số. Thử đi thử lại mọi cách vẫn không xong, cuối cùng đành tháo gạo ra, rồi ai nấy cởi ngay quần dài, buộc túm hai ống lại, đổ gạo cho đầy hai ống, đoạn cho lên cổ, bước lom khom, trông như "người cõng người" với đôi chân bỏ ra phía trước vậy. Tải cho xong mấy chục bao gạo thì đã mệt đừ người, bèn nằm lăn quay ra bãi cỏ mà thở hồng hộc. Đây cũng là một trong những lúc cái thể xác thiếu dinh dưỡng kinh niên của mỗi người vùng dậy mơ "giấc mơ tiên" có được một bữa "cơm y", một tách cà phê hoặc một điếu thuốc lá. Nhưng "nàng tiên" vẫn cứ vô tình không hóa phép đem cho mấy món vàng ngọc ấy. Nên một người anh em trong bọn chợt nổi cơn bất bình, cởi phăng quần áo, rồi nhảy tùm xuống cái ao nước ở giữa bưng, tắm rửa ào ào, bất chấp vấn đề "công xúc tu sỉ!" Tắm xong, con người hiên ngang ấy lại đứng tồng ngồng giữa khoảng trời đất mênh mông, đứng yên lặng như một thi nhân đang thả hồn theo ý đẹp! Cái cảnh man rợ ấy hãy còn in dấu trong tâm hồn tôi, ám ảnh suốt cuộc đời lưu lạc. Tôi thấy không còn quang cảnh nào "hùng vĩ" hơn thế nữa.

Tôi vừa nhắc tới hai chữ "cơm y" mà tôi chắc nhiều người chưa hiểu nghĩa. Nguyên do lúc bấy giờ, cả Pháp lẫn một số chân tay bộ hạ của Tướng Nguyễn Văn Thành bao vây Liên Minh quá chặt chẽ, khủng bố quá tàn bạo, khiến Liên Minh bị cắt mất nguồn tiếp tế lương thực. Gạo thóc trở nên hiếm hoi cho đến nỗi Liên Minh phải cắt đặt một số nữ cán bộ lang thang trong các vùng cư ngụ của ngườỉ Thổ (tức là Miên), đóng vai "con nuôi" của họ, để mong họ nhủ lòng giúp cho một ít gạo đem về nuôi quân. Dù khéo léo tới đâu chăng nữa, mấy người cán bộ "con nuôi" kia cũng chỉ thu hoạch được một số lương thực giới hạn, chẳng đủ vào đâu. Thành thử món ăn chính hàng ngày của Liên Minh vẫn là thứ củ mì mà hàng năm đồng bào Cao Đài vẫn canh tác ở mấy vùng đất nằm cạnh chân Núi Bà Đen. Đồng bào được biết anh em đói khổ cùng cực, nên đã kín đáo gửi "thông điệp" cho hay họ sẵn sàng hy sinh toàn vẹn các thửa vườn mì của họ, và cho phép Tướng Thế cứ việc bảo anh em tự tiện đào xới lên mà dùng, đừng nghĩ gì tới chuyện tiền nong. Thế là "một miếng khi đói bằng một gói khi no", người Liên Minh tha hồ ăn sắn trừ cơm. Lúc đầu thì cũng thấy hơi ngon miệng. Nhưng càng ngày càng ngán tới cần cổ, không còn ham nhai sống, nuốt tươi, hoặc luộc, hoặc nấu canh như trước. Vì cái món cũ mì thật khó tiêu hóa. Không ăn thì đói, mà ăn vào thì cứ thấy nóng nơi cuống họng, dạ dày anh ách rất là khó chịu. Cho nên, hễ nhận được lon gạo nào, là anh em đổ chung vào thổi cơm với sắn. Gạo ít, sắn nhiều, khiến mỗi củ sắn "đèo bồng" dăm mười hạt cơm, thảm thương khó tả. Dĩ nhiên là anh em thèm thuồng những bát cơm hoàn toàn không trộn sắn. Vì thế mới có danh từ "cơm y" được truyền bá, có nghĩa là cơm nguyên vẹn.

Thiếu Tá Nguyễn Văn Đờn có ông bố hàng ngày vào làm rẫy ở dưới chân núi. Thực ra, ông cụ cũng chẳng có bao nhiêu đất đai để gọi là "làm rẫy" ngày nọ tháng kia.

Song ông cụ cũng thác cớ nọ kia, để đuợc phép luôn luôn ra vào một nơi gần gũi với con ông (mặc dù con ông ở tận mãi trên đỉnh núi). Mỗi khi có chút quà nào mang được vào cho con, ông cụ đánh mấy tiếng mõ lốc cốc báo hiệu cho Đờn biết. Đờn lập tức sai bộ hạ men xuống rẫy "chớp" ngay món quà quý báu mang lên núi. Hơn một lần, riêng tôi cũng đã được một đồng bào Cao Đài vốn có lòng quý mến tôi, lén lút mang vào biếu tôi chút ít "cơm y", theo cái thể thức như ông cụ vừa kể trên. Vừa nom thấy tôi, người ấy đã khóc ròng, rồi vội vàng lật úp cái rổ đựng phân trâu hôi hám, lôi ra dưới đáy rổ một gói cơm bọc bằng lá chuối, trao cho tôi với tất cả tấm lòng thiết tha cao quý. Cái mớ "cơm y" nằm dưới rổ phân trâu, tuy được che đậy kỹ càng, vẫn ngấm mùi phân inh ính. Nhưng tôi không thấy lộm giọng, tôi vẫn cố ăn cơm ấy, ăn miếng cơm nghĩa khí đậm đà, thật là "bát cơm Phiếu Mẫu" của đời nay vậy.

Lại một lần khác, một cụ già được biết là ở tận dưới mũi Cà Mau, không biết lặn lội cách nào mà vào được tới Núi Bà Đen, yêu cầu trạm canh gác ở chân núi cho lên gặp tôi. Ông cụ với tôi hoàn toàn không quen biết xưa nay. Nhưng ông cụ bỗng lôi ra trong bọc áo một bao thuốc lá "Cotab" và một hộp sữa bò, rồi trịnh trọng đứng lên mà nói rằng: "Già này được nghe biết danh Ngài đã lâu, rất có bụng cảm phục Ngài. Nay nhân dịp lên thăm thằng con trai ở Tây Ninh, nên không bỏ lỡ cơ hội, đem vào tặng Ngài một chút quà nhỏ mọn. Xin Ngài đừng từ chối!". Ôi thôi, lòng tôi xiết bao kinh ngạc, hoảng sợ và cảm kích trước cái nghĩa cử lạ lùng đó. Tôi liền ưá nước mắt, và vội vàng sụp lạy bực lão trượng, chứ cũng nghẹn ngào chẳng biết nói lời gì hơn. Ông cụ hấp tấp đỡ tôi dậy, rồi nói tiếp: "Xin Ngài đừng làm thế. Già này cũng chẳng còn sống sót bao lâu nữa. Thương nhau thì muốn biết mặt biết người để trở về cho yên dạ. Dẫu có bị bắt bỏ tù đày, cũng không lấy làm ân hận!" Tôi không biết lấy gì đãi cụ, bèn mời cụ nán lại xơi một bữa cơm sắn trước khi ra về. Tôi có hỏi tên cụ, nhưng cụ vẫn nhất mực không nói. Tôi chắc ngày nay cụ đã về cõi hạc, và khi chép lại mấy giòng này, tôi khấn nguyện vong hồn cụ hãy biết cho rằng suốt cả cuộc đời tôi, tôi không bao giờ dám quên tấm lòng vàng ngọc của cụ ngày xưa, cách đây những 30 năm dư.

Các mẩu chuyện hy hữu trên đây là những chứng tích về tấm lòng thương yêu đùm bọc của đồng bào Cao Đài đối với Tướng Thế, đối với Liên Minh. Không có họ, Liên Minh không thể sống sót năm năm đằng đẵng, Tướng Thế không thể nêu cao nghĩa khí anh hùng. Tôi nghĩ rằng một cuộc đấu tranh chính nghĩa mang màu sắc dân tộc, hoàn toàn phù họp với nguyện vọng toàn dân, thì bao giờ cũng được toàn dân ủng hộ bằng cách này hay cách khác. Chứ chẳng phải như lũ cộng sản kia, khi thất thế thì dùng chính sách lừa bịp để cướp của dân, rồi khi đắc thời thì lại quay ra sát hại thẳng tay ngay chính các ân nhân của chúng.

Đồng bào đạo hữu Cao Đài vốn đã thấm nhuần cái giáo lý từ bi hỷ xả, lại thêm có con cháu trong hàng ngũ Liên Minh, nên chẳng cần ai tuyên truyền thuyết phục, mà họ vẫn cứ tích cực hy sinh giúp đở Liên Minh, không màng chuyện ơn nghĩa. Họ thương yêu và quý trọng Liên Minh cho đến nỗi bất cứ bao giờ có lễ lạc trong chiến khu, là họ tự động lần mò tới dự, bất chấp cả hiểm nguy tù tội đang chờ đợi họ. Trước mỗi cái Tết, Liên Minh lại được tiếp tế hàng núi bánh trái, nhất là Tết năm 1953, quà bánh quá nhiều đến nỗi phải phơi khô để dành. Hàng năm, Liên Minh tổ chức kỷ niệm ngày thành lập Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến Việt Nam, tức là ngày 20 tháng 8 dương lịch. Đồng bào tham dự vô cùng đông đảo, thức suốt đêm, ngồi bệt duới mưa, theo dõi những màn trình diễn văn nghệ kháng chiến.

Trong dịp kỷ niệm Mặt Trận hồi tháng 8 năm 1954, chúng tôi đem trình diễn vở kịch chống cộng, đặc sắc của Đ.T.B., nhan đề "ái tình Bôn Sơ Vít", vở kịch khá dài, diễn gần trọn một đêm. Đồng bào say mê trước tài diễn xuất của anh chị em trong ban Văn nghệ Đài Phát Thanh Chiến Khu, và chính tôi cũng say mê ngồi cạnh đồng bào, với nhiều lần ứa nước mắt trước tài nghệ của các diễn viên. Nói tới Đ.T.B., tôi muốn vẽ ra hình ảnh một thanh niên trẻ tuổi, thông minh, tính tình thật đáng yêu, và đầy nhiệt huyết với cách mạng dân tộc ngay khi còn ở lứa tuổi học trò. B. bấy giờ đã khá giỏi Anh văn, nên được giao cho tiếp tay với Trung Úy Bút, soạn các bài bình luận cho chương trình phát thanh Anh ngữ. Hai người này luôn luôn cãi vả nhau, thật khá buồn cười. Quả thật, cuộc đấu tranh gian khổ đã chóng đưa B. tới mức trưởng thành, vở kịch "ái Tình Bôn Sơ Vít" kia, B. sáng tác ngay trong khu, làm tôi khá ngạc nhiên vì cách bố cục, và tôi cũng lại là một trong những người ham mộ vở kịch ấy. Sau về Saigon, Liên Minh đem trình diễn tại rạp Thống Nhất, và được khán giả hoan nghênh nhiệt liệt. Thời gian tôi ở nước ngoài, nghe đâu Đ.T.B. đã đem kịch bản "Ái Tình Bôn Sơ Vít" ra xuất bản, nhưng tôi chưa hề thấy mặt tác phẩm ấy.

Tóm lại, những nỗi gian khổ của Liên Minh đếm không xuể. Sau 5 năm sống cuộc đời rừng bụi, màn trời chiếu đất, bữa đói bữa no, ăn rắn rết trừ cơm, uống cả nước tiểu của mình cho đỡ khát, hầu hết anh em Liên Minh đều mang những chứng bệnh ngặt nghèo bắt nguồn từ chỗ thiếu dinh dưỡng; Một số không chịu nổi phong trần, đã bỏ mình tại chỗ, như trường hợp Thiếu Tá Vũ Ước. Số khác, sau khi về thành, mắc chứng đau dạ dày, đau gan, rụng tóc, rụng răng, già trước tuổi. Dù mang hậu quả nặng nề như thế, tôi vẫn chưa bao giờ nghe thấy một người anh em Liên Minh nào than thở phàn nàn về cái dĩ vãng của họ. Dù trở về làng làm ruộng rẫy, dù đạp xích lô, dù lái Taxi đưa khách, tất cả những con người đã từng một thời là "Đồng chí" của Tướng Trình Minh Thế đều hãnh diện khi nhắc tối hai chữ Liên Minh, khi nhắc tới Núi Bà Đen, khi nhắc tới những trận đụng độ oanh liệt với kẻ thù. Chỉ một cái tên "Trình Minh Thế" đã gieo rắc hương hoa trên suốt cuộc đời của những người chiến sĩ hiên ngang mà giờ đây, sau một phần ba thế kỷ, phần đông chắc đã mai một...

CHƯƠNG IX
PHÁP ĐÁNH ÚP LIÊN MINH TẠI GÒ SƠN TÂY

Bước sang năm 1953, áp lực Pháp càng ngày càng mãnh liệt, chiến khu Bù Lu khó lòng giữ vững được. Tướng Thế bèn quyết định mở rộng tầm hoạt động, tạo cái thế môi răng che chở cho nhau. Núi Bà Đen trở nên mục tiêu chính yếu đối với ông, nên cần phải chiếm giữ núi ấy vốn là sào huyệt cố cựu của cộng sản miền Nam lúc bấy giờ.

Đầu tháng 3 năm ấy, sau khi đã chọn lựa cắt đặt một số đơn vị ở lại chống giữ chiến khu Bù Lu, số còn lại được Tướng Thế đem theo trong một cuộc "Ngũ Nhật Trường Chinh" nhắm thẳng Núi Bà tiến phát. Sở dĩ tôi gọi cuộc hành quân ấy là "Ngũ Nhật Trường Chỉnh" là bởi, nếu đi theo con đường liên lạc bình thường, thì tù Bù Lu tới Núi Bà, chậm nhất cũng chỉ một ngày một đêm là tới nơi. Nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh, vì đoàn quân quá đông đảo, và cũng vì đối phương theo dõi quá gắt gao, nên phải chọn con đường dài gấp năm, mười lần, con đường vắt qua đất địch cộng sản, con đường đầy dẫy những gian nguy bất trắc. Khiến cho nên phải mất tới 5 ngày 5 đêm hành quân bằng đường bộ, mới đặt bước tới nơi đã định.

Từ Bù Lu tới Bưng Rồ thì tạm đình binh, để chuẩn bị thuyền bè vượt qua sông Vàm Cỏ Đông, nhân tiện cũng để cho Trung Tá Tham Mưu Trưởng Trương Lương Thiện làm lễ tiễn biệt trước khi trở lại căn cứ. Trung Tá Thiện cũng muốn xin theo lắm, nhưng trách nhiệm bắt buộc ông phải ở lại Bù Lu thay cho Tướng Thế. Buổi chia tay diễn ra giữa chốn rừng hoang thật vô cùng cảm động. Con sông Vàm Cỏ Đông ở mạn Bưng Rồ lại quá rộng, và nhiều cá sấu. Thuyền qua sông lại chẳng có, nên anh em phải đẵn cây rừng và chuối mà kết bè, xong chiếc nào thì cho quân sang sông chiếc ấy. Dù biết nước kia có nhiều cá sấu nguy hiểm, anh em cũng bất chấp, phó mặc tính mạng cho may rủi. Chẳng may chiếc bè chở cái máy phát điện cùa đài Phát Thanh bị chồng chành rồi lật úp, ném luôn cái máy điện xuống đáy sông sâu. Tướng Thế được tin thì giận lắm, vì lẽ chiếc máy kia không những đắt giá mà còn là một trang bị huyết mạch của Liên Minh, không thể đánh mất được, ông liền hạ lệnh cho những ai có trách nhiệm phải tìm mọi sáng kiến vớt máy lên cho bằng được, nếu không sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc. Thương thay một số quân nhân giỏi nghề bơi, liều mình lặn xuống đáy sông tìm mãi mới bắt gặp cái máy. Họ liền lấy giây buộc máy vào mình, rồi bảo nhau cùng nổi lên mặt nước một lượt. Nhờ cách ấy, họ đã cứu vãn được chiếc máy nặng ngàn cân, nhưng họ cũng không khỏi hộc máu tươi vì công tác quá ư nặng nề khó khăn.

Đưa hết đoàn quân sang sông thì trời cũng đã sáng, lại phải vào rừng nghỉ ngơi, trú ẩn theo chương trình ngày nghỉ đêm đi. Đêm sau, chúng tôi tới một địa điểm xa lạ, mang tên Sơn Tây, mà người địa phương quen gọi là Gò Ông Hàn. Chỗ này địa thế hiểm trở, nguyên là một căn cứ quan trọng của cộng sản Miền Nam. Hồi 4 giờ khuya, lúc đoàn quân sắp đặt chân tới nơi ấy, thì dọc đường thỉnh thoảng nghe có tiếng súng nổ đơn độc, tiếp theo là tiếng bước chân chạy xào xạc trong rừng. Thì ra, cộng sản cho lính của chúng ban đêm leo lên ngọn cây ngồi canh gác. Khi nom thấy bóng chúng tôi, bọn quân canh ấy bắn súng báo hiệu, rồi vội vàng tụt xuống tìm đường trốn tránh. Chúng tôi quá mệt mỏi, vô tình không biết là mình bị địch theo dõi, bao vây. Ông với tôi cùng núp tạm trong một lều tranh đổ nát, bốn mặt trống trơn chẳng có tường vách gì. Trong lều lại có một chiếc võng mây tơi tả. Ông nằm trên võng còn tôi thì nằm ngay dưới đất, đánh một giấc cho tới sáng, tin tưởng nơi sự canh phòng của anh em.

Bất đồ sáng hôm sau, giữa lúc chúng tôi đang trao đổi ý kiến với nhau về cuộc hành trình, thì tôi chợt trông thấy Trung Tá Trạng, Thiếu Tá Trung, từ đằng xa bìa rừng đang chạy hớt hải về phía chúng tôi. Tướng Thế vội vàng nhổm dậy, thì đuợc báo cáo là Pháp đã xuất hiện cách chỗ chúng tôi chừng vài trăm thước, sắp sửa tấn công. Tin như sét đánh ngang tai. Tướng Thế một mặt sai hai sĩ quan kia lập tức trở về đơn vị của họ, mặt khác ông quay sang bảo tôi: "Anh hãy dẫn ngay đoàn quân Bản Bộ rút vào rừng cho mau, còn để mặc tôi đối phó".

Ông nói chưa dứt lời, tôi đã liếc thấy bóng dáng quân Pháp, gồm một số người Phi Châu da đen và người Thổ, lố nhố đằng kia, sau mấy chiếc gò mối. Họ vừa nổ súng đợt đầu, thì Tướng Thế cũng vừa chuẩn bị kịp mấy khẩu Mortier-60 và một khẩu đại liên, phóng ra một loạt chận đầu quân Pháp. Cuộc đụng độ trở nên dữ dội ngay trong chốc lát. Quân Liên Minh dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Tướng Thế, cảm thấy tinh thần hăng hái tin tưởng, nên đã chống trả kịch liệt trong cái thế bị đánh úp bất thình lình. Mortier, súng máy, súng trường, súng cá nhân, lựu đạn, tất cả đều được Liên Minh xử dụng tới mức tối đa. Bọn lính Thổ và da đen hơi núng thế, chưa dám tiến tới, đủ thì giờ cho tôi hướng dẫn đoàn quân Bản Bộ rút lui vào trong rừng.

Nhưng vì rừng già xa lạ, mà toán quân của tôi phần đông lại không được võ trang, thêm một số bệnh nhân và thương binh cần phải có người khiêng theo, nên tôi đâm lúng túng. Sợ mắc phải cạm bẫy của cộng sản địa phương, tôi bèn đổi hướng, đánh liều dẫn đoàn quân quặt sang phía tay trái, rút băng qua một cái bưng nhỏ. Vừa lúc ấy, quân Pháp đã tới gần, chúng bắn như mưa bấc về phía chúng tôi. Một hạ sĩ quan đi bên cạnh tôi trúng đạn xuyên qua cuống họng, kêu tôi cầu cứu. Tôi vừa cúi xuống ôm người ấy, thì một tràng đạn bay ngang qua đầu, găm ngay vào một thân cây to lớn. Hú vía! Tôi suýt chết vì tràng đạn ấy. Trên mình tôi lúc ấy có sẵn 2 quả tạc đạn, một khẩu súng lục phòng thân, một khẩu tiểu liên. Tôi tự nghĩ nếu chẳng may không thoát được, thì sẽ dùng các khí giới kia tự hủy hoại để khỏi rơi vào tay địch.

Nhưng tôi hơi ngạc nhiên khi thấy Pháp chỉ tấn công tới đó rồi dừng bước lại, chúng không dám xông pha theo bước chúng tôi vào tận rừng già. Có chạm mặt chiến trường, mới biết Pháp chỉ có tài dùng hỏa lực trên chân để uy hiếp tinh thần, chứ họ chẳng phải là tay thiện chiến. Lại thêm một chi tiết làm tôi chú ý, là trong cuộc tấn công này, không nghe có tiếng trọng pháo. Tôi chắc vì đôi bên chạm súng quá gần nhau, nên Pháp không dám dùng trọng pháo, sợ gây thiệt hại lây cho quân nhà.

Cả đoàn người đông đảo rút cả vào bên trong rừng, và được vô sự. Ngoài kia, cuộc đụng độ giữa Tướng Thế và Pháp vẫn còn tiếp diễn. Cứ nghe theo lằn đạn bay, thì phần đông hỏa lực từ phía Liên Minh phát ra, có nghĩa là Liên Minh ít nhất cũng đã làm chủ được phòng tuyến của mình. Dù biết vậy, lòng tôi vẫn hết sức lo ngại cho tính mạng của Tướng Thế. Ông đã bất thần đứng ngay ải địa đầu, hứng chịu hỏa lực mạnh nhất của địch.

Ngồi tựa lưng vào gốc cây rừng, tôi hình dung lại giây phút hãi hùng vừa qua, và tôi tưởng suốt đời sẽ không bao giờ quên đuợc gương mặt sắt đá của Tướng Thế, gương mặt của một tướng lĩnh cầm quân sẵn sàng chịu chết cho anh em được sống, gương mặt của một Lĩnh tụ cách mạng ý thức ngay sứ mạng của mình trong giây phút tử sinh, thà chịu mai một chứ không thể hèn nhát lo tìm nẻo an toàn, mà để cho bao nhiêu anh em khác rơi vào tay giặc. Tôi nhớ lại lời ông bảo tôi hãy rút cho mau, còn để mặc ổng đối phó với kẻ địch đã gần bên nách, mà tưởng thấy như đó là lời trăn trối dặn dò nhau phút cuối cùng! Chứ đối phố làm sao nổi, khi đối phương đã sẵn sàng bắn giết, còn mình thì chẳng kịp trở tay. Nếu chẳng may ổng có mệnh hệ nào tại gồ đất Sơn Tây hiểm trở xa lạ này, thì oan uổng biết bao nhiêu cho cuộc đời một con người có một không hai của nòi giống Việt! Nếu mất ông, cả đại cuộc này đành coi như mây khói, mà tất cả các anh em sống sót cũng không thế nào phục hưng nổi.

Đau đớn nhất cho anh em Liên Minh là cuộc tấn công bất ngờ của Pháp lại do chính bè lũ cộng sản chủ mưu. Sau này mới biết rõ chi tiết vụ này. Số là lúc nửa đêm hôm trước, toán đầu quân Liên Minh có chận bắt được một tên quân cộng sản. Tên này kêu la như lợn bị cắt tiết, nhằm báo động cho toàn vùng biết có biến động. Hắn cố vùng vẫy thoát thân, nhưng Đại Úy Đại Đội Trưởng Nguyễn Tấn Tước đã dùng một thế võ làm cho hắn tê liệt, không còn kêu la được nữa. Chúng tôi cũng tưởng hắn là một người dân quê khiếp nhược, nên không nỡ sát hại, định giữ hắn lại để nhờ hướng đạo. Nhưng suốt một đêm sau, từ 9 giờ tối đến 6 giờ sáng, hắn cứ dẫn chúng tôi đi loanh quanh trong một khu rừng già bưng bít, lâu lâu lại quay ngược về những chỗ chúng tôi đã đi qua. Mục đích hắn là cố giữ cho chúng tôi không ra thoát khỏi hiểm địa, để một là Pháp sẽ tiếp tục nghe ngóng theo dõi, hai là đồng bọn của hắn có đủ thì giờ bố trí tiêu diệt chúng tôi trong một nơi mà chúng tôi hoàn toàn mù tịt về địa hình địa vật. Quá tức giận trước thái độ gian manh của tên kia, tôi bảo Thiếu Tá Nguyễn Văn Đờn hãy lập tức khai thác hắn, rồi trừ khử đi để khỏi mang họa. Theo lời hắn khai, chúng tôi mới bật ngửa ra rằng lũ cộng sản địa phương thấy lực lượng Liên Minh quá hùng hậu, liệu thế chẳng dám đương đầu, bèn bày ra gian kế cho người ra Tây Ninh báo cáo với Pháp, để Pháp mở cuộc tấn công. Quả nhiên, sau khi trừ khử tên kia rồi, chúng tôi dùng địa bàn mở lối, chỉ trong chốc lát đã thoát khỏi khu rừng bưng bít.

Chừng hơn một tiếng đồng hồ sau, trận chiến chấm dứt, Tướng Thế với cánh quân của ông chẳng biết trôi giạt về đâu. Riêng cánh quân chúng tôi có Trung Tá Văn Thành Cao, Trung Tá Cảm Văn Tỵ, Trung Tá Hà Văn Tình, Thiếu Tá Nguyễn Văn Đờn gồm chung lại, bàn bạc với nhau hãy cứ nhắm thẳng hướng Núi Bà đi tới, rồi sau này sẽ tính chuyện đi tìm Tướng Thế. Chứ nếu còn bịn rịn quanh quẩn nơi này, nhất định sẽ bị Pháp tiêu diệt

Như trên vừa kể, đêm hôm ấy chúng tôi bị thằng cán bộ cộng sản lừa gạt dẫn giắt đi tới đi lui trong rừng tối bưng như hũ nút Sợ địch lợi dụng bóng tối chen vào giữa, dẫn giắt quân nhà lạc vào sào huyệt chúng, nên chúng tôi bí mật truyền lệnh cho nhau, người đi trước trao tay cho người đi sau, và người đi sau lại trao tay khác cho người đi sau nữa. Cứ thế, tạo thành một "đường giây người" len lỏi giữa rừng. Cũng vì cái lối di chuyển mất thăng bằng ấy, chúng tôi té ngã liên miên khi gặp phải chướng ngại vật trên đường mòn, bị cành cây đánh bật vào mắt suýt lòi tròng, gian nan không biết tới đâu mà nói. Tới nửa khuya, lại gặp sương mù bao phủ, mù mịt chẳng còn biết trời ở đâu, đất ở đâu. Riêng tôi thêm nỗi đau lòng vì người bộ hạ thân tín hàng ngày bị cộng sản phục kích sát hại, bằm thây vứt xuống giếng. Người anh em ấy cũng chỉ vì thương tôi mà chết. Nguyên trong buổi chiều hôm bị Pháp tấn công, chúng tôi tạm dừng chân giữa rừng, ai nấy đói lả. Vì khi Pháp đột ngột xuất hiện, là khi anh em đang sửa soạn làm cơm ăn sáng để chuẩn bị lên đường. Bao nhiêu cơm gạo, bao nhiêu nồi niêu xoong chảo đều vứt bỏ cả. Thậm chí một người anh em đang tắm bên cái giếng lạng, không kịp mặc quần áo đã bị Pháp bắt sống mang đi. Đó là anh Trung Uý Bút, một cựu sĩ quan không quân Đức Quốc Xã, mà tôi đã giới thiệu trong một đoạn trước. Thấy tôi đói khát, người bộ hạ bèn xin phép đi tìm trái cây rừng cho tôi lót dạ. Anh bảo đảm với tôi rừng này chắc có nhiều cây "gùi", một loại giây leo bám vào cây rừng lên tận đọt cây cao chót vót, sinh ra thứ quả to bằng quả bứa, vừa chua vừa ngọt, với cái hạt bên trong khá to, lại thêm chất nhựa lầm quặn thắt cả cuống họng và dạ dày. Muốn ăn thứ quả này, thì phải nuốt chửng, chứ không nhai được. Bất đồ khi men tới bìa rừng, người anh em đáng thương bị cộng sản rình rập đón bắt, rồi băm xác làm ba đoạn, vứt xuống giếng.

Bước sang ngày thứ hai (tức là sau hôm Pháp tấn công), chúng tôi phá lệ ngày nghỉ đêm đi, cứ lo thúc quân rút nhanh được chừng nào hay chừng ấy. Quân sĩ quá khát, hễ thấy nơi nào có nước uống là tấp ngay vào. Kỷ luật đã bắt đầu lỏng lèo. Trung Tá Cảm Văn Tỵ bèn rút súng ra, đứng ngay trên một bờ giếng ở cạnh đường đi, dõng dạc tuyên bố: ''Bất cứ người nào dừng bước lại đây sẽ bị bắn chết ngay tức khắc!''. Nhờ thái độ cứng rắn ấy, chúng tôi kịp rút khỏi một vùng bình địa hoang tiêu mà không xảy ra điều gì thiệt hại cả. Lại gặp một khu rừng già khác, định vào ẩn nấp. Nhưng rủi thay, khu rừng này lại quá nhiều hơi độc, vừa chực bước vào đã phải tháo lui ngay. Hơi độc phát ra từ những lớp lá rừng tẩm nước mưa làm nghẹn thở. Trong rừng hoàn toàn không có không khí, phần thì dưới đất rể lá chàng chịt, phần thì cây cối mọc lâu đời, cành lá đan kín cả bầu trời không để lọt một tia ánh nắng. Tại đây có những thứ cây rất lạ, thân cao đến nỗi ngửng mặt rơi mũ nón trên đầu mà vẫn chưa nom thấy ngọn. Thân cây trơ trụi, mãi tận cùng trên ngọn mới có một túp lá nhỏ trông như cái búi tóc. Nơi này thuộc địa phận Cao Miên, vì thỉnh thoảng thấy hiện ra mấy cái cọc bằng xi măng dùng làm ranh giới.

Chúng tôi đành phải đóng quân tạm nơi bìa rừng, để anh em lo việc cơm nước. Thảm thương thay, cả một đoàn quân gom góp lại chỉ còn mấy lít gạo may mắn còn nằm trong các gối quần áo được anh em mang theo. Chúng tôi định chia nhau nấu cháo. Nhưng tìm mãi vẫn không ra nước uống. Trước tình thế quá nguy ngập, chúng tôi bèn chọn mấy cái đường mương thiên tạo, nơi mặt đất tương đối ẩm ướt và có in dấu hươu nai đi qua. Đào xới một hồi, thấy có chút nước ứa ra lẫn lộn với bùn đục ngầu ngầu. Anh em chẳng quản vấn đề vệ sinh, cứ đợi nước ứa ra chừng nào thì múc đổ ngay vào nồi chừng ấy, miễn nấu được cháo cho qua cơn đói. Ăn xong nồi cháo, thấy dưới đáy nồi hãy còn sót lại cả một lớp bùn đen sền sệt.

Sang hôm sau nữa, chúng tôi di chuyển tới một khu rừng khác, thì chợt nghe thấy tiếng người kêu la thảm thiết, tiếp đến thấy xuất hiện nơi xa xa một toán đông người cầm vũ khí. Nghi là mình bị địch đón đường đánh phá, Trung Tá Văn Thành Cao bèn bố trí mặt trận, rồi nổ súng. Toán người kia cũng bắn trả lại kịch liệt. Chừng mấy phút sau, nghe kỹ lại cách thức bắn súng của đối phương, nhất là súng máy, Trung Tá Cao bắt đầu nghi là gặp phải quân nhà, bèn ra lệnh ngưng bắn. Rồi ông kêu to giữa rừng: "Có phải Ngài Thiếu Tướng đó không?" Quả nhiên, người ở đằng kia là Tướng Thế. ông cũng kịp thời nhận ra cách bắn của quân nhà, nên tức khắc hạ lệnh đình chỉ cuộc nổ súng. Đôi bên gặp lại nhau, mừng mừng tủi tủi, có người không cầm được nước mắt. May sao cả hai bên đều không bị thiệt hại gì sau một cuộc nổ súng "huynh đệ" vô tiền khoáng hậu.

Bấy giờ Tướng Thế mới tường thuật lại những gì đã xảy ra cho cánh quân ông. Sau mấy phút bắn chận đầu quân Pháp cho chúng tôi rút lui, ông đã nhanh chóng chuyển quân men theo bìa rừng về phía tay trái, trong khi chúng tôi lại chuyển về phiá tay phải, vì vậy mà đôi bên thất lạc nhau ngay từ phút đầu. Ông bắt liên lạc được với cánh quân của Trung Tá Trạng, Thiếu Tá Trung, rồi cùng nhau tiến thẳng về hướng Bắc, bất kể địa hình địa vật. Quân Pháp thấy Liên Mmh xuất hiện lẻ tẻ ở nhiều nơi thì lấy làm hoang mang, không biết nên đuổi theo cánh nào. Nhờ vậy mà hỏa lực của chúng giảm dần cho tới khi chấm dứt. Nếu chúng biết rõ Tướng Thế nằm trong cánh nào, tôi chắc ông khó lòng sống sót. Lạ lùng nhất là Pháp tấn công bất thần như thế, đôi bên ở gần nhau như thế, mà chung cuộc, Liên Minh chỉ bị thiệt hại một số không đáng kể. Từ phương Bắc gò Sơn Tây, Tướng Thế lại cũng như chúng tôi cứ nhắm thẳng hướng Núi Bà mà đi dần tới, trong thâm tâm ông đoán chừng chúng tôi cũng về ngả ấy. Tới khu rừng này, ông bị lạc lối. Tình cờ thấy có một tiều phu giữa rừng, ông chụp ngay người ấy định hỏi thăm đường. Nào ngờ người ấy quá hoảng sợ, kêu la inh ỏi. Buồn cười thay, tiếng kêu của người tiều phu kia không ngờ lại hoá ra tiếng kêu giúp cho Liên Minh đoàn tụ. Nếu không, ắt chúng tôi vẫn còn cứ buồn lòng lo nghĩ, bâng khuâng không biết Tướng Thế sống chết ra thể nào.

Suốt ba ngày ba đêm xa cách nhau trong hoạn nạn, mới biết tình anh em quả thật không có gì sánh nổi, mới thấy vai trò người lãnh đạo quan trọng là dường nào. Tôi nghĩ tới Lê Lai xưa kia liều mình cứu Chúa, chắc cũng đã mang cái tâm trạng như anh em Liên Minh ngày nay, chắc cũng đã thấy mạng sống mình chả còn giá trị gì khi Chúa bị giặc Tầu bao vây cùng đường tuyệt lối. Nhớ lại buổi chiều ngồi khoanh tay bó gối trong rừng, nghe ngóng tin tức của Tướng Thế, người anh em Nguyễn Văn Đờn đã nhẹ nhàng hỏi tôi: "Anh định sao đây nếu Ngài Thiếu Tướng không còn?" Tôi chưa kịp đáp, thì anh lại nói tiếp: "Tôi nghĩ rằng chúng mình thà chọn con đường lục lâm thảo khấu, chết bỏ thây trong rừng, chứ chả đời nào vác mặt ra hàng giặc để cho đời nguyền rủa!" Câu nói quả hợp với lòng tôi đang nghĩ. Vâng, thà chọn con đường lục lâm thảo khấu, một đi không trở lại. Chứ về để chết trong tủi nhục thì về làm gì nữa?

Thiếu Tá Nguyễn Văn Đờn xưa nay nổi tiếng trung thành với Trình Minh Thế, kể từ lúc hai người còn sống với nhau trong Quân Đội Cao Đài. Có thể nói, Đờn xem Trình Minh Thế như thần tượng của mình, và luôn luôn sẵn sàng hy sinh mạng sống cho thần tượng ấy.

Tôi còn nhớ một hôm, giữa cái hoàn cảnh lao đao sau vụ Pháp tấn công, một người bạn trẻ Trung Uý Nguyễn Văn Sáu - đã men lại gần tôi mà hòi một câu nghiêm cẩn rằng: "Thưa Ngài, xin cho em biết tình thế này rồi sẽ tới đâu?" Tôi biết lòng người anh em đang hoang mang tột độ, đang chân trong chân ngoài với công cuộc từ sinh trước mắt. Mà riêng tôi, tôi cũng lo buồn không kém. Vì mình càng biết rõ sự việc nhiều hơn, thì lại càng thấy tương lai không còn chút ánh sáng nào, càng biết sự suy bại quá gần. Tuy nhiên, chả nhẽ tôi lại nói ra cả sự thật trong lòng tôi cho người kia biết, thì có khác nào tôi xúi dục họ lìa bỏ hàng ngũ cho mau? Bởi thế, tôi đã cứng cỏi đáp lời người bạn trẻ: "Ngày nào anh còn thấy mặt tôi ở đây, thì ngày ấy anh còn yên chí. Không đến nỗi nào đâu, anh đừng lo ngại mà hỏng việc" Nói xong, tôi lại thấy thẹn với lòng mình, thấy mình đóng trò giả dối, dám đem mình ra làm gương cho kẻ khác. Dù sao chăng nữa, câu nói có vẻ phường tuồng kia của tôi không ngờ đã giúp cầm chân người bạn trẻ cho tới ngày về thành hồi tháng 2 năm 1955. Sau này người bạn trẻ kia được tôi nâng đỡ, tạo cho nghề nghiệp trong làng báo, lại xây dựng việc vợ chồng cho anh, nên anh bỗng nhớ tới chuyện xưa mà bảo tôi rằng: "Chính nhờ một câu nói của Ngài hồi còn ở trong rừng mà ngày nay em mới nên danh nên phận. Nếu không, chắc là đời em đã mai một tối tăm!" Tôi cảm thấy được an ủi vì câu đầy ân nghĩa thủy chung, mặc dù cái gọi là "nên danh nên phận" kia cũng chỉ là một cuộc sống bình thường ngày hai bát cơm vừa đủ ấm no, chứ cũng chả phải vương tướng.

Trở lại cuộc chiến ở gò Sơn Tây, tôi không bao giờ quên được cái thủ đoạn hèn mạt, cái thủ đoạn hết sức ghê tởm của bè lũ cộng sản. Hồ Chí Minh đích thân sang Pháp để mời Pháp trở lại Việt Nam hồi 1946, rồi lại chỉ mặt người quốc gia mà hô hoán "Việt Gian thân Pháp!" Lũ tôi tớ của y cũng lại bắt chước cái trò phản quốc, miệng nào hô hào "Chống Đế quốc Pháp", và miệng nào đi lén lút kêu gọi Pháp đem quân tới đánh úp Liên Minh tại gò Sơn Tây ngày mồng 3 tháng 3 năm 1953? Vì một phút rủi ro, chúng tôi đã rơi vào giữa gọng kìm của cả hai địch thủ. Vì một phút rủi ro, suýt nữa Liên Minh đã rã đàn tan nghé, quân suýt mất tướng, anh em một nhà suýt bắn giết nhau.

Trận "tam chiến" Sơn Tây, hay là gò Ông Hàn, ngẫu nhiên mà tô điểm cho lập trường "chống cộng, đả thực" của Trình Minh Thế vậy.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG X
CUỘC CHIẾM ĐÓNG NÚI BÀ ĐEN

Qua khỏi cuộc thử thách tại gò Sơn Tây mà ít bị sứt mẻ, tinh thần anh em rất là phấn khởi. Kế hoạch chiếm giữ Núi Bà Đen, nhằm mở thêm chiến khu thứ hai cho Liên Minh, vẫn được tiến hành như dự định.

Sang tối đêm thứ 5 - kể từ lúc từ giã Bù Lu - đoàn quân mới về tới chân núi, với áo quần dày dép tả tơi. Người nào cũng sặc mùi phân và nước tiểu trâu bò, vì giọc đường đã nằm ngủ trên những đám cỏ ven rừng hoặc những nghĩa địa mà trâu bò thường lui tới. Chúng tôi men theo một con đường đất đỏ chạy dài theo chân núi, nơi có một đồn binh Cao Đài trấn đóng thường trực, gọi là đồn Nghĩa. Nhưng người Trưởng đồn, khi được biết là quân của Tướng Thế, thì sẵn sàng làm ngơ cho ai nấy đi qua. Tới lúc này, mọi người hầu như kiệt sức, không còn lê gót nổi. Nhân một lúc đình bộ nghỉ ngơi, người người vẫn được lệnh phải đứng nguyên một chỗ, không được nằm ngồi, và người nọ đặt tay lên vai người kia mà ngủ gật hồi nào không hay. Tôi nghe Hồ Đức Trung dặn dò Nguyễn Văn Đờn khi nào cất bước thì cho biết. Đờn ừ è, nhưng lại có tính đùa nghịch, nên khi được lệnh tiến binh, thì im lặng lách mình ra khỏi bàn tay của kẻ đứng sau, đi mất hồi nào không ai hay biết cả. Hồ Đức Trung cứ đứng ngủ ngon lành khiến cả đoàn người phía sau cùng đứng lại cả một lượt. Tới khi Trung chợt mở mắt, không thấy Đờn đâu, biết là bị lừa, bèn hoảng hốt rủ nhau đuổi theo cho kịp.

Núi Bà là quả núi hùng vĩ, đứng trơ vơ giữa một vùng đất bằng phẳng thuộc địa phận tỉnh Tây Ninh. Núi cao hơn 1.000 thước, gồm toàn những tảng đá khổng lồ mà diện tích đôi khi rộng bằng cả một thửa ruộng. Bên trong các tảng đá là những chiếc hang mênh mông, với những ngõ ngách vô cùng vô tận mà nhà thám hiểm có thể len lỏi suốt ngày cũng chẳng tới đâu. Nhưng nếu không dùng sơn trắng làm dấu trên vách đá, thì chắc chắn sẽ phải bỏ thây trong hang sâu, chứ không tài nào tìm được lối ra. Có điều nguy hiểm là trong hang thiếu dưỡng khí, đuốc không cháy, còn đèn Pin thì chỉ trong vòng một phút là tắt ngóm.

Núi Bà có nhiều chuyện lạ. Chẳng hạn như giữa lưng chừng núi lại chợt hiện ra một chiếc hồ nước trong xanh, quanh năm không bao giờ bị khô cạn. Lại có nói người ta bắt gặp các tảng đá xanh to, nát vụn ra thành từng mảnh nhỏ, tựa hồ như có một bàn tay nào dùng chiếc búa khổng lồ đập xuống các tảng đá ấy. Ở những chỗ khác, người ta nhìn thấy rõ một chất màu xám như xi măng chảy giọc xuống các tảng đá, khô cứng lại và dính liền với đá. Các hiện tượng trên khiến người ta nghi ngờ Núi Bà nguyên thủy có thể là một ngọn núi lửa, cho nên các tảng đá kia bị tung lên trời, rơi xuống mà nát vụn ra, và chất xi măng kia ắt cũng từ trong lòng nứi lửa phun ra mà chảy thành từng giòng như vậy. Ấy cũng chỉ là một sự giả đoán mà thôi, vì nếu quả thật là núi lửa, thì tại sao trên đỉnh lại không có miệng núi? Điều chắc chắn hơn cả là Núi Bà có mỏ vàng bên trong, vì ngay dưới chân núi, có một giòng suối nước trong vắt, lòng suối chứa đầy những hạt vàng lóng lánh trộn lẫn với cát. Uống thử nước suối kia, thấy có mùi kim khí làm the cả lưỡi, và chứng sốt rét nổi lên tức thì, dù chỉ uống một ngụm thôi.

Tuy núi toàn là đá to, đá nhỏ, nhưng cây cối cũng mọc đầy. Có hai loại cây quý, là bằng lăng và dên dên. Cây bằng lăng mọc thành rừng, cây nào cũng to bằng người ôm, cao tới đôi ba mươi thước, thẳng tắp rất đẹp. Còn dên dên (tức gỗ lim) thì to lớn vô cùng, ba bốn người ôm không xuể. Thậm chí khi Liên Minh cho phép tiều phu vào núi đẵn cây, họ dùng cưa cắt ngang thân cây một nửa, rồi xẻ giọc xuống chừng hai thước, lấy đủ số dùng, phần còn lại vẫn sống với cây như cũ. Khi xẻ ra, mặt ván rộng bằng hai thước tây, đỏ như máu. Càng tiếp xúc với ánh sáng, ván kia càng trở nên đen dần và cứng vô hạn. Ngoài hai loại gỗ quý kia ra, lại còn cây dầu cũng khá đắc dụng. Ngay dưới chân núi, có một cây dầu to cao ngoài sức tưởng tượng. Khi tiều phu hạ xuống, núi dội ầm ầm như địa chấn, đánh đổ luôn một lúc hàng chục cây dầu khác ở quanh đó.

Ở về phía tay phải Núi Bà, từ Tòa Thánh Cao Đài trông lên, có một ngôi chùa nổi tiếng đất Tây Ninh, cất từ đời nào không ai biết. Chùa ở vào một độ cao chừng một phần ba quả núi, thờ Đức Linh Sơn Thánh Mẫu với bức tượng bằng đồng đen. Vì thế mới có tên Núi Bà Đen. Muốn lên tới nơi, phải qua một con đường độc đạo lót đá mấy trăm bực. Dưới cùng con đường độc đạo, là Chùa Dưới, trên nữa là Chùa Giữa, rồi mới đến Chùa Bà hay là Chùa Trên. Nhưng Chùa Dưới và Chùa Giữa chỉ nghe thấy tên mà chẳng thấy hình dạng đâu nữa. Chùa Bà có cách kiến trúc rất kỳ lạ và công phu. Toàn thể cột kèo đều bằng đá xanh, lấy từ trong núi ra, và được đẽo gọt rất thẳng thốm, mỹ thuật, trông không khác nào những cột kèo bằng gỗ vậy. Nhà cửa rộng mênh mông, có thể chứa hàng ngàn người một lúc. Nơi nhà trai của chùa, có những bộ ván lim dài quá kích thước bình thường, ít nhất cũng phải năm sáu người lục lưỡng mới khiêng nổi.

Nằm xế bên tay phải Chùa Bà là Chùa Hang, cách nhau bằng một khe núi. Trong một đoạn trước, tôi có thuật qua cuộc địa chấn năm Nhâm Thìn có liên quan tới hai ngôi chùa này.

Với một vị trí hiểm trở như trên, Chùa Bà đã trở thành mục tiêu chiến lược cho Tướng Thế mở cuộc hành quân chiếm đóng cả quả Núi Bà Đen. Sở dĩ tôi nói "chiếm đóng", vì Chùa Bà đang bị cộng sản Miền Nam chiếm làm sào huyệt. Các Sư, Vãi trong Chùa đều là cán bộ cộng sản hoặc cảm tình viên khoác áo tu hành để che mắt thế gian. Lúc toán quân tiền thám của Liên Minh vừa đặt bước lên con đường độc đạo lát đá, thì trong chùa đã có tiếng báo động. Một số người chạy trốn vào núi. Chỉ còn lại vài ba ông Sư, một bà Vãi, và hai cô thiếu nữ được biết là con gái của bà. Cộng sản không ngờ chúng tôi tiến chiếm lúc nửa đêm, nên việc canh gác tỏ ra khá lỏng lẻo. Dường như đây chưa phải là một căn cứ quân sự của chúng, mà chỉ là một địa điểm trá hình để làm nhiều việc khác. Dù vậy, chúng tôi vẫn phải thúc quân chạy lên con đường giốc đá, phòng đối phương dùng chiến thuật lăn đá xuống làm kế hoãn binh. Lúc tới nơi, chúng tôi bắt gặp một thái độ ác cảm rõ rệt của mấy người còn ở lại chùa. Một nhà Sư ước chừng 40 tuổi cứ làm bộ câm nín, hỏi gì cũng không nói. Còn bà Vãi kia thì liến thoắng, chạy lăng xăng khắp nơi như muốn trốn.

Chúng tôi chưa biết rõ trong chùa có bao nhiêu người cả thảy, nên tức khắc hạ lệnh thiết quân luật. Bà Vãi kia làm bộ quê mùa dốt nát, cứ thản nhiên kiếm cớ thoát khỏi chùa, đi giọc xuống con đường lát đá, ý muốn đi báo cáo việc gì với ai vậy. Tôi cho gọi bà ta trở lên ngay, và tôi đã trừng phạt bà bằng một cái tát khá mạnh, khiến bà lăn luôn xuống mấy bực đá. Tôi lại gọi trở lên lần nữa, và nghiêm khắc cảnh cáo để bà đừng tiếp tục diễn trò ngu dốt để đi thông báo tin tức cho đồng bọn. Sáng hôm sau, chúng tôi mới bắt đầu lục soát các nơi, từ Chùa Bà sang tới Chùa Hang. Chúng tôi tìm thấy không biết bao nhiêu quần áo lót mình của phụ nữ dấu trong hang đá, đây hẳn là quần áo may sẵn để tiếp tế cho nữ cán bộ. Quả là một sự lạ. Tại một nơi thờ tự thiêng liêng, lại chất chứa đồ dùng của đàn bà! Chúng tôi sai soát xét cả mấy cái lu sành đựng tương, vì nghi có lựu đạn dấu bên trong. Không ngờ lại lôi ra một mớ thịt lợn đã luộc chín bỏ lẫn vào trong tương. Nhìn mấy miếng thịt vừa dài vừa to, chúng tôi không khỏi ngán ngẫm trước cái trò che mắt thế gian của cộng sản. Đã thế, hôm sau và hôm sau nữa, ngay giữa lúc chúng tôi đang ngồi họp bàn các vấn đề quan trọng, thì mấy ông Sư giả kia lại bày trò tụng kinh gõ mõ inh ỏi suốt cả buổi họp, khiến chúng tôi chẳng còn nghe được gì nhau nữa cả. Tướng Thế buổi đầu cũng hơi nể việc kinh kệ của nhà tu hành, không dám phàn nàn gì. Nhưng càng lúc càng thấy rõ người ta dụng ý phá mình, ông nổi giận, hét lên một tiếng "Im ngay tức khắc!" Bấy giờ tiếng chuông tiếng mõ mới chấm dứt.

Dù sao, chúng tôi vẫn còn sợ nỗi mình nghi lầm người ta thì mang tội. Nên chỉ để mắt theo dõi. Cho tới khi nhà Sư kia đầu hôm lén lút xuống núi, ra tận Tây Ninh báo với Pháp, rồi thân hành dẫn Pháp vào Núi Bà tấn công chúng tôi. Nào ngờ khi lên giốc núi, nhà Sư đi đầu bị ngay một quả mìn chết ngay tại chỗ. Sự thật về hành động xấu xa của con người đội lốt Sư Sãi ấy đã bày ra trước mắt, không còn chối cãi vào đâu được nữa. Riêng đối với bà Vãi và hai cô con gái của bà, chúng tôi vẫn đối đãi tử tế. Ba mẹ con đều bị sốt rét kinh niên, bụng õng da chì. Chúng tôi phát thuốc cho họ chữa trị. Ít lâu sau, bà vãi xin về quê, còn hai cô con gái thì tình nguyện ở lại với Liên Minh, được sung nhập vào ban Quân Y dưới quyền của Trung Tá Cảm Văn Tỵ.

Cần nói rõ là trước khi mở cuộc hành quân chiếm đóng Chùa Bà, Tướng Thế đã bí mật liên lạc với phu nhân là bà Nguyễn Thị Kim, yêu cầu bà sẵn sàng tiếp tế cho một số lương thực. Nhờ vậy mà vừa được tin Tướng Thế về Núi Bà, người phụ nữ đảm đương kia đã trá hình trá dạng, thân hành chuyên chở vào khu 30 bao gạo 100 ký do chính tiền bà bỏ ra, tiền cầm bán tư trang vật hạng. Tiện đây, tôi cũng nói thêm chút ít về tấm lòng hy sinh gương mẫu và sự quả cảm vô song của bà Nguyễn Thị Kim. Đối phương biết rõ bà là vợ của Tướng Thế, nên càng theo dõi gắt gao hơn ai hết. Tuy vậy mà bà vẫn không sộ sệt, bằng cách này hay cách nọ, bà luôn luôn sẵn sàng thi hành mệnh lệnh của chồng. Bà đi thu thập tin tức gửi vào khu, báo động khi có biến, hô hào cho hàng ngũ Liên Minh mỗi ngày một đông hơn, cung cấp một số nữ cán bộ đắc lực cho các ban Quân Y và Quân Phục. Cần gạo bà gửi gạo. Cần vải vóc bà gửi vải vóc. Mãi rồi bao nhiêu của cải riêng tây đều mất hết, thậm chí phải đi vay nợ để giúp chồng. Tôi nhắc lại, chính bà đã là một trong các cán bộ hàm thụ thuộc chương trình huấn luyện của tôi. Hơn một lần, tôi theo Tướng Thế về thăm nhà ông vào lúc nửa đêm. Nhà ở tại cổng số 5 Tòa Thánh Tây Ninh. Bà Kim xiết bao mừng rỡ, đang đêm lo nấu nướng vật nọ thức kia để đãi chồng và khách. Xong rồi, còn gói cả một con gà luộc cho chúng tôi mang về núi. Anh em Liên Minh nhất mực kính trọng bà. Khi trở thành góa bụa, bà dọn về ở tại chợ Trương Minh Giảng Saigon, hàng năm anh em vẫn tề tựu tại đó nhân dịp cúng giỗ Tướng Thế. Tướng Thế mất đi, có để lại một cuốn phim kỷ niệm lúc ông hướng dẫn Tướng Edward Lansdale về thăm Đồng Tháp Mười. Mỗi lần chiếu lại cuốn phim ấy, thì đứa con dại của Tướng Thế lại chỉ lên hình ông mà gọi "Ba...Ba", khiến chúng tôi không cầm được nước mắt.

Ở lại Núi Bà một thời gian để chỉnh đốn binh mã, chỉ định sự bố phòng, sau đó Tướng Thế giao quyền chỉ huy cho Trung Tá Trần Minh Triết, tự Trạng. Rồi cùng tôi và một số anh em khác trở lại Bù Lu. Sau này tôi mới biết rõ mưu lược của Tướng Thế. Ông tính toán như thần, biết trước không bao lâu Pháp sẽ tấn công Núi Bà, vì thấy thế lực Liên Minh càng ngày bành trướng. Ông để lại "cẩm nang" cho Trung Tá Trạng "cứ thế, cứ thế mà làm". Không phải ông hèn nhát trốn tránh sự hiểm nghèo, mà ông ý thức vai trò trọng đại trên vai, muốn giao cho Trung Tá Trạng ở lại giữ thành trì, hầu đo lường phản ứng của Pháp ra sao. Quả nhiên, một thời gian sau, tháng 8 năm 1953, Pháp mở cuộc tấn công đại quy mô Núi Bà Đen, xử dụng cả mấy Tiểu đoàn Nùng chuyên leo núi, bày ra thanh thế rất đáng cho Liên Minh lo ngại. Trung Tá Trạng dùng đèn Pin đánh mật mã báo ngay cho Bù Lu biết. Cũng vừa lúc ấy, Thiếu Tá Hồ Đức Trung được lệnh chuyển Đài Phát Thanh lên núi. Bất đồ vừa tới chân núi lại gặp giặc, khiến Thiếu Tá Trung và toàn ban chuyên viên của Đài phải núp trong các thửa vườn sắn, đào củ sắn lên ăn, chịu đựng suốt cả 2 tuần lễ.

Pháp đánh lừa Trung Tá Trạng bằng cách một mặt chúng cho một số quân tấn công ngả trước Chùa Bà, tiến lên bằng con đường độc đạo. Trung Tá Trạng dùng chiến thuật Khổng Minh, vừa bắn súng vừa lăn đá và cây to xuống con đường độc đạo. Pháp chẳng tiến lên được. Nhưng ông không ngờ Pháp lại theo mặt khác, sai lính Nùng leo lên núi sau, rồi từ đỉnh núi đổ xuống Chùa Bà, đánh bọc hậu. Trước tình thế quá nguy ngập, Trung Tá Trạng bèn rút quân chui vào hang đá, nơi đã chất chứa sẵn lương khô và nước uống. Pháp không tìm thấy Liên Minh đâu, nổi giận đốt phá kho lúa tại Chùa Bà, rồi dùng mìn phá tan ngôi Chùa cổ kính, để lại một đống đá vụn. Tôi muốn dừng lại đây để nói vài lời về hành động của Pháp. Tôi thấy việc Pháp phá Chùa là một việc tiểu nhân. Xưa nay Pháp vẫn tỏ ra kính trọng bảo tồn các lăng tẩm đền đài Việt Nam, mà viện Bác Cổ Viễn Đông tại bờ sông Nhị Hà, Hà Nội là một bằng chứng. Chùa Bà là một thắng tích quý giá, với công trình kiến trúc có một không hai. Tại sao Pháp lại phá hủy đi, khi Liên Minh không biến cải nơi ấy thành một thành trì kiên cố? Pháp tỏ ra giận cá chém thớt, quả là một hành động đáng hổ thẹn.

Pháp không tìm ra Liên Minh, vẫn không chịu thua. Họ sai lính Nùng ngồi chờ chực ngoài các cửa hang đá, hễ nghe có tiếng động bên trong là tung lựu đạn xuống hang. Anh em Liên Minh biết vậy, nên thay phiên nhau canh gác, nhất thiết không cho người nào ngủ ngáy thành tiếng hoặc mơ ú ớ trong hang. Mặc dù có sẵn lương thực chất chứa trong hang, anh em Liên Minh vẫn không dám thổi lửa nấu cơm. Còn nước uống thì có hạn, dùng được mấy ngày thì hết nhẵn. Rút cục, anh em quá khát, đành dùng ngay nước tiểu của mình. May sao, vừa tới tình trạng khẩn trương đó, thì Pháp rút lui, Liên Minh thoát nạn.

Kiểm điểm lại trận này, tuy Pháp dụng công tiêu diệt Liên Minh bằng những toán lính Nùng thiện chiến nơi rùng núi, nhưng Pháp tính sai ở chỗ Liên Minh có một hệ thống đường hầm thiên nhiên, không dễ gì Pháp phá hủy được. Trọng pháo Pháp có bắn lên cũng chỉ làm trầy trụa một vài tảng đá. Huống chi Pháp muốn dùng trọng pháo, thì lại phải tới gần đồn Phan trước mặt Núi Bà để sửa soạn pháo kích. Người Liên Minh trên núi cứ ngồi đợi cho tới khi thấy ánh lửa lóe ra nơi cửa nòng trọng pháo, nhiên hậu mới đủng đỉnh ấp mình vào trong hang đá, ngồi bịt tai lại. Xong tiếng nổ, lại chui ra chọc giận Pháp. Chung cuộc, vụ Pháp tấn công Núi Bà mùa thu năm ấy tuy kéo dài tới nửa tháng trời, vẫn chỉ là một trò chơi máu lửa vô hiệu quả đối với Liên Minh. Kết quả duy nhất họ mang về trong trận ấy là cái xác mặc áo vàng của nhà Sư giả mạo mà tôi vừa nói trên, với một số binh sĩ Pháp chết vì mìn và đá từ trên núi lăn xuống.

Chắc có lẽ vì lòng tự ái, Pháp chưa chịu bỏ cuộc. Khoảng cuối năm năm ấy, Pháp lại tấn công lần thứ hai. Lần này, họ huy động binh sĩ từ Saigon mang lên. Lúc nửa đêm, cả một đoàn công-voa tiến theo con đường Saigon - Tây Ninh, đèn pha bật sáng làm thành một con "rắn lửa" dài có tới đôi ba cây số. Liên Minh trông thấy, biết thân phận mình, liền tức tốc chuẩn bị. Rút kinh nghiệm chuyến trước, Liên Minh tích trữ khá nhiều lương khô trong hang đá. Lại tìm ra được một giòng suối ở tận dưới lòng núi sâu, lẫn trong hang đá. Liên Minh bèn dùng ống cao su dài hàng trăm thước, cố lấy sức người hút mãi cho nước chảy ra, rồi nhờ áp lực không khí nơi mặt suối, nước cứ tiếp tục rỉ rả vào những chiếc thùng dấu trong hang. Nhờ vậy không còn lo sợ vấn đề khan hiếm nước uống nữa.

Pháp vẫn quen lối cũ, hò hét om sòm, bắn súng bừa bãi, nhằm uy hiếp tinh thần Liên Minh. Chúng đốt mất cơ trại của Trung Tá Văn Thành Cao đóng gần chân núi, và phá hủy một mớ ruộng ngô của đồng bào. Ngược lại, chúng bị thiệt hại nặng trong chuyến này vì khinh địch. Pháp quên rằng thời gian qua đã giúp Liên Minh có đủ điều kiện bố trí rộng rãi hơn, chuẩn bị chu đáo hơn, với cơ trại rải rác khắp mặt núi, chứ không phải chỉ đóng tại Chùa Bà như trước, và với những loại địa lôi chôn dấu khắp các lối đi. Núi Bà đã trở thành một cạm bẫy to tát đối với Pháp, vì vậy, Pháp đặt chân tới đâu, bị thiệt hại tới đó. Tiếng là đem quân đi đánh Liên Minh, nhưng Pháp lại trở về thế thủ, cứ quanh quẩn dưới chân núi, chứ không dám men theo các lối mòn lên núi, mặc dù họ thấy rõ Liên Minh xuất hiện ở chỗ nào. Trái với dự đoán, cuộc tấn công chỉ diễn tiến trong hai ngày, rồi Pháp nhẹ nhàng rút lui, ra điều như Pháp đang hành quân chống cộng sản ở đâu đó, tiện đường thì ghé lại phá quấy nhau chốc lát.

Nhân đây, tôi cũng muốn nói rõ thêm về cách đánh phá tiểu nhân của Pháp. Một hôm, hồi còn ở Bù Lu, tôi đi thăm ban Quân Phục, lúc trở về phải vượt qua một cái bung rộng. Bất ngờ có một chiếc phóng pháo cơ của Pháp bay ngang qua đó. Mặc dù chỉ thấy có một mình tôi giữa bưng, viên phi công Pháp cũng quyết định không tha. Hắn liền quay ngược trở lại rồi hạ thấp xuống. Tôi biết là hắn định tấn công tôi, bèn không chậm trễ, tôi nằm xuống, nấp mình bên một chiếc "bờ mẫu". Viên phi công phóng xuống một tràng đạn, tôi không việc gì. Hắn liền đảo ngược lại một lần nữa, và cũng nổ súng một tràng dài. Nhưng tôi lại phóng qua bên kia chiếc '' bờ mẫu", và cũng nấp mình theo lối cũ. Rút cục, đạn chỉ găm vào cái bờ đất cứng mà thôi. Biết không làm gì được tôi, viên phi công "anh hùng" kia mới đành chịu thua, và bỏ đi luôn...

Thời gian này, Tướng Thế đã lại có mặt trên Núi Bà Đen. Số là, sau khi giao quyền chỉ huy quân Núi Bà cho Trung Tá Trạng, ông trở về Bù Lu, xét thấy tình thế càng ngày càng bất lợi cho cá nhân ông, nên ông mới quyết định dứt khoát lên ở hẳn Núi Bà, nơi Pháp hoặc cộng sản khó lòng bắt cóc ông được. Thoạt tiên ông lập Hành Dinh tại một vách núi hiểm trở, ở cách xa về phía tay phải của Chùa Bà, ngay phía trên chỗ ở của tôi. Muốn vào tới ông, phải qua một chiếc hố sâu với chiếc cầu làm bằng tấm ván thật nhỏ. Người nào yếu tim không dám bước qua cầu ấy, hoặc nếu kém bản lĩnh, sẽ lộn đầu xuống hố mà chết. Tại đây, ông tỏ vẻ lo lắng nhiều. Thường bỏ thì giờ xuống thăm tôi, rồi nằm sấp trên sạp với đôi chân gấp lại phía sau, và hút thuốc lá luôn miệng. Cách nằm ấy quá quen thuộc, khiến tôi hiểu ngay rằng lòng ông đang có điều lo tính nghiêm trọng, nhưng tôi chưa đoán ra là điều gì. Chợt ông ngồi dậy hỏi tôi: - Anh thấy trong đoàn thể ta, ngoài tôi ra, ai là người xứng đáng hơn hết về mặt quân sự? Tôi thoáng giật mình, ngầm đoán là câu hỏi này liên quan tới sự sống còn của đoàn thể. Tôi chưa kịp đáp, thì ông lại nói tiếp: - Tôi đang cần một người có khả năng thay thế tôi để trông coi chiến khu Bù Lu. Theo anh, ai xứng đáng? Tôi đáp ngay: - Xét về mặt quân sự, tôi thấy ở đây không ai hơn Trung Tá Văn Thành Cao. Người ấy đáng tin cậy và có thể làm nên việc. Đôi mắt Tướng Thế chợt sáng hẳn lên. ông gật gù: - Tôi cũng đã nghỉ như anh, nhưng tôi muốn thử xem ý anh ra sao. Tôi lại bảo: - Trung Tá Cao đã đành là tài năng đảm lược cao hơn những người khác. Tuy nhiên, nếu tôi xét không lầm, thì ông ấy rất ít được anh em mến phục. Vậy nếu Thiếu Tướng đồng ý chọn ông ấy lãnh đạo chiến khu Bù Lu, thì việc trước nhất là phải thăng cấp cho ông ấy, hầu có đủ uy quyền sai bảo mọi người.

Tướng Thế gật đầu ngay tức khắc, và tôi thấy nét đăm chiêu trên mặt ông bỗng nhiên biến mất. Thì ra, nội bộ đoàn thể đang có biến. Từ khi Tướng Thế bỏ về Núi Bà, hàng ngũ bên Bù Lu càng ngày càng rời rã. Một số sỉ quan có trách nhiệm không những chểnh mảng việc bố phòng, mà còn manh nha một cuộc phản bội, toan bảo nhau lìa bỏ hàng ngũ. Tôi choáng váng rụng rời khi biết rõ việc này mà Tướng Thế cố giữ kín trong lòng, mãi bây giờ mới chịu nói ra.

Thế là ngay buổi tối hôm ấy, Tướng Thế sai đánh mật mã gọi Trung Tá Cao về Bộ Tư Lệnh gấp. Sáng hôm sau, ông này đã có mặt. Và theo thường lệ, bao giờ ông cũng vào thăm tôi trước, rồi mới lên trình diện Tướng Thế. ông không quên mang biếu tôi 5 gói thuốc Mic, và cố gắng hỏi tôi về cái lý do ông bị gọi về. Mặt ông tỏ vẻ lo ngại. Sống trong đoàn thể, tối thấy có một điều rất lạ. Tất cả các nhân vật trọng yếu của Liên Minh, kể từ ông Phó Tổng Tư Lệnh Văn Thành Cao trở xuống, đều rất sợ hãi mỗi khi có lệnh về ra mắt Tướng Thế. Và bất cứ nhân vật nào cũng đều tìm tới tôi trước, dò xem thái độ của tôi, hỏi thăm ý kiến tôi, rồi mới chịu vào gặp mặt Tướng Thế. Lần này, trông thấy nét mặt đăm chiêu của Trung Tá Cao, tôi đâm ái ngại và mỉm cười bảo: "Trung Tá hãy mừng đi. Tin vui chứ chẳng phải tin buồn!" Quả nhiên, ngay sau đó, Thiếu Tá Đổng Lý Văn Phòng Nguyễn Văn Đờn được lệnh tổ chức gấp một buổi lễ quân cách dưới chân núi, có nhiều sĩ quan tham dự. Trung Tá Văn Thành Cao được thăng cấp Đại Tá với chức vụ Phó Tổng Tư Lệnh như cũ, và được toàn quyền thay mặt Tướng Thế trở về Bù Lu chỉnh đốn lại hàng ngũ, trừng phạt nặng những ai có tội. Bầu không khí thật trang nghiêm và cũng không kém khẩn trương. Nhận chức xong, Đại Tá Văn Thành Cao tức khắc dẫn quân về Bù Lu nội nhật hôm ấy, và chọn ngay Trung Uý Nguyễn Văn Phương làm Bí Thư.

Từ ngày đó, chiến khu Bù Lu lại khởi sắc. Đại Tá Cao chứng tỏ tài năng lãnh đạo bằng nhiều sự cải tổ, bằng cách chọn người, và bằng sự thành lập một ban Văn Nghệ Chiến đấu riêng cho chiến khu Bù Lu. Trung Uý Nguyễn Văn Phương, một sinh viên Luật quê đất Bắc, đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự thành công ấy. Được ít lâu, xem chừng mọi việc đã yên ổn, mưu toan phản bội bị chôn vùi, Đại Tá Cao bèn mời Tướng Thế và tôi về thăm Bù Lu. Ông tổ chức tiếp đón thượng cấp của ông thật trọng thể, tiếp theo là một đêm trình diễn văn nghệ với sự tranh tài của hai ban Văn nghệ Núi Bà và Bù Lu. Tôi thành thật nhìn nhận rằng Bù Lu nay đã khác xưa. Đồn trại thật kiên cố, anh em phấn chấn tinh thần. Lòng tôi mừng vô hạn.

Về phần Tướng Thế, ông lại bỏ Hành Dinh hiện hữu, dọn về bên Núi Heo, là một quả núi nhỏ nhưng vô cùng hiểm trở, nằm về phía cực tả của Núi Bà, từ Tòa Thánh trông lên. Lần này ông sai cất nhà sàn cheo leo trên vách núi, cây lá um tùm. Muốn lên tới chỗ này, phải men theo một con đường đất đỏ, con đường do quân Nhật thuở xưa thiết lập dẫn lên một ổ trọng pháo phòng không còn để lại dấu vết. Rồi lại phải trèo lên một dốc núi cao dựng thẳng như bức vách, phải bám rễ bám giây mới leo lên được. Gặp hôm trời mưa, thì quả là một cực hình, sơ ý chút đỉnh sẽ lăn ngay xuống đáy vực. Chỗ ở mới này của Tướng Thế quả là một chỗ ở "chiến lược", máy bay địch khó lòng tìm ra, mà nếu địch muốn tấn công bằng đường bộ, thì khi lên tới nơi chắc không còn hơi sức để chiến đấu, mà hình bóng Tướng Thế cũng chẳng còn tìm thấy đâu nữa. Đã thế, nơi này lại rất lạnh. Ban đêm, sương rơi đồm độp như mưa rào. Suốt ngày, khỉ ho vượn hú, quang cảnh khá u buồn. Người khách đầu tiên và cũng là người khách duy nhất được Tướng Thế cho phép lên thăm ông tại địa điểm hiểm trở này phải nói là Tướng Edward Lansdale. Ông này trong thời gian tiếp xúc vận động để giúp Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đón Tướng Thế về thành hợp tác, đã được cái "hân hạnh" trèo dốc núi cao, được phép mang theo một phái đoàn người Mỹ lên tận đỉnh Núi Heo, dự một bữa tiệc linh đình trong lịch sử Liên Minh, và một đêm "khiêu vũ" ở giữa từng trời. Tôi sẽ đề cập tới công cuộc vận động này trong Chương XIII tiếp theo.

Bù Lu trở lại thế đứng vững vàng dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Văn Thành Cao. Núi Bà cũng càng ngày càng mở mang về mọi mặt, quân sự, kỹ thuật, thông tin. Thanh thế Liên Minh lên cao hơn bao giờ hết. Tham Mưu Trưởng Trương Lương Thiện được rút về núi. Công Binh xưởng bắt đầu sản xuất vũ khí. Đài Phát Thanh thêm người tài giỏi phụ lực. Tờ báo Quốc gia ra đời, mệnh danh là "Cơ Quan Ngôn Luận của Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến Việt Nam". Hệ thống điện thoại được thiết lập. Các phần tử thanh niên có lòng với kháng chiến lũ lượt kéo vào khu tình nguyện ở lại chiến đấu.

Trong số những người này, đáng kể nhất là Thiếu Úy Tạ Thành Long, một cựu sĩ quan Quân Đội Quốc Gia. Tướng Thế lúc đầu chưa để ý tới, nên Tạ Thành Long được phái về sống một cách lu mờ bên cạnh Tham Mưu Trưởng Trương Lương Thiện. Tình cờ một hôm tôi đi thăm ông Tham Mưu Trưởng, thấy mặt Long tôi bèn hỏi chuyện, nhận ra Long có khả năng và tư cách. Tôi bèn quyết định nâng đỡ Long, đề nghị với Tướng Thế thăng Long lên Trung Uý. Khi về thành, Tướng Thế hỏi ý kiến tôi xem ai đáng dùng làm Sĩ quan Tùy Viên cho ông. Tôi trả lời rằng chức vụ Tùy Viên nên dành cho một sĩ quan có học thức, biết xã giao, có tư cách, và dáng người phải cao ráo mạnh dạn, và nhất là phải có lòng tận tụy. Vậy không ai hơn Tạ Thành Long. Thế là Long lại được thăng lên cấp Đại Úy, suốt ngày đêm ở gần Tướng Thế.

Thấy cái trách nhiệm quá nặng nề, cuộc sống quá bị ràng buộc theo sự đi đứng bất thường của Tướng Thế, một hôm Long thì thầm trách oán tôi, xin cho được đổi sang nhiệm vụ khác. Tôi an ủi: "Chú mày chớ có dại. Con đường tiến thân là ở đó. Đừng đòi hỏi lôi thôi nữa." Quả nhiên, cuộc đời Long như có tiền định để cho tôi nâng đở. Sau khi Tướng Thế mất, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm vẫn có lòng thương tưởng Liên Minh, nên gửi công hàm yêu cầu Liên Minh cử cho một sĩ quan sung nhập cơ quan Tham Mưu Biệt Bộ của Thủ Tướng. Tôi lại đề nghị Tạ Thành Long. Thế là Thủ Tướng Diệm bổ ngay Long làm Phụ Tá Tham Mưu Biệt Bộ, dưới quyền Thiếu Tá Huỳnh Văn Cao. Chẳng bao lâu sau, Long lại được thăng cấp Thiếu Tá do chính Thủ Tướng Diệm quyết định. Đời Long càng ngày càng sáng sủa. Tôi bỗng nói đùa Long: "Chú mày mà đeo lon Thiếu Tá của chính phủ về đây, sẽ bị đánh đòn." Không ngờ Long sợ thật, về tới cổng Hành Dinh ở đường Công Lý là Long vội xuống xe, cất bỏ ga lông, rồi mới dám vào gặp tôi. Về sau Long tiến mãi lên cấp Đại Tá, nắm giữ một vai trò quan trọng về mặt an ninh vòng đai Saigon. Lúc này Long đã có vợ con đầy đàn, cất nhà ở bên Quận 8 Saigon. Hôm Long thiết tiệc ăn mừng chức Đại Tá, trước mặt các Tướng Nguyễn Thành Phương, Văn Thành Cao, Long cầm mấy chiếc hoa mai bạc dơ lên cao và nói bằng một giọng bùi ngùi cảm động: "Cả cuộc đời em trong binh nghiệp, ngày nay lên tới chức Đại Tá này, đều do bàn tay nâng đở của anh N.L. Em xin kính cẩn mời anh nhận cho chén rượu biết ơn của em!" Tôi thật không ngờ Long lại làm như vậy.

Cũng trong thời gian đóng tại Núi Bà, Tướng Thế có tiếp kiến một người khách đặc biệt. Đó là Thiếu Tướng Lê Quang Vinh, tự Ba Cụt, cùng đi với phu nhân là bà Cao Thị Nguyệt. Nên nhớ lúc ấy Tướng Lê Quang Vinh đang chiến đấu trong khu ở tận Miền Tây chống lại nhà cầm quyền Pháp. Thế mà vợ chồng ông dám liều mạng lái một chiếc xe Vedette vào tận Núi Bà thăm chúng tôi, kể thật là điều hiếm có vậy. Đôi bên chuyện trò rất tương đắc, Tướng Vinh ở lại chơi một đêm. Trước khi ra về, ông có nói với Tướng Thế một câu mà tôi còn nhớ rõ: "Miền Đông có anh, Miền Tây có tôi, chúng ta sợ gì lũ cộng sản?" Cũng từ ngày đó, giữa đôi bên đã có sự đồng lòng hợp tác huynh đệ cho tới khi chúng tôi lìa bỏ Núi Bà. Ngày được tin Tướng Thế mất, Tướng Vinh từ trong rừng miền Tây viết thư chia buồn với tôi, lời lẽ hết sức chân thành. Không biết thư đi cách nào mà lại vào thẳng Dinh độc Lập, nằm trong tay ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Ông Nhu bóc ra xem trước, rồi thản nhiên trao cho Tạ Thành Long cầm về tôi. Dường như ông Nhu muốn gián tiếp cảnh cáo tôi là đừng nên liên lạc với Tướng Lê Quang Vinh nữa, vì ông ta đang chống chính quyền. Tôi thoáng giật mình. Nếu ông Nhu mượn cớ ấy bắt tôi hạ ngục, thì tôi cũng chẳng còn trách oán vào đâu được. Nhờ cuộc viếng thăm lạ lùng kể trên, giữa tôi với Tướng Lê Quang Vinh bỗng sinh ra một tình bằng hữu mật thiết. Về sau, tôi xuống Cái Vồn thăm Trung Tướng Trần Văn Soái, Tổng Tư Lệnh Quân Đội Hòa Hảo. Dịp ấy, tôi gặp lại Tướng Vinh, và ông ôm tôi khóc ngay trước mặt Tướng Trần Văn Soái, khiến nhà lãnh tụ quân sự Hòa Hảo ngạc nhiên, chẳng biết tại sao lại có sự lạ lùng như vậy. Sở dĩ Tướng Vinh khóc như thế, là vì có sự đụng chạm đáng tiếc xảy ra giữa binh lính ông với một sĩ quan Liên Minh trong thời kỳ đôi bên hợp tác với nhau ở trong rừng. Viên sĩ quan kia - Thiếu Tá Nguyễn Văn Của, người đã bị Tướng Thế nghiêm trị bằng một tràng đạn bắn vào chân, như tôi đã thuật trong một đoạn trước - được phái về Miền Tây đóng vai liên lạc giữa đôi bên. Không ngờ bộ hạ của Tướng Vinh đòi đặt ông ta dưới quyền chỉ huy của họ. Ông ta cực lực chống lại, và một cuộc chạm súng đã xảy ra, khiến chính Tướng Lê Quang Vinh bị một vết thương nhỏ ở cổ. Câu chuyện xảy ra thật đáng tiếc, vì Thiếu Tá Của vốn là người nóng nảy, cứng đầu, nên đã không dằn được sự bất bình cá nhân. Khi ôm tôi khóc, Tướng Vinh có chỉ cho tôi xem vết thương ở cổ. Tôi đành chỉ biết vuốt ve an ủi ông mà thôi.

Dưới con mắt của tôi, Tướng Lê Quang Vinh, tự Ba Cụt (vì sút mất một ngón tay khi còn ít tuổi) quả là người có chí khí anh hùng, có lòng với đất nước. Ngoài cái tính tình cởi mở riêng không kể, ông còn có một tâm hồn phóng khoáng, bất vụ lợi. Đúng trên lập trường quốc gia mà xét, Tướng Vinh là một trong những cột trụ Miền Nam giữ vững thành trì chống cộng. Tiếc rằng đởi ông đã chấm dứt bằng một cái chết đau thương năm 1956. Kẻ chủ mưu không ai khác hơn là Nguyễn Ngọc Thơ, người quê quán Míền Tây, nhưng lại mắc phải mối thù bất cộng đái thiên của khối Phật Giáo Hòa Hảo, sau khi sắp đặt bắt cóc Tướng Lê Quang Vinh để xử tội. Nguyễn Ngọc Thơ đứng trên thế chính quyền đã làm một việc mù quáng. Cá nhân Cố Tổng Thống Diệm, theo tôi biết, không hề có ý định sát hại Tướng Lê Quang Vinh, mà chỉ muốn thương lượng đón Vinh về với mình, như Trình Minh Thế vậy, để tăng cường hàng ngũ quốc gia chống cộng. Nhưng Nguyễn Ngọc Thơ vì muốn lập công nên tự ý tổ chức bắt Vinh. Sau khi bắt được rồi, lỡ nằm trên cái thế cưỡi đầu voi dữ, nên gây áp lực và đặt lời dèm pha với chính phủ Diệm để Vinh bị chém đầu một cách đau đớn.

Tôi vừa nói Nguyễn Ngọc Thơ muốn lập công với Cố Tổng Thống Diệm nên tự ý tổ chức bắt Vinh. Sau này, nhờ một sự tình cờ lịch sử, tôi biết thêm rằng Nguyễn Ngọc Thơ cố bắt và xử tội Vinh cho bằng được là do một áp lực bí mật khác, mà buổi đương thời chắc hẳn Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu đều không ngờ tới. Đó là bọn Giải Phóng Miền Nam. Quả thực ông cựu Đốc Phủ sứ Nguyễn Ngọc Thơ chẳng những là một phần tử được lòng người Pháp thuở xưa, mà lại có mối liên hệ chặt chẽ với bọn cộng sản Việt, ngay khi chúng chưa thành lập cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Thơ có người cháu ruột, gọi ông bằng chú, nằm trong tổ chức Việt Cộng và làm việc sát cánh với một nữ cán bộ VC cao cấp tên là ''Bảy Thẹo''. Mụ đàn bà nguy hiểm này mang một vết thẹo dài trên mặt, đội cái lốp đệ tử của Đức Phật Thầy Tây An, được cộng sản cắt cử sang bên phần đất Cao Miên lập một căn cứ liên lạc, vừa đưa đón người của chúng qua lại trên sông Cửu Long, vừa thu thập tin tức, Nguyễn Ngọc Thơ lại giao du thân mật với Bác sĩ Lê Văn Hoạch, cựu Thủ Tướng Chính phủ ''Nam Kỳ Tự Trị'' hồi 1945-1946, nổi tiếng về cái thành tích xúi dục đồng bào Miền Nam ngược đãi đồng bào Miền Bắc. Bác sĩ Hoạch lại là cậu ruột của tên Việt cộng đầu sỏ Huỳnh Tấn Phát, dĩ nhiên là Thơ với Phát không xa lạ gì.

Vì Nguyễn Ngọc Thơ có mối liên hệ với cộng sản như thế, nên ngay trong thời kỳ làm Thủ Tướng dưới thời Dương Văn Minh, ông ta chẳng hề sợ sệt, thường lui về Long Xuyên sống hàng tuần lễ mà vẫn bình yên vô sự. Thật là dễ hiểu khi Nguyễn Ngọc Thơ bắt xử tội Tướng Lê Quang Vinh là đã thi hành mật lệnh của bọn Giải Phóng, vì Tướng Vinh là một chiến sĩ chống cộng có thành tích. Và cũng thật dễ hiểu tại sao nhóm thiên tả Dương Văn Minh đã không đố kỵ Nguyễn Ngọc Thơ - một cựu Phó tổng Thống - mà còn đặt Thơ lên ghế Thủ Tướng, ngay sau khi chúng hạ sát Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Buổi đương thời, dư luận chưa hiểu biết, nên coi Thơ là kẻ lừa thầy phản bạn, vừa ở ngôi Phó Tổng Thống của Chính quyền cũ, đã lại trở nên Thủ Tướng của Chính quyền mới ngay tức khắc. Thực ra, Thơ nào có phản bội ai? Mà Thơ chỉ là hạng tay sai đắc lực của cả thực dân lẫn cộng sản đó thôi.

Thời kỳ ông Cố vấn Ngô Đình Nhu vào ra thăm viếng chiến khu Liên Minh, cá nhân tôi đã bao phen cảnh cáo ông về sự hiện diện của các cựu Đốc Phủ Sứ trong chính quyền. Cụ thể hơn, chính tay tôi đã thảo ra bài diễn văn cho Tướng Thế đọc trong buổi lễ hợp tác với Chính quyền ngàỵ 13/2/55, đòi hỏi Chính quyền phải thẳng tay đối phó với bọn quan lại, Đốc Phủ cũ (xem Chương XIV). Nhưng, như ông Nhu đã than thở: "Họ còn đông quá, họ có nhiều thế lực, chính quyền chưa dám ra tay, e nỗi bứt giây động rừng!" Do đó mà trong Nội Các Ngô Đình Diệm đầu tiên, người ta đã thấy có Nguyễn Ngọc Thơ ở ghế Nội Vụ, rồi Kinh Tế, rồi lại đóng vai "Sứ Giả lưu động", được phái sang Đông Kinh phụ trách công cuộc điểu đình với Chính phủ Nhật về vấn đề bồi thường chiến tranh, để cuối cùng lên tới chức Phó Tổng Thống. Người ta phải khâm phục cái tài của Nguyễn Ngọc Thơ, khéo léo mua chuộc đuợc lòng Cố Tổng Thống Diệm lẫn Cố Vấn Nhu đễ giữ vững ngôi sao, rồi cuối cùng diễn một màn phản bội trắng trợn. Cũng chính tên gian tặc này, hồi năm 1955, đã len lỏi lên Núi Bà, toan tái diễn cái trò lừa bịp thương thuyết, để bắt sống nhóm anh em Liên Minh gồm có Trương Lương Thiện, Nguyễn Văn Đờn, Nguyễn Văn Phương, bấy giờ đã rút ra khu sau khi Thế mất (xem Chương XIX). Hồi 1955, Nguyễn Ngọc Thơ thường lui tới thăm viếng anh em chúng tôi tại Tổng Hành Dinh ở đường Trương Minh Giảng. Bấy giờ là lúc Thơ đang bị thất sủng, sau khi ở Nhật về. Ông ta ngỏ lời than thở oán trách Thủ Tướng Diệm, và có ý gián tiếp nhờ chúng tôi chuyển lời lên Thủ Tướng. Sau này khi đứng ra phục vụ nhóm Dương Văn Minh, ông ta có mời tôi tới dinh Thủ Tướng ngoài bến Chương Dương để vừa dùng cơm vừa nghe ông khoe khoang các kế hoạch ''vỉ đại'' nhằm làm ung thối thêm tình hình Miền Nam cho bọn Việt cộng chóng cướp chính quyền.

Dư luận dường như xem thường vai trò của Nguyễn Ngọc Thơ mà ít đề cập tới ông ta. Chứ thực ra, Nguyễn Ngọc Thơ, một trong các hạng người nguy hiểm ''nhất lé, nhì lùn'' đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự sụp đổ Miền Nam.

Lịch sử Miền Nam luôn luôn có những sự rủi ro đáng tiếc. Nếu Trình Minh Thế không bị ám sát, và nếu Lê Quang Vinh không bị mưu hại, thì biết đâu tình hình Miền Nam ngày nay đã đổi khác. Đâu đến nỗi tan nát ngọn cờ, trăm họ ly tán?

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG XI 
TOÀN GIA KHÁNG CHIẾN

Cho tới nay, nếu dư luận biết nhiều về sự nghiệp đấu tranh của Trình Minh Thế, thì ngược lại, dư luận đã quên hẳn một ông già nghĩa khí vô song, một thành phần cột trụ của giồng giống họ Trình thuộc tỉnh Tây Ninh. Đó là Cụ Trình Thành Quới, thân phụ của Tướng Thế

Khi Tướng Thế rút quân ra khu, Cụ Trình Thành Quới hãy còn lo việc cấy cày như thường lệ. Nhưng một thời gian sau, thấy nội bộ Cao Đài lủng củng, thấy Tướng Nguyễn Văn Thành nỡ lòng đem quân đi đánh dẹp con mình, thì Cụ nổi cơn bất bình, tự động võ trang cho một số con em thân thuộc, rồi cũng rút thẳng vào rừng Bù Lu, mở riêng ra một "chiến khu nho nhỏ". Có điều lạ lùng là Cụ không chịu đứng chung với Tướng Thế, cứ nhất mực từ chối mọi sự giúp của Thế. Sự lạ lùng nầy tôi sẽ nói sau. Tướng Thế không biết làm sao hơn, đành ngấm ngầm chỉ định Thiếu Tá Tô Bính Cầm, em rể của ông đem một Tiểu Đoàn về đóng chung quanh "chiến khu độc lập" của Cụ Trình Thành Quới. vì biết ông Cụ tuy cứng cỏi hiên ngang, nhưng với chút lực lượng cỏn con, thì làm sao chống nổi với cộng sản, với Pháp? Cụ Quới - mà chúng tôi quen gọi là Bác Năm - khi thấy bóng Tô Bính Cầm thì mắng chửi ầm ầm, nhưng Cầm vẫn cứ phải giả ngơ giả điếc, chăm chỉ lo phận sự bảo vệ an ninh cho ông già vợ của mình.

Tôi nghĩ dường như ông Cụ sinh ra Tướng Thế đã mang sẵn giòng máu quân sự trong mình, nên mặc dù cả đời chưa bao giờ cầm quân giết giặc, mà Cụ Quới xem chừng cũng khá thông thạo về việc bài binh bố trận như ai vậy. Cụ đóng quân nơi bìa rừng, sai đào hào lũy chung quanh, giao cho người con trai út của Cụ là anh Trình Minh Đức, mới 17 tuổi, phụ trách khẩu súng máy. Mỗi lần tôi tới thăm Cụ, được Cụ dẫn đi quan sát khắp mọi nơi, tỏ sự tin tưởng nơi tài sắp đặt của mình. Tôi khá lo ngại, song chẳng dám đưa ý kiến gì. Để nuôi dưỡng toán quân nho nhỏ, Cụ Quới hy sinh cả cơ nghiệp sẵn có. Ngoài điền sản nơi Bến Cầu, Cụ vốn có một lò gạch và một nhà máy xay gạo thiết lập trên bờ sông Vàm cỏ Đông, ở gần Bến Kéo. Cụ sai quân thủ túc lâu lâu lén về chở gạo vào ăn, và Cụ cũng biết bỏ tiền mua thêm vũ khí để võ trang dần hồi cho các thanh niên có lòng mến Cụ mà theo. Không biết Cụ vận động cách nào mà có cả các thứ địa lôi, súng máy. Tôi đoán chừng con rể cụ là Thiếu Tá Tô Bính Cầm đã khéo léo cung cấp cho Cụ các vật ấy mà Cụ không biết. Lần hồi, Cụ nắm quyền chỉ huy được chừng một Trung đội.

Tướng Thế bị cha ruột chống báng kịch liệt, thì rất lấy làm khổ tâm. Cái nguyên do là Tướng Thế có tính cương cường. Từ thuở xa xưa, khi còn ở trong Quân Đội Cao Đài, Tướng Thế đã không chịu nghe theo một số các lời khuyên nhủ của Cụ, nên sự xích mích mỗi ngày một lớn dần lên, mặc dù Tướng Thế vẫn giữ tròn bổn phận làm con. Hễ bị mắng chửi, dù là mắng chửi không có lý do chính đáng, ông cũng lánh xa ngay, để mặc ông Cụ nổi trận lôi đình. Hơn một lần, có tôi chứng kiến, Cụ Quới nhất mực không cho Tướng Thế vào căn cứ thăm mình. Túng cùng, Tướng Thế đành phải nhờ tôi đứng ra can thiệp. Tôi tìm lời an ủi Cụ Quới, ca tụng tấm lòng hiếu thảo của con Cụ, và cho biết, nếu Cụ cứ nằng nặc hất hủi Tướng Thế, không để ông bảo vệ an ninh cho Cụ, thì e có ngày sẽ nguy mất! Nhưng Cụ Quới vẫn cứng cỏi: - Cái thằng Thế là một thằng vô dụng. Tôi không cần tới nó! Tôi phải chau mày trước câu nói quá nặng nề ấy. Tuy nhiên, ngay sau đó, Cụ tỏ ý đã muốn nghe theo lời khuyên nhủ của tôi. Cụ nguôi giận (chẳng biết giận cái gì!) và im lặng để Tướng Thế bước vào căn cứ thăm Cụ. Rồi Cụ sai bày cơm nước thiết đãi ân cần. Riêng với tôi, Cụ rất có lòng thương mến. Thường nói chuyện với tôi nhiều hơn là với con trai của Cụ. Chẳng những lâu lâu Cụ sai người mang biếu tôi một vò rượu đế hoặc một vài bao thuốc lá, mà Cụ còn biết nghĩ tới tôi cho đến nỗi, một hôm trước Tết, tôi theo Tướng Thế về vấn an, được Cụ kín đáo nhét vào tay tôi 10 tấm giấy bạc một trăm đồng. Tôi xiết bao kinh ngạc trước sự chiếu cố quá tưởng tượng ấy. Nên nhớ là từ bao năm, chúng tôi không hề biết mặt mũi đồng tiền đồng bạc. Dăm thì mười họa, may mắn được ai tưởng tình biếu cho một chai nước tương Tàu Vị Yểu đã coi là chuyện hy hữu. Huống chi phút chốc lại cầm trong tay một ngàn đồng bạc, tôi cứ tưởng mình nằm mơ. Cụ Quới thấy tôi tần ngần chưa dám nhận món quà to tát, thì nhỏ nhẻ nói: "Qua thương em quá thiếu thốn khổ cực trong rừng bấy lâu nay, nên nhân dịp cuối năm, qua tặng em chút đỉnh để sắm Tết. Em hãy nhận lấy. Qua còn tiền đây, em đừng ngại!" Lời nói của Cụ như rót vào tai tôi. Cụ lại hạ mình kết nghĩa đệ huynh với tôi, càng làm tôi thêm lúng túng. Tôi đành phải nhận.

Số tiền kia tôi không muốn hưởng thụ một mình khi còn bao nhiêu anh em khác đói khổ. Nên khi trở về Núi Bà, tôi tập họp một số anh em trong Ban Văn Nghệ Đài

Phát Thanh, mời ngồi nơi bãi cỏ, rồi tôi phát cho mỗi người một tấm giấy bạc một trăm đồng. Lại đến lượt các anh em đáng yêu kia mở to đôi mắt ra nhìn tôi, sửng sốt không biết tôi có "phép tiên" nào mà chế ra được mấy tấm giấy bạc ấy. Tôi đành phải dấu sự thật, và cũng bắt chước Bác Năm, tôi bảo anh em hãy dùng nó mua sắm chút đỉnh ăn Tết. Năm ấy, chúng tôi ăn một cái Tết "linh đình", có trứng vịt, có nước tương, có bắp su, và khô tra nữa, nhờ một nghĩa cử hiếm có trên đời của Bác Năm.

Sự lo nghĩ của Tướng Thế về tính mệnh của bực thân sinh nào ngờ đã biến thành sự thật. Trước Tết năm Quý Tỵ (1953), ông với tôi cùng về Bù Lu thăm viếng anh em chiến sĩ và vấn an Cụ Trình Thành Quới. Lần này, tôi không biết linh tính gì đã khiến Cụ Quới hết lòng niềm nở đối với Tướng Thế. Phụ tử chẳng những không hục hặc nhau như ngày nào, mà cụ già hiên ngang lại một hai gọi Thế bằng "con" ngọt ngào, như chưa bao giờ có sự giận hờn xích mích vậy. Trước sự thay đổi ấy, Tướng Thế cũng hơi ngạc nhiên, im lặng đưa mắt nháy tôi. Ông bèn đi quan sát chung quanh một vòng, dặn dò người em út Trình Minh Đức về việc canh gác, đồng thời hạ lệnh cho Thiếu Tá Tô Bính Cầm hãy lo thay đổi việc đóng quân, nên ở gần cha vợ nhiều hơn để bảo vệ cho ông. Theo chương trình, chúng tôi dự định ngủ lại căn cứ của Cụ Quới đêm hôm ấy. Nhưng bỗng nhiên, sau bữa cơm chiều, Tướng Thế chợt thay đổi ý kiến, rủ tôi cùng lìa bỏ gấp rút rừng Bù Lu khi trời vừa tối. Chúng tôi kéo quân sang sông, đi thật nhanh về Núi Bà. Tôi khá ngạc nhiên trước thái độ bất thường của Tướng Thế. Nào hay vừa về tới nơi, đã nhận được tin của Thiếu Tá Cầm cho hay một biến cố thảm khốc. Cộng sản đã huy động một toán quân hùng hậu, tấn công căn cứ của Cụ Trình Thành Quới, ngay sau khi chúng tôi vừa rút khỏi nơi ấy. Thì ra, cộng sản dò biết Tướng Thế về Bù Lu, lại dự định ngủ đêm tại một nơi kém phòng thủ, nên chúng bố trí đánh úp, nhầm giết Tướng Thế.

Khi đã đột nhập vào trong, cộng sản mới hay Tướng Thế không còn ở đó nữa. Chúng bèn ra tay bắn giết toán quân nhỏ nhoi của Cụ Trình Thành Quới, hạ sát 9 người. Anh Trình Minh Đức phụ trách khẩu súng máy đã liều mình bắn trả kịch liệt, nhưng rồi anh thất thế, bị địch quân bắt được, đè sấp anh xuống vũng bùn cho tới khi tắt thở. Còn Cụ Trình Thành Quới, một cụ già ốm yếu hom hem, cũng không thoát khỏi tử nạn. Kẻ thù chém nát thây Cụ, rồi lại tàn nhẫn ném cái thây ấy vào giữa đám cháy, khiến thịt nát xương tan, trông thảm thương không biết chừng nào! Tổng cộng là 11 người bị thiệt mạng trong trận ấy. Toàn thể căn cứ đều bị giặc thiêu hủy. Chẳng nói ai cũng biết, Tướng Thế đau lòng biết là bao! Trong giây phút, ông đã mất cả cha già lẫn em ruột về tay cộng sản. Mối thù ngút tận trời xanh.

Chúng tôi nhận được hung tin thì lập tức trở qua Bù Lu. Các tử thi hãy còn đắp chăn chiếu sắp thành một hàng dài trên mảnh đất còn in rõ dấu chân quân thù. Khi lật chăn lên, tôi không nhận được mặt Cụ Trình Thành Quới nữa. Cụ đã trở thành một mớ "thịt quay" vàng hệch, ốc tủy nhày nhụa chung quanh. Còn anh Trình Minh Đức thì mang vết tím nơi cuống họng, chứng tỏ anh đã bị địch quân xiết cổ. Tất cả mọi người bật lên tiếng khóc. Tướng Thế uất hận, quay ra hỏi người em rể Tô Bính Cầm: ''Tại sao Thiếu Tá không đem quân tiếp cứu?" Cầm run sợ đáp:

"Thưa Ngài, chiều hôm qua, Ngài đi rồi, Cụ cũng ra lệnh bảo em phải về đi. Em không dám trái ý. Vừa về tới nơi, nghe tiếng súng nổ, em vội quay trở lại nhưng không kịp. Bọn giặc tấn công chóp nhoáng rồi rút chạy vào rừng, tiến về mạn biên giới!"

Tướng Thế dẫm chân tức tối, không nỡ trừng trị em rể. Ông ân hận không phải vì mình không biết tiên liệu sự rủi ro, mà chính vì buổi sinh tiền, thân phụ ông đã quá cứng rắn, quá tự tin, không chịu để ông che chở.

Mãi tới chiều hôm ấy, quan tài mới được đưa vào. Chín chiến sĩ tử trận được chôn ngay tại chỗ. Còn linh cữu Cụ Trình Thành Quới và anh Trình Minh Đức thì được đưa về Tòa Thánh Tây Ninh làm lễ tống táng theo nghi thức tôn giáo Cao Đài. Tới đây, Tướng Thế bèn chính thức ngỏ lời yêu cầu tôi thay mặt ông, đứng chủ tang cho Thân phụ ông. Nhờ ở chỗ tôi ít quen mặt nơi Thánh địa, nên chỉ cần cải trang chút đỉnh với bộ quần áo trắng của một đạo hữu, tôi đã thủ vai trò một cách nghiêm cẩn đến nơi đến chốn. Đám táng khá linh đình. Đồng bào đạo hữu dự lễ rất đông, vì lòng xót thương người quá cố, và cũng vì lòng kính phục cá nhân Tướng Thế nữa. Cụ Trình Thành Quới được mai táng tại nghiã trang Thánh tử Đạo.

Kiểm điểm lại, cả một gia đình gồm cha con, vợ chồng, anh em, đều đồng lòng xả thân cho đại nghĩa. Một Trình Thành Quới hiên ngang nhận chịu gió mưa lúc tuổi già, không cần ai biết tới tên tuổi. Một Trình Minh Thế anh hùng, nửa đời bỏ dở sự nghiệp cách mạng. Một Trình Minh Đức vui lòng bán tuổi xanh cho đất nước. Một Nguyễn Thị Kim luôn luôn hy sinh và cô quạnh khi còn chồng cũng như khi đã mất chồng. Và cuối cùng, một Tô Bính Cầm vẹn niềm trung tín với cha, anh, để cuối cuộc đời bước vào quên lãng...

Tôi nghĩ, Cụ Trình Thành Quới đáng được ghi danh vào lịch sử. Sở dĩ tới ngày nay dư luận vẫn chưa biết tới Cụ, lỗi ấy do chúng tôi, những người trong cuộc, đã giữ kín câu chuyện trên 30 năm, tới bây giờ mới đưa ra ánh sáng. Tôi thiết tưởng đồng bào đạo hữu Cao Đài, nếu đã hãnh diện có một "người con trai" xứng đáng trong nền Đạo như Trình Minh Thế, thì cũng phải dành cho Cụ Trình Thành Quới một chỗ ngồi vinh hiển trong tâm hồn họ. Cụ quả là một kiệt nhân, một bực lão thành cách mạng hơn đời ở chỗ không chống giặc bằng miệng lưỡi, mà bằng vũ khí trên tay, bằng cái tinh thần độc lập cứng cỏi không thèm nhờ vả ngay chính con mình.

Cái chết của Cụ Trình Thành Quới tuy đau thương nhưng thật anh dũng. Riêng tôi, tôi đã được cái vinh dự đặc biệt đứng chủ tang cho Cụ, vừa vẹn nghiã đệ huynh với Trình Minh Thế, lại vừa giãi tỏ được tấm lòng biết ơn, kính quý, đối với Cụ buổi sinh tiền.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG XII
CÔNG CUỘC VẬN ĐỘNG THÊM BẠN BỚT THÙ

Sau cái chết của Cụ Trình Thành Quới, Tướng Thế ngẩn ngơ mất một thời gian. Thể xác ông gầy mòn héo hắt, nhưng tôi biết tâm hồn ông trở nên cứng rắn hơn bao giờ hết. Có thể nói, ông đã trở thành một thỏi sắt nguội. Một hôm, chúng tôi ngồi đàm đạo với nhau về các vấn đề thời sự, bỗng nhiên ông hỏi tôi có nhớ gì về một câu nói của tôi trước đây đối với cộng sản hay không? Tôi thú thật tôi không nhớ đã nói gì. Ông bèn nhắc lại: - Hồi mới gặp nhau, anh có nói, đối với cộng sản ta phải dứt khoát. Chúng súng, ta súng, chúng dao, ta dao, chúng giết một, ta trả hai. Không bao giờ có sự thỏa hiệp với bọn ấy. Hồi bấy giờ, tôi cho rằng anh quá khích với cái chủ trương tuyệt đối của anh. Bây giờ tôi nhìn nhận anh có lý.

Tôi không ngờ Tướng Thế để bụng câu nói ấy. Và việc ông tự ý nhắc lại nó chứng tỏ ông đã có một sự thay đổi lớn trong tâm hồn. Chẳng bao lâu, chúng tôi bắt được hai tên cảm tử cộng sản trá hình làm thường dân, len lỏi vào vùng Núi Bà với mục đích ám sát Tướng Thế cho bằng được. Hai tên ấy liền bị khai thác triệt để, và bị lên án tử hình. Pháp trường được thiết lập cạnh chân núi. Một tên trong bọn, trước khi thọ hình, được phép nói câu cuối cùng. Hắn còn lẻm mép: "Xin cho em được về với vợ em!" Tôi mỉm cười, đáp: "Tới giờ này, anh còn mong về với vợ anh, sao anh lại chẳng muốn kẻ khác sống sót để về với vợ con họ?" Tiếp đó, cộng sản phá quấy khắp nơi. Tại khu Bời Lời, chúng hoạt động ráo riết, Trung Tá Nguyễn Trung Thừa không chút nao núng, ông bố trí bắt trọn một toán cán bộ cộng sản và trừ khử ngay. Quanh Núi Bà, chúng tôi cũng bắt được một nữ cán bộ thuộc loại trí vận. Tên này là một nữ sinh, có nhan sắc. Hắn định dùng mỹ nhân kế để lung lạc. Nhân dịp Tướng Lê Quang Vinh vào thăm chiến khu, ông có được mời chứng kiến cuộc thẩm vấn nó, và ông đã phá lên cười khi nghe nó mồm năm miệng mười chối phăng hết những điều mà chúng tôi đã biết rõ. Thời gian này, Hội Nghị Genève đang tiếp diễn bên Thụy Sĩ. Chắc cộng sản tin tưởng chúng sắp thắng Pháp tại Điện Biên Phủ đến nơi, nên trong Nam chúng tăng cường hoạt động hơn những năm trước.

Cùng lúc này, nội bộ Cao Đài có sự thay đổi quan trọng. Tướng Nguyễn Văn Thành bị Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc cất chức Tổng Tư Lệnh, vì nhiều lỗi lầm, kể cả lỗi lầm đã công khai theo Pháp đàn áp Liên Minh. Chúng tôi lấy làm mừng, vì bớt đi được một đối thủ. Tôi muốn nói thêm là trong thời gian Thành còn tại chức, có một đêm Tướng Thế liều lĩnh về gặp Thành với mục đích thuyết phục Thành tưởng tình anh em mà bớt đi công cuộc khủng bố Liên Minh. Tướng Thế không quên mang theo một toán quân phục kích bên ngoài, phòng bất trắc. Tướng Thành tiếp kiến, cười cười nói nói, luôn mồm gọi Tướng Thế bằng "Chú". Nhưng ngờ đâu Thành đã bí mật hạ lệnh đặt phục quân trên con đường Thế vừa đi tới. Kỳ phùng địch thủ, tương kế tựu kế, Tướng Thế đã đoán biết điều đó, nên khi ra về, ông dùng lối khác, nên mới thoát thân. Thành đã có lúc táng tận lương tâm, dứt tình đoạn nghiã như thế đó. Nghĩ thật đau lòng.

Thành bị cách chức, người được thay thế đáng lẽ là Tướng Nguyễn Thành Phương. Nhưng dường như Đức Hộ Pháp lại không thích Phương, định cử một kẻ thuộc đàn em Phương lên nắm địa vị then chốt của Quân Đội Cao Đài. Nhưng liền ngay sau đó, lại được tin Đức Hộ Pháp thay đổi ý kiến, và muốn tái dụng cựu Tổng Tư Lệnh Trần Quang Vinh, người đã một thời tham gia Chính Phủ Trần Văn Hữu. Tướng Nguyễn Thành Phương hoảng hốt, vội bắt liên lạc với Tướng Thế, nhờ Thế tìm biện pháp phá hỏng ý định kia của Đức Hộ Pháp. Giữa Phương với Thế vốn có tình anh em mật thiết lâu đời, Phương hoàn toàn không dính líu gì tới kế hoạch đàn áp Liên Minh của Nguyễn Văn Thành, nên được Thế kính nể và coi như một đồng minh hữu ích sau này, vì vậy, Tướng Thế không ngần ngại giúp đỡ Phương ngay. Tuy giúp đỡ Phương, nhưng cũng là tự giúp đỡ mình. Vì nếu không có Phương mà lại gặp phải một nhân vật khác lên cầm đầu Quân Đội Cao Đài với lập trường bất thân thiện, thì càng nguy cho Liên Minh hơn.

Tướng Thế bèn quyết định ra tay thực hiện một kế hoạch táo bạo. Nửa đêm, ông dẫn người về Tòa Thánh, bao vây tư gia của ông Trần Quang Vinh, bắt cóc ông này đưa ngay vào núi. Ông nhờ tôi đặc trách cuộc điều tra, rồi quyết định mở Tòa án Quân Sự đặc biệt xử tội Tướng Vinh về những lỗi lầm trong quá khứ. Khổ cho tôi, Tướng Trần Quang Vinh hoàn toàn xa lạ đối với tôi, nên cuộc sưu tầm tài liệu để lên án thật hết sức nặng nề khó khăn. Tướng Vinh được đưa lên giam giữ trên đỉnh Núi Heo. Tôi phải thân hành lên đó làm cho xong công việc cũng phải mất tới mấy tháng.

Tướng Thế ký Nghị Định thiết lập Tòa án Quân Sự Đặc Biệt. Tham Mưu Trưởng Trương Lương Thiện được cử làm Chánh án. Tôi giữ ghế Công Tố Viên. Còn Luật sư Thái Vĩnh Thịnh và Nguyễn Văn Phương (một cựu sinh viên Luật) thì được chỉ định đóng vai biện hộ cho bị cáo.

Tôi muốn dừng lại đây để viết vài giòng về Luật sư Thái Vĩnh Thịnh, ông quê quán đất Bắc, vào Nam sống tại vùng Tòa Thánh Cao Đài. Ông tình nguyện gia nhập Liên Minh khoảng năm 1953, khi chúng tôi đã về Núi Bà. Hàng ngày, ông tiếp tay với Đài Phát Thanh, viết bài bình luận. Một bữa nọ, Trung Tá Trạng đóng gần bên Núi Heo, có mở một bữa tiệc "gà sống tây", gọi điện thoại mời chúng tôi tới dự. Luật sư Thịnh cũng có mặt. Tiệc xong, chúng tôi ra về, riêng ông Luật sư nhà ta thì còn nấn ná ở lại chơi, mãi sáng hôm sau mới lò dò về chỗ ở trên tận Chùa Hang. Bất đồ giọc đường, ông bắt gặp một con nai, thấy ông nó hoảng sợ chạy băng vào rừng, đụng phải mìn nổ tung. Nai chết, mà Luật sư Thịnh cũng giữa đường mang họa, bị một mảnh mìn đâm thủng một lỗ tròn bằng đầu ngón tay ngay trên trán. Thương tích thập tử nhất sinh, anh em hoảng sợ, vội đưa ông về chữa trị. May sao vết thương lại lành, da trán kéo liền lại như cũ, ông được sống sót. Sau này, ông trở lại hành nghề Luật sư tại Tòa án Nha Trang, không biết ngày nay sống thác lẽ nào. Anh em vẫn thường đùa ông về cái tội "ăn thịt gà tây". Mỗi lần nhìn tới cái khoanh tròn màu thịt non trên trán ông, thì ai nấy lại cuời ngặt nghẽo. Từ đó, ai mời đi dự tiệc, ông cứ hỏi "có gà sống tây không?" Và nhất định không đi một mình nữa. Tính ông thật dễ mến bao giờ cũng tươi cười niềm nở với anh em. Hồi mới vào khu, mỗi lần leo giốc, ông bò cả bốn chân tay trông rất tội nghiệp. Chỉ mới một tháng trời nếm thử "mùi chiến khu" mà cái thắt lưng của ông đã tụt xuống tới...3 lỗ.

Luật sư Thịnh được chỉ định biện hộ cho bị cáo, thì quả thật là xứng người xứng của. Phiên Tòa xử tội Tướng Trần Quang Vinh được mở ra một cách long trọng dưới chân núi, cạnh căn cứ của Trung Tá Trạng. Đồng bào ngoài thành nghe tin, xin phép vào tham dự khá đông, chiếm cả một khu đất rộng. Có cả một người con gái của Tướng Vinh nữa. Người này, sau xin tình nguyện ở lại luôn trong núi, được sung vào ban Quân Y.

Giữ ghế Công Tố Viên, tôi đã phải tra cứu thật tường tận bộ Pháp Chánh Truyền của tôn giáo Cao Đài, một tài liệu quan trọng được coi như bộ Hình Luật của riêng Tòa Thánh. Căn cứ vào bộ luật đó, rồi lại đối chiếu với những tội trạng của Tướng Trần Quang Vinh, tôi không thể không nhìn nhận rằng ông phạm trọng tội. Sự trình bày khúc chiết của tôi trước Tòa được đồng bào hoan nghênh nhiệt liệt, ngay cả người ái nữ của bị can cũng nồng nàn tán thưởng, ấy mới lạ! Thú thật, lòng tôi cũng chả vui gì khi buộc tội một người không quen biết, một người mà thâm tâm tôi vẫn kính nể do cái địa vị của ông trong Tòa Thánh. Nhưng vì quyền lợi sống còn của đoàn thể, tôi phải làm cho tròn sứ mạng.

Luật sư Thái Vĩnh Thịnh và Nguyễn Văn Phương cũng hùng hồn không kém. Rất chân thành và vô tư, Luật sư Thịnh đã đem tất cả tài nghệ sở trường, tìm tòi mọi lý do, mọi kẽ hở, để bào chữa cho bị cáo. Nguyễn Văn Phương cũng lại phải căn cứ vào bộ Pháp Chánh Truyền để buộc tội bị cáo. Phiên Tòa hết sức sôi nổi, đồng bào chăm chú theo dõi từng chi tiết một, vì Tướng Trần Quang Vinh là người rất có tên tuổi Tướng Trần Quang Vinh tỏ ra ăn năn trước những tội trạng mà ông không chối cãi. Cuối cùng, Tòa tuyên án tử hình, nhưng cho tội nhân được hưởng án treo 10 năm.

Cần nói ngay là chính bản thân Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc cũng lấy làm hoảng sợ khi nghe tin Tướng Trần Quang Vinh bị bắt và xử tội. Ngài dùng uy tín của vị lãnh đạo tinh thần tối cao, yêu cầu Tướng Thế nới tay, kẻo nội bộ Cao Đài hết sức rúng động. Vì thế mới có cái án "tử hình treo", một hình thức xử phạt chưa từng thấy trong lịch sử Tòa án. Nó biểu lộ một sự dung hòa nhượng bộ về phần Tướng Thế, vừa đủ để làm mất đi uy thế của Tướng Trần Quang Vinh, và làm Đức Hộ Pháp phải bỏ đi ý định đưa Tướng Vinh trở lại ghế Tổng Tư Lệnh. Điều an ủi tôi hơn hết là gia đình Tướng Vinh không hề oán trách tôi khi tôi buộc tội thân nhân họ, mà trái lại, họ tỏ vẻ hài lòng khi bản án được công bố. Bởi thế, cô ái nữ kia của Tướng Vinh đã vui vẻ xin ở lại Núi Bà để làm một nữ cứu thương.

Chẳng nói ai cũng biết, người thỏa dạ hơn hết trong vụ này là Tướng Nguyễn Thành Phương. Nhờ mưu kế thần diệu của Tướng Thế, Tướng Phương nắm chắc sự thành công trong tay. Thực vậy, Đức Hộ Pháp thấy lá bài Trần Quang Vinh bị xé nát ngay trong trứng nước, thì cũng sinh ra dè dặt, không thể không chú trọng tới ảnh hưởng ngấm ngầm của Tướng Thế. Ngài bèn quyết định thăng Nguyễn Thành Phương lên cấp Trung Tướng và tấn phong cho Phương giữ ngôi Tổng Tư Lệnh Quân Đội Cao Đài.

Tướng Phương như rồng gặp mây, con đường công danh lên vùn vụt. Ông nhậm chức xong ít lâu, thì xảy ra việc chia đôi đất nước, nhà chí sĩ Ngô Đình Diệm từ ngoại quốc về lập Chính phủ. Ông được Thủ Tướng Ngô Đình Diệm mời vào Nội Các đầu tiên, giữ chức Quốc Vụ Khanh - ngang hàng với Tướng Trần Văn Soái của Quân Đội Hòa Hảo - và là một thành viên trong Hội đồng Quốc phòng - của Thủ Tướng Diệm. (Hội đồng này chỉ gồm có 3 nhân vật: Ngô Đình Diệm, Nguyễn Thành Phương, Trần Văn Soái). Để đền ơn Tướng Thế, Nguyễn Thành Phương tuy ngoài mặt vẫn phải tuân theo đường lối dè dặt của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đối với Liên Minh, nhưng bên trong, ông ngấm ngầm giúp đở Liên Minh cách này hay cách khác. Việc trước tiên là ông dẹp bỏ ngay các biện pháp khủng bố Liên Minh, mở đường cho Liên Minh được tự do ra vào nơi Thánh địa, được mua sắm thực phẩm tiếp tế đều đặn. Đời sống trong rừng trở nên dể thở hơn. Ông lại còn chia sớt cho Liên Minh một số vũ khí, nhầm giúp Liên Minh tăng cường hòa lực để đối phó với cộng sản khi chúng rảnh tay với Pháp sau Hiệp Định Genève.

Tái lập được tình huynh đệ bình thường với lực lượng Cao Đài, Tướng Thế rảnh rang mở rộng bang giao với các đoàn thể bạn tại Miền Nam. Do đó mà cuộc liên minh giữa ông với Tướng Lê Quang Vinh, tức Ba Cụt, ở Miền Tây càng ngày càng tốt đẹp. Đôi bên liên lạc rất chặt chẽ, trao đổi với nhau các tin tức hữu ích về mặt quân sự.

Nhưng dù sao, Tướng Thế vẫn còn thấy một trở ngại lớn trên con đường ông đi. Trở ngại này liên quan tới sự sống còn thiết thực của kẻ ở rừng. Đó là thái độ không mấy rõ rệt của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc. Ngay sau khi Tướng Thế rút vào rừng, nghe nói Đức Thầy đã nhiều lần công khai tuyên bố trước mặt các vị Chức sắc cao cấp, rằng Ngài rất hãnh diện có được "một đứa con nghĩa khí của nền Đạo" như Trình Minh Thế. Nhưng trước sau, lời tuyên bố ấy vẫn chỉ tới đó mà thôi, ngoài ra không có gì khác nữa. Trên thực tế, dường như Ngài không tán thành việc Thế chống Pháp và chống chính quyền Bảo Đại. Việc này rất dễ hiểu, vì Đức Thầy cũng như Tòa Thánh vốn có chủ trương bảo hoàng xưa nay. Tòa Thánh Tây Ninh nhiệt liệt ủng hộ Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, nên đã có xu huớng thân Nhật khi Nhật chiếm đóng Đông Dương hồi 1940.

Nay lá bài Kỳ Ngoại Hầu không còn hy vọng gì nữa, lẽ đương nhiên Tòa Thánh có cảm tình với Cựu Hoàng Bảo Đại và cả với chính phủ của ông này. Vậy Tướng Thế chống bù nhìn, tức là đã đi ngược lại con đường hiện hữu của Tòa Thánh. Chắc hẳn vì vậy mà Đức Hộ Pháp không minh bạch thái độ. Khen Thế thì kẹt cho Ngài, mà chê Thế thì không tiện nói ra được, vì Thế đã được dư luận toàn dân ủng hộ.

Ai cũng biết Liên Minh sở dĩ sống được là nhờ sự giúp đỡ của đồng bào đạo hữu. Họ vừa đầy lòng từ tâm lại vừa là chiến sĩ chống cộng ngay trong huyết quản. Nhưng họ vẫn không dám tự tiện ủng hộ Liên Minh, mà phải tùy theo lệnh trên từ Tòa Thánh ban xuống qua các vị Lễ Sanh, Đầu Tộc Đạo. Bao nhiêu lần gặp khó khăn một cách khó hiểu trong vấn đề vận động quân lương, Tướng Thế đâm suy nghĩ. Chả nhẽ Đức Thầy lại ban lệnh cấm đoán chăng? Hay là các vị Chức sắc địa phương tự động làm khó dễ? Phải tìm cho ra sự thật bên trong cái tình trạng mập mờ này. Cho nên, hơn một lần, Tướng Thế hướng dẫn một số anh em thuần thành tín hữu Cao Đài, liều mình về Tòa Thánh giữa ban đêm, xin ra mắt Đức Hộ Pháp tại Trí Huệ Cung. Đức Thầy niềm nở đón tiếp. Trước mặt Đức Thầy, Tướng Thế quỳ lạy, bẩm thưa những lời hết sức cung kính chân thành của một đệ tử, và van cầu Ngài hay đoái thương anh em Liên Minh, hãy ban lệnh cho khắp nơi triệt để giúp đỡ anh em sống sót mà thi hành bổn phận cứu dân cứu nước. Đức Thầy ứa nước mắt, đích thân đỡ Tướng Thế dậy, rồi nói: - Thầy vẫn hết lòng thương yêu các con, dù ở ngoài hay ở trong rừng. Riêng với Thế đây, Thầy coi con là đứa con nghĩa khí anh hùng, là "hột gạo cội" của nền Đạo. Thầy cũng đã dặn dò các nơi, nếu thấy có thể giúp đỡ gì được cho các con, thì cứ tùy tiện mà làm, chớ tuyệt nhiên Thầy không hề cấm đoán. Nếu có ai tự ý làm khó dễ các con, để rồi Thầy sẽ bảo."

Tất cả mọi người đi theo Tướng Thế đều nghe rõ lời phán bảo đó. Tướng Thế mừng rỡ lạy tạ ra về, tưởng rằng tình hình rồi sẽ sáng sủa hơn. Nhưng lạ thay, những ngày tiếp theo đó, sự khó khăn trong việc vận động quân lương chẳng những không giảm bớt mà còn tăng lên. Ban quân lương chạy về Bộ Tư Lệnh báo cáo tự sự, thuật lại nhiều trường họp khó tin. TướngThế bèn rủ tôi và một vài anh em bí mật về nhà riêng của Trung Tá Trạng, cũng ở gần Tòa Thánh Tây Ninh. Rồi nhờ thân nhân Trung Tá Trạng đón mời một số các vị Chức sắc tới gặp nhau để bàn chuyện. Ai nấy tỏ vẻ lễ độ cung kính. Nhưng khi hỏi tới vấn đề quân lương, thì người nào cũng trả lời là không hề nhận đuợc lệnh mới nào của Đức Hộ Pháp cả.

Chúng tôi bật ngửa. Thế này nghĩa là sao? Từ dạo ấy, Liên Minh đành phải tìm phương tự túc, và bà Nguyễn Thị Kim lại phải bán thêm một mớ tư trang để mua gạo tiếp tế anh em. Cái điều bí mật kể trên, Tướng Thế vẫn cố giữ mãi trong lòng, không thể nào tiết lộ ra được, vì nếu tiết lộ, thì chắc chắn chỉ một mình Liên Minh bị thiệt hại đủ mọi mặt. Hỏi còn ai dám nói ra những chuyện "thâm cung bí sử" vốn là cái đầu mối của những đổi thay ghê gớm trong một quốc gia hay đoàn thể, mà các sử gia bên ngoài không bao giờ biết được. Phần tôi, tôi cũng chỉ trình bày tới đây, và coi như đủ rồi.

Tướng Nguyễn Thành Phương biết chuyện, cũng đành câm như hến. Dường như ông có vay hộ cho bà Nguyễn Thị Kim một số tiền để bà lo liệu việc vận chuyển quân lương. Dù sao chúng tôi vẫn đặt niềm tin nơi các thửa vườn sắn chung quanh Núi Bà. Lần này, chúng tôi không dám hưởng của bố thí như trước, mà đồng bào cũng vui lòng bán lại lợi tức cho Liên Minh với một giá anh em.

Tình hình Đông Dương biến chuyển mạnh ở bên ngoài. Điện Biên Phủ đang là bãi chiến trường đẫm máu. Hội nghị Genève sắp kết thúc. Một khi cộng sản với Pháp đã thỏa hiệp với nhau, thì cả bên này lẫn bên kia đều rảnh tay, chúng tôi trở thành mục tiêu chính yếu của họ. Chúng tôi lo ngại vô cùng. Tướng Nguyễn Thành Phương thấy cái thế cá nhân đã vững, bèn chính thức mời Tướng Thế và tôi ra thăm ông tại tư thất ở trong chu vi Tòa Thánh. Dịp này, ông cống hiến cho chúng tôi nhiều dử kiện khá quan trọng về những biến chuyển quốc gia sắp tới. Và cũng nhân dịp này, ông bắt buộc một "tội nhân" phải ra trình diện Tướng Thế. Nguời ấy là Trung Tá Nguyễn Văn Cát, nguyên là Trưởng Phòng Nhì của Quân Đội Cao Đài, dưới thời Nguyễn Văn Thành. Trung Tá Cát hoạt động quá đắc lực đối với Thành, nên đã mắc phải không biết bao nhiêu tội lỗi với anh em Liên Minh trong mấy năm trời đằng đẵng. Nay Thành đã mất chức, Cát còn ở lại trong Quân đội để theo Phương.

Tướng Nguyễn Thành Phương nói đôi lời an ủi chúng tôi, rồi bảo Trung Tá Cát quỳ xuống trước mặt Tướng Thế mà tạ tội. Tôi tưởng ông nói xã giao cho đẹp lòng Tướng Thế, nào ngờ Trung Tá Cát quỳ thật, quỳ ngay dưới chân Tướng Thế mà chẳng dám ngửng mặt lên. Ông nói câu gì rất nhỏ tôi không nghe kịp, nhưng chắc là không ngoài sự ăn năn hối lỗi về những hành động quá khứ táng tận lương tâm đối với anh em Liên Minh cùng xuất thân trong hàng ngũ Cao Đài mà ra.

Tướng Thế nghiêm nét mặt, trừng trừng nhìn Cát như muốn bắn chết ngay tức khắc, nếu ông không gặp Cát trong trường hợp này. Cát vẫn không dám đứng dậy, mãi cho tới khi Tướng Thế lạnh lùng bảo ông: "Thôi, mời Trung Tá!", ông mới đứng thẳng lên, chào theo lối quân sự, rồi lẩn ngay vào trong. Cái quang cảnh ấy, tôi cho là hy hữu. Một người đáng tội tử hình, đáng nhận một cái chết đặc biệt, thì lại đưa ngay ra trước mặt ông "Chánh án" để xin trắng án! Tôi thấy tình nghĩa giữa người Cao Đài thật lạ lùng và đáng quý. Phương vẫn coi Thế là em. Thế vẫn coi Cát là em, là đứa em dại, nên nể người anh đang ngồi trước mặt, Thế chẳng nỡ thẳng tay với đứa em dại đó. Nhờ vậy mà Cát thoát chết. Tướng Phương thật khôn khéo, biết lợi dụng một trường hợp bất thường để chạy tội cho đàn em. Tướng Thế không thể đối xử cách nào khác hơn được.

Khi Cao Đài tham gia Chính phủ Ngô Đình Diệm, với Tướng Nguyễn Thành Phương ở ngôi Quốc Vụ Khanh, thì Phương cũng lại đem Nguyễn Văn Cát vào chức vụ Thứ trưởng Nội Vụ, và Phạm Xuân Thái làm Tổng Trưởng Thông Tin. Về sau, Cát về ở tại hẻm đường Phát Diệm Saigon rồi chết bất thình lình vào năm 1964. Tôi có đi đưa đám Cát. Tôi hơi lấy làm lạ, Cát vẻ người hiền lành, khiêm tốn, mà sao lại có lúc dữ hơn cọp rừng sâu, hành hạ anh em Liên Minh quá sức tưởng tượng. Chính tôi cũng đã là nạn nhân của Cát, xuyên qua "bát cơm Phiếu Mẫu" nồng nực mùi phân trâu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG XIII.
CON ĐƯỜNG HỢP TÁC VỚI CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM

Từ ngày có Tướng Nguyễn Thành Phuơng đứng làm "bình phong" nơi Thánh Địa, chúng tôi mạnh bạo ra vào nơi ấy mà không sợ bắt bớ. Đồng bào nhận ra bóng dáng chúng tôi thì rỉ tai nhau là "Các ông trong rừng", và tỏ rõ cử chỉ thân thiện, yêu mến. Thỉnh thoảng chúng tôi có ghé chợ Long Hoa mua vật dụng cần dùng, bao giờ cũng được dành cho giá bán "ủng hộ" đặc biệt hơn ai cả.

Tướng Thế là người mưu trí, luôn luôn dè dặt phòng vệ bản thân. Tuy nhiên, ông thấy Nguyễn Thành Phương có lòng thành thật với mình, thì cũng dẹp bỏ hết mọi điều nghi kỵ, bèn tạm xa lánh Núi Heo, ra thiết lập một căn cứ mới, mà tôi có thể gọi là "Bộ Tư Lệnh tiền phương của ''Liên Minh" tại một khu vườn chuối ở giữa khu vực Cầu Kỹ Nghệ, và con đường Bình Dương Đạo nối dài. Chỗ này, tuy không hẳn là chiến khu, nhưng cũng là một vị trí chiến lược. Chung quanh có một con suối chia làm nhiều nhánh, chảy quanh co vào giữa khu vườn. Chỗ ở riêng của Tướng Thế nấp trong một bụi rậm, không hơn một túp lều tranh của kẻ ăn mày, hai mặt đều có suối, và phía sau là một khoảng rừng nho nhỏ che lấp chiếc lều kia. Khách lạ đi qua, vô tình không biết đó là nơi trú ngụ của nhà Tướng lãnh du kích họ Trình. Thoạt đầu, thỉnh thoảng Tướng Thế mới ra nơi ấy ở tạm đôi ngày, rồi lại trở về Núi Heo. Nhưng càng ngày những cuộc tiếp xúc càng tăng gia, khách phương xa tấp nập tìm tới, khiến Tướng Thế phải dứt khoát ra ở hẳn Vườn Chuối, tránh cho khách khỏi mất một ngày đường leo lên tận đỉnh núi.

Lúc này, Chính phủ Ngô Đinh Diệm đã ra đời tại Saigon. Cao Đài và Hòa Hảo đã tham chính. Mặc dù có sự hỗ trộ của hai đoàn thể này, Nội Các Ngô Đình Diệm vẫn bấp bênh. Bình Xuyên ra mặt chống đối. Khi Thủ Tướng "chỉ định" Ngô Đình Diệm về tới Saigon, sân bay Tân Sơn Nhất buồn tênh, sự tiếp đón của chính quyền xử lý Bửu Lộc vô cùng lạnh nhạt, nếu không nói là đầy thù hận. Trong một tháng trời ngồi lại ghế Thủ Tướng để "xử lý thường vụ" Bửu Lộc đã thật sự gian manh "xử" hết mọi khoản tiền còn lại trong ngân khố, một là để thỏa mãn cái lòng tham vơ vét, hai là để trói tay người kế vị mà Bảo Đại bất đắc dĩ phải chọn để cầm đầu tân Chính phủ. Trong một tình thế cô đơn, dĩ nhiên là nhà chí sĩ họ Ngô phải gấp rút đi tìm đồng minh, dù là đồng minh giai đoạn. Việc mời Cao Đài, Hòa Hảo tham gia nội các đầu tiên hồi tháng 7 năm 1954 là bước đầu của kế hoạch ấy. Riêng với Trình Minh Thế, theo chỗ tôi biết, Thủ Tướng Diệm chẳng những không dám có bụng khinh nhờn cá nhân ông và lực lưỡng võ trang của ông, mà còn nuôi sẵn một tấm lòng kính yêu trọng vọng ngoài sức tuởng tượng. Dường như trước khi về nước, Thủ Tướng Diệm đã nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình Miền Nam, hiểu rõ về Trình Minh Thế, và đã có chủ trương riêng đối với Thế. Cho nên, chỉ đầu hôm sớm mai, người ta đã thấy có một cuộc vận động hợp tác ngấm ngầm về phía chính phủ, đôi mắt của Thủ Tướng Diệm hướng mạnh về phía Núi Bà.

Quả nhiên, danh tiếng của Tướng Thế đã đến tai người ngoại quốc. Người ta đang cần tới ông. Người ta không dám chủ trương tiêu diệt ông như một phần tử ly khai, phiến loạn, mà nguời ta mong nắm tay ông để củng cố tình hình. Núi Bà bắt đầu trông thấy bóng dáng người Mỹ. Được Tướng Thế cho phép, thoạt tiên có một phái đoàn dân sự Mỹ, có lẽ thuộc cơ quan USOM (bấy giờ chưa lấy tên USAID), kéo vào thăm Núi Bà Đen. Cuộc viếng thăm cố làm ra vẻ "du lịch" nhiều hơn, vì không có cuộc tiếp đón chính thức, và cũng không có tiếp xúc bàn bạc gì giữa đôi bên. Tiếp đó lại thêm một phái đoàn báo chí Tây phương kéo vào Vườn Chuối, được cá nhân tôi hướng dẫn lên thăm Núi Bà, thăm Đài Phát Thanh, thăm cơ xưởng đúc vũ khí, ngoại trừ Hành Dinh trên Núi Heo là họ không được bước tới. Phái đoàn này không chậm trễ viết ngay ra những bản tin về Trình Minh Thế, về lực lượng kháng chiến Liên Minh, với luận điệu đầy thiện cảm, với cái chiều hướng muốn giới thiệu với dư luận quốc tế một thực lực du kích đấu tranh chống cộng, chống Pháp tại Miền Nam. Tôi mệnh danh giai đoạn này là giai đoạn "ve vãn", "lòng trong như đã, mặt ngoài còn e" là thế đó. Thói thường, các nhà báo Tây phương chỉ thích loan tin giật gân để câu độc giả. Tại bất cứ quốc gia nào, họ cũng tìm cách tiếp xúc với các tổ chức chống chính quyền, nếu có, vậy mà qua bao nhiêu năm trời hành nghề tại Việt Nam, họ vẫn chưa viết được giòng nào chính thức về phong trào kháng chiến Trình Minh Thế, chẳng qua vì Pháp triệt để cấm đoán... thẳng tay kiểm duyệt từng giòng, từng chữ trong các bản tin. Tối nay, họ được vào thăm Núi Bà, được viết lách tự do về con người đang tung hoành ngang dọc trên một phần đất của Miền Nam, chứng tỏ thế lực Pháp đã hoàn toàn sụp đổ, và một thế lực mới đang bắt đầu được xây dựng trên đất nước Việt.

Việc gì phải đến, đã đến. Đại Tá Mỹ Edward Lansdale bất thình lình xuất hiện. Tôi nói "bất thình lình", vì Liên Minh chưa hề quen biết ông, chưa hề chờ đợi được gặp ông. Khác với năm xưa, đêm đêm người lính Liên Minh ngửng mặt nhìn trời, mong đợi những bao gạo cứu tử không bao giờ trông thấy.

Đại Tá Lansdale nguyên là một sĩ quan danh tiếng trong ngành tình báo Mỹ tại vùng Thái Bình Dương. Trước khi lĩnh trách nhiệm sang Việt Nam, ông đã hoàn tất một sứ mạng phi thường tại Phi Luật Tân. Chính tay ông đã đào tạo ra con người hùng Macsaysay. Từ địa vị một nông dân không tên tuổi, Macsaysay đã được Lansdaie nâng đỡ, đưa lên chức Tổng Trưởng Quốc Phòng chính phủ Phi, rồi lại leo lên ngôi Tổng Thống của quốc gia hải đảo. Sau này quen biết nhau, Lansdale đã hãnh diện khoe với anh em chúng tôi về cái lịch trình nâng giắt Macsaysay như thế nào, để rồi kết luận: "Tôi là người đào tạo Tổng Thống" (I am a President maker). Ông lại còn nói thêm rằng sở dĩ ông còn mang lon Đại Tá là vì theo qui chế bắt buộc, chỉ với cấp bực ấy ông mới còn được phái sang Việt Nam để thi hành một sứ mạng mới. Chứ lẽ ra, ông đáng được phong cấp Tướng, mà rồi phải về nước. Trước khi Đệ Nhất Cộng Hòa chấm dứt, ông lên chức Tướng, về phục vụ tại Ngũ Giác Đài. Dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa, ông lại trở sang Việt Nam một lần nữa. Lần này, ngoài các nhiệm vụ chính thức của riêng ông, ông bỏ thì giờ thăm viếng tiếp xúc với bạn cũ Việt Nam, và làm một việc riêng tây rất đáng ghi nhớ. Ông đứng ra làm chủ hôn, lo hẳn việc cưới vợ cho anh Trình Minh Nhựt, trưởng nam cuả Cố Trung Tướng Trình Minh Thế. Ông tổ chức một buổi tiếp tân thật trọng thể tại đường Công Lý, mời cả các nhân vật cao cấp chính quyền Việt Nam tham dự. Tôi coi đó là một hình thức biểu lộ lòng tiếc thương cuối cùng của ông đối với Tướng Thế. Được ít lâu, ông lại trở về nước, lên tới cấp Trung Tướng rồi về hưu, sống tại Tiểu bang Virginia. Tôi gặp lại ông mùa đông năm 1982 tại Thủ đô Hoa Thịnh Đốn, tính ra vừa đúng 29 năm kể từ ngày quen biết nhau. Lúc bấy giờ, ông đã 75 tuổi, nhưng hãy còn tráng kiện.

Đại Tá Edward Lansdale chính thức vào thăm chiến khu Núi Bà Đen khoảng cuối tháng 8, đầu tháng 9 năm 1954, do Lê Văn Đồng hướng dẫn. Tướng Thế tổ chức đón tiếp thật trọng thể trên đỉnh Núi Heo. Phái đoàn của ông Lansdale ở lại một đêm, dự một "dạ tiệc" độc đáo của Liên Minh, mà người "đầu bếp" chính lại là ông Y sỹ vui tính Nguyễn Văn Sỹ nhà ta! Tiếp theo là một màn "dạ vũ" có một không hai trong lịch sử kẻ ở rừng. Đây là lần đầu tiên, vấn đề hợp tác chính thức được đặt ra. ông Lansdale nhân danh chính quyền Mỹ, đóng vai trung gian, mở đường cho chính phủ Diệm đặt mối giây liên lạc với Trình Minh Thế. Tôi xét thấy trong công cuộc vận động này, về phía Mỹ quả thực đã có một đường lối khiêm cung, một thái độ kính cẩn, khi bước lại gần Tướng Thế. Họ cố giữ cho mọi việc được tiến hành có thứ lóp, có trật tự, để khỏi chạm lòng tự ái của người chiến sĩ họ Trình.

Vì vậy, sau Edward Lansdale, rồi mới đến lượt ông Ngô Đình Nhu được phép vào khu mở cuộc hội đàm trực tiếp với Tướng Thế. Cùng đi theo ông Nhu, có Lê Văn Đồng, và Huỳnh Hữu Nghĩa. Cả Lê Văn Đồng và Huỳnh Hữu Nghĩa lúc ấy đều chưa có chức vụ gì trong chính phủ. Đồng vốn xa lạ, chỉ có Nghĩa là người may mắn quen biết Tướng Thế từ những ngày Nhật chiếm đóng Đông Dương. Nhờ vậy, Nghĩa đã đóng vai trung gian đắc lực, và mới được Nhu kén chọn mang theo ngay buổi đầu.

Khác với Lansdale, Cố Vấn Ngô Đinh Nhu được tiếp đón tại Vườn Chuối, chứ không ở trên đỉnh Núi Heo. Đêm hôm ấy, dưới một túp lều tranh, và bên một ngọn đèn dầu leo lét, đôi bên mở cuộc đàm đạo trong cái không khí dè dặt, thăm dò lẫn nhau. Nhu nhìn thẳng vào mặt Tướng Thế, rồi nói bằng một giọng nhỏ nhẻ, khiêm tốn: - Anh Diệm tôi vốn có lòng mến mộ anh, hết sức ca tụng sự nghiệp đấu tranh cách mạng của anh ngay từ khi ông còn ở nước ngoài. Ngày nay ông về nước cầm quyền, dĩ nhiên là ông không thể không nhờ cậy tới bàn tay của một nguời hiếm có như anh. Vì vậy, anh Diệm tôi sai tôi lên đây, thành thật mời anh vui lòng rời bỏ cuộc đời sương gió hiện nay, về tiếp tay với anh tôi trong một công cuộc hết sức khó khăn, giữa cái tình thế đặc biệt của đất nước ngày nay.

Tôi nghe thấy giọng nói ông Nhu đầy xúc động. Tôi lại đặc biệt lưu tâm tới câu nói: "Thành thật mời anh về tiếp tay với anh tôi ", chứ không phải với "tôi" hoặc "chúng tôi". Tôi thầm khen ông Nhu khôn khéo biết lựa lời, và cũng thầm phục cái nền nếp gia phong của gia đình họ Ngô được tiếng xưa nay là đầy lễ giáo, anh em trên dưới đâu vào đó. Thấy Tướng Thế im lặng, ông Nhu bèn hắng dặng rồi hỏi: - Anh nghĩ thế nào về điều đó? Lần này bị chất vấn trực tiếp, Tướng Thế cũng hắng dặng, định lên tiếng trả lời. Thì dưới bóng tối của mặt bàn xa lông, tôi khẽ đưa mũi giày hất nhẹ vào chân Tướng Thế, nhằm gián tiếp khuyên ông hãy nên dè dặt thận trọng, chớ vội trả lời câu hỏi kia. Nhờ tôi ngồi phía tay phải của Tướng Thế, còn ông Nhu thì ngồi bên trái, nên ông Nhu không nhận thấy cử chỉ đó. Tướng Thế nhanh trí hiểu ngay ý tôi, nên ông ngập ngừng đáp hàng hai: - Thưa Cụ Cố vấn (Tướng Thế trước sau vẫn gọi Nhu bằng Cụ), việc này hết sức trọng hệ. Tôi xin thay mặt anh em thành thật cám ơn Cụ Thủ Tướng đã có lòng chiếu cố đến chúng tôi, mà sai phái Cụ Cố Vấn lên đây gặp gỡ. Nhưng tôi xin phép được suy nghĩ một thời gian, rồi sẽ xin phúc đáp. Mong Cụ Cố Vấn hiểu cho như vậy.

Tôi liếc thấy ông Nhu hơi bối rối. Ông đốt một điếu thuốc lá Mélia vàng, rồi cùng chúng tôi nhấm nháp cà phê. Tôi cần nói rõ, sở dĩ tôi kín đáo khuyên lơn Tướng Thế như trên, không phải vì tôi không có lòng tin tưởng nơi lời nói của ông Nhu, cũng không phải tôi không muốn cho Tướng Thế nhận lời mời hợp tác với chính quyền. Mà chính là vì tôi khá lo sợ khi nghĩ riêng tới vấn đề nội bộ đoàn thể. Đây mới là then chốt. Đã đành là Tướng Thế, với địa vị lãnh đạo tối cao của đoàn thể, có toàn quyền định đoạt hợp tác hay không hợp tác, có toàn quyền trả lời ông Nhu dứt khoát ngay trong đêm đó. Nhưng tôi e, khi ông đã trót nhận lời rồi, mà nhỡ anh em chiến sĩ Liên Minh lại không khứng chịu con đường hợp tác ấy, thì còn biết ăn nói làm sao đây? Việc này có thể xảy ra lắm, mà nếu đã xảy ra rồi, thì Tướng Thế sẽ không làm gì được. Ông không thể cưỡng bách tất cả mọi người, cũng không thể giết bỏ cả một lượt để chỉ còn lại một mình ông. Rút cục là tan rã. Tôi lo sợ không phải không có lý. Vì ngày xưa kéo nhau ra bưng biền, Tướng Thế có hẹn là chỉ trở về khi thành công trong mục tiêu diệt cộng, chống Pháp. Nay nước nhà vừa bị chia đôi, cộng sản vẫn còn nằm đó. Pháp cũng chưa đi, sao gọi là thành công được? Lời nói của vị lãnh tụ không thể một sớm một chiều mà thay đổi. Nếu anh em cứ vịn vào đấy mà phản đối công cuộc hợp tác, thì còn tai hại nào hơn nữa? Phải nói trắng ra rằng, anh em chiến sĩ Liên Minh rất hãnh diện về con đường họ đang đi, công cuộc họ đang theo đuổi. Dù muốn dù không, nhà lãnh đạo phải kính nể họ. Tôi chắc Tướng Thế cũng đã thấu hiểu điều đó hơn ai hết. Tôi thành thực thú nhận là khi ngăn chặn câu trả lời của Tướng Thế, tôi không khỏi hổ thẹn với lương tâm mình. Là vì, như tôi đã trình bày trong một đoạn trước, tình cảnh Liên Minh đang hết sức nguy khốn. Sau Hiệp Định Genève, cả cộng sản lẫn Pháp đều rảnh tay, chúng sẽ cùng quay lại bao vây chúng tôi để tiêu diệt một cách dễ dàng. Chúng tôi đang lo sợ, đang tìm nẻo thoát gọng kìm thực cộng. Vậy nay nhất đán được chính phủ Ngô Đình Diệm mời về hợp tác, thì có khác nào đang "buồn ngủ gặp chiếu manh", sao lại từ chối? Phải chăng tôi đã phản lại ý mình mong muốn? Vâng, tôi đã tự nguyện phản lại ý muốn ấy trong giây phút kịp suy nghĩ về mối hậu họa tày trời, nó còn đau đớn tang thương hơn cái hoàn cảnh lưỡng đầu thọ địch.

Tóm lại, cuộc hội đàm sơ bộ giữa phái đoàn của ông Ngô Đình Nhu với chúng tôi đã diễn ra thật ngắn ngủi, nếu chỉ kể về phần nội dung. Câu chuyện kể như chưa ngã ngũ ra sao cả. Đêm ấy, ông Nhu ngủ lại Vườn Chuối. Dù sang cả tới đâu, ông cũng không tìm đâu ra được giường nệm chiếu êm. Ông đành phải nằm cạnh tôi trên một chiếc sạp bằng cây cau trải đệm lót. Nhưng ông Nhu không vội ngủ. Ông tỏ ra kích thích trước cảnh sống rừng bụi. Ông diễn tả hoàn cảnh lao đao của chính quyền hiện tại, rồi bảo tôi: - Các anh em sống ở đây sung sướng quá, đầu đội trời chân đạp đất, thênh thang một mình một cõi. Chả bù với chúng tôi ở Saigon, đêm đêm cứ phải đi ngủ nhờ chỗ lạ, lo ngại bất trắc từng phút từng giờ. Tôi hơi lấy làm lạ, hỏi lý do, thì ông cho biết đại để là Bình Xuyên đang nắm trọn quyền công an, cảnh sát, làm khó dễ chính phủ đủ điều. Còn nhóm Nguyễn Văn Hinh thì làm chủ được Đài Phát Thanh Quân Đội, ngày đêm chửi rủa chính quyền thậm tệ. Nguyễn Văn Hinh bấy giờ là Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Quốc Gia, lại là "con đẻ" của Pháp, nên tha hồ làm mưa làm gió. Bộ hạ Hinh dùng làn sóng điện, mô tả Thủ Tướng Ngô Đình Diệm là "Một ông Thầy Giòng cô độc, về tới Saigon chỉ có một chiếc va li quần áo trên tay!" Nhóm Hinh lại đe dọa bắt cóc hoặc ám sát người trong Chính phủ. Nên bản thân ông Nhu - theo lời ông thuật lại với tôi - cứ phải ngày thì làm việc trong Dinh Gia Long (hồi mới về chấp chính, Thủ Tướng Diệm và ông Nhu đều ở tại Dinh Gia Long. Mãi gần cuối năm 1954. Cao Uỷ cuối cùng của Pháp là Tướng Ely mới chịu trao trả Dinh Độc Lập trong một buổi lễ đặc biệt, và với một bài diễn văn bất hủ, bài diễn văn mang nặng những lời xỏ xiên thống mạ chưa từng thấy trong lịch sử bang giao quốc tế), đêm thì lén ra ngủ nhờ nhà một người bà con tại đường Nguyễn văn Tráng, gần ga xe lửa.

Bị kích thích bởi câu chuyện khá lạ lùng của ông Nhu, tôi bỗng ngồi dậy hỏi ông:

''Tại sao Cụ Thủ Tướng lại không cách chức ông Bộ Trưởng Thông tin đi cho rồi? Ông ta ngồi đó làm gì mà để cho nhóm Nguyễn Văn Hinh tung hoành như thế?'' Ông Nhu cũng ngồi lên theo, và nói: - Mình nên thông cảm cho ông ấy. Thật khó mà làm gì được bọn tay chân ấy của Pháp! Tôi hơi bốc đồng, chợt đưa ra ý kiến táo bạo: - Nếu thế, tôi đề nghị đưa cả Chính Phủ lên đây. Chúng tôi sẵn sàng bảo vệ! (Tình cờ, tôi còn giữ được cuốn sổ tay kỷ niệm 30 năm cũ, bên trong tôi có ghi lại cuộc gặp gỡ và câu nói này) ông Nhu cười: - Rồi Chính phủ làm sao làm việc hàng ngày? Ông Nhu lại vui miệng kể tiếp về hành động của cựu Thủ Tướng Bửu Lộc trong thời gian 30 ngày xử lý thường vụ. "Bửu Lộc vét sạch hết ngân khố - lời ông Nhu nói - bày ra lắm chuyện buồn cười và phi pháp, để tiêu xài cho hết của công, chẳng để lại cho chính phủ mới một ngân khoản nào cả. Thật rõ ràng là cái lối vơ vét chợ chiều!". Ông Cố vấn còn than thở về cái nông nỗi Đại Sứ Việt Nam tại Bangkok tự tiện bán cả xe hơi lẫn dụng cụ văn phòng của Tòa Đại Sứ, lấy tiền bỏ túi. Và còn dám ngang nhiên "làm tình" với phụ nữ trong chỗ làm việc! Giọng ông Nhu cứ đều đều, nhỏ nhẻ hơi khó nghe, nhưng ông không dấu nổi sự ghê tởm của ông đối với các sự việc vừa kể trên. Chợt ông quay ra hỏi tôi một câu: - Anh có biết tố khổ là gì không? Tôi thú thực tôi chưa từng nghe tiếng ấy bao giờ. Ông Nhu bèn giải thích về cái chính sách đấu tố cường hào địa chủ của bọn Trường Chinh ngoài Bắc. Thời gian ấy, chúng tôi đang ở trong rừng, ít được biết tin tức bên ngoài. Thành thử chính ông Nhu là người đầu tiên đã đặt vào tai tôi hai tiếng "Tố khổ''. Chúng tôi thức nói chuyện thầm thì với nhau mãi gần tới sáng.

Phái đoàn ông cố Vấn Ngô Đình Nhu được thiết đãi điểm tâm bằng cà phê sữa với "giò cháo quảy". Ông Nhu không hề kiểu cách. Riêng lòng tôi thấy ông thật bình dân và dễ mến. Ông ăn nói rất điềm đạm, và khi đề cập tới chuyện gì quan trọng, thì ông hết sức lựa lời và phát biểu chậm rãi, không có vẻ gì là người đang nắm một vai trò then chốt trong chính quyền cả. Với mái tóc hơi cao, với điếu thuốc Mélia vàng cắm trong cái tẩu ngắn bằng xương, tôi thấy ông mường tượng một nhà giáo hơn là một nhà chính trị.

Sau chuyến viếng thăm có tính cách lịch sử ấy, ông Ngô Đình Nhu còn trở lại nhiều lần, và bao giờ cũng có Huỳnh Hữu Nghĩa hoặc Lê Văn Đồng đi theo. Dĩ nhiên sự đi lại của ông Nhu không ngoài mục đích dẫn giắt cuộc vận động tới chỗ cụ thể hóa vấn đề hợp tác. Trong khi ấy, thì về phía Liên Minh, bầu không khí trở nên ứ động. Từ sau cái đêm tiếp xúc lần đầu với phái đoàn Ngô Đình Nhu, tôi thấy Tướng Thế trở nên thâm trầm, kín đáo hơn. Dường như ông có vẻ thẹn thuồng về một điều gì, và luôn luôn cố tránh nhắc nhở tới câu chuyện hợp tác. Tôi ngầm hiểu là ông vẫn còn suy nghĩ về cái "hất chân" của tôi trong đêm nọ. Vô tình giữa ông với tôi như có sự dò xét lẫn nhau, mà chẳng bên nào nói thẳng ra. Sống gần nhau, tôi hiểu tính ông, lòng tự ái của nhà tướng lĩnh hẳn đã hơn một lần bị thương tổn. Càng tiếp xúc với các nhân vật chính quyền bao nhiêu, ông càng đâm lo ngại anh em, kể cả tôi, xem ông như đã chán chường cuộc đời vào sinh ra tử, như đã ham mê những quyến rũ vật chất bên ngoài, mà sửa soạn lìa bỏ Núi Bà, lìa bỏ Bù Lu! Kết nghĩa với nhau bao nhiêu năm, tới lúc này chúng tôi mới thật sự trải qua những giây phút căng thẳng.

Dù muốn dù không, anh em Liên Minh cũng đã biết chuyện, và bàn tán xôn xao về cái mà họ gọi là "Liên Minh sắp về thành!" Trung Tá Nguyễn Trung Thừa là người đầu tiên chạy về Bộ Tư Lệnh hỏi tôi xem có phải sự thật như thế không? Tôi thấy mặt ông đầy vẻ lo ngại, không biết ông phản ứng cách nào, nên cũng không dám nói cả sự thật. Tôi càng thêm lo ngại là nếu mai sau có làm sao, anh em sẽ đổ tội cho tôi biết chuyện mà cố tình dấu diếm họ. Hoàn cảnh tôi lúc ấy thật hết sức khó xử. Cũng chẳng dám đem vấn đề ra bàn bạc với mấy người anh em thân tín nhất hàng ngày như Thiếu Tá Hồ Đức Trung, Thiếu Tá Nguyễn Văn Đờn. Thường nhật, chúng tôi rất cởi mở với nhau, thân nhau cho đến nỗi Đờn yêu cầu tôi gọi ông bằng "Chú", và cả hai người đều luôn luôn dành cho tôi cái biệt hiệu "ông Râu!" Ấy thế mà ngày nay đúng trước câu chuyện cố tính cách tử sinh, thì ai nấy lại đâm ra dè dặt, úp mở. Chưa bao giờ bầu không khí nội bộ Liên Minh lại khó thở như thế. Nên biết là trong một đoàn thể cách mạng võ trang, sự sơ ý vụng về sẽ dễ đưa tới thiệt hại bản thân, sẽ khiến cho kẻ bị hiểu lầm rơi vào một hoàn cảnh hết sức nguy hiểm. Tôi biết rõ điều đó hơn ai hết, nên cố dành hết thì giờ vào các công việc thường lệ.

Từ ngày rút Bộ Tư Lệnh về Vườn Chuối, Tướng Thế tự nhiên truất quyền Đổng Lý Văn Phòng của Thiếu Tá Nguyễn Văn Đờn, và giao hẳn cho tôi quyền điều động đoàn quân Bản Bộ, quyền trông nom Văn Phòng, và cả quyền nắm giữ tài chính. Thiếu Tá Đờn không được theo về Vườn Chuối mà phải ở lại Núi Bà Đen. Với bao nhiêu thắc mắc trong lòng, tôi kín đáo tìm hiểu lý do của sự thay đổi lạ lùng này. Nên biết rằng Nguyễn Văn Đờn và Hồ Đức Trung xưa nay vốn là những tay thân tín nhất của Tướng Thế, vì vậy mà họ được giao cho nắm giữ những vai trò then chốt ngay từ buổi đầu thành lập chiến khu. Vậy tại sao Đờn bị thất sủng? Phải có lý do chính đáng.

Thì ra, xuyên qua vài ba câu úp mở của Tướng Thế, tôi được biết Đờn đã phạm hai điều lầm lỗi mà Tướng Thế không muốn tha thứ. Một là Đờn tỏ ra thiếu minh bạch trong việc tiền nong của đoàn thể. Trong giai đoạn cuối cùng ở chiến khu, Đờn hơi tung hoành trong công cuộc thu góp tiền bạc ủng hộ của dân chúng bên ngoài. Tướng Thế được báo cáo, ông giả bộ bảo Đờn trích ra một ngân khoản cho ông thi hành một kế hoạch. Nhưng Đờn từ chối, khiến Tướng Thế để bụng. Điều thứ hai là Đờn vô tình phạm tội hủ hóa và hình thức quá đáng. Trên Núi Bà Đen sẵn có những loại gỗ quý mà đồng bào được phép khai thác. Đờn bèn xử dụng kho tàng ấy, dựng lên một Văn Phòng rất quy mô, cả sàn nhà và bốn mặt vách đều bằng những tấm ván dên dên, mà theo vật giá ngoài thành thì có tới hàng vạn bạc! Cái nếp sống phô trương chưa phải lúc ấy quả đã không hợp lòng Tướng Thế, một con người nổi tiếng bình dân, khiêm tốn và chịu đựng. Điều này chứng tỏ Tướng Thế tuy tin người, nhưng sẵn sàng trị tội người một cách nghiêm khắc.

Sự thay đổi nhiệm vụ giữa Đờn với tôi càng đưa tôi vào một tình thế rất nguy hiểm. Tôi khá buồn lòng nhưng vẫn phải nhận. Trong số các nhiệm vụ mới đặt trên vai, tôi kiêm cả việc chủ tọa những buổi lễ quân cách thăng cấp bực cho anh em, nhân danh Tổng Tư Lệnh Liên Minh tự tay ban thưởng một số sĩ quan có thành tích. Tôi cần nói rõ là trong một đoàn thể cách mạng võ trang, kẻ nắm quyền lãnh đạo tối cao không có tiền bạc, không có chức chưởng, không có quyền lợi gì hấp dẫn để ban phát cho anh em chiến sĩ. Chỉ có chút thăng thưởng cấp bực để làm họ vui lòng và hãnh diện với đồng đội mà thôi. Mà sự thăng thưởng kia cũng không phải dễ kiếm, ít nhất cũng phải đổi ba năm mới có một lần qua những tiêu chuẩn rất gay gắt. Trong suốt 5 năm trời vào sinh ra tử, chỉ một mình Trung Tá Văn Thành Cao được thăng cấp Đại Tá trong một trường hợp rất đặc biệt, còn bao nhiêu ông khác đều giữ nguyên cấp bực cũ cho tới khi về thành. Do đó mà sự thăng thưởng rất có giá trị, rất có ý nghĩa.

Theo truyền thống nội bộ, khi Bộ Tư Lệnh muốn thăng thưởng ai, thì Bộ Tư Lệnh phải tổ chức một buổi lễ long trọng theo quân cách, phải sắm trước cấp hiệu, mũ áo để ban cho người ấy. Chứ họ không phải tự mình sắm sửa lấy rồi đeo lên vai một cách âm thầm. Tôi nói ra điều này nhầm đính chính những lời đồn đãi sai lầm trong dư luận, cho rằng các lực lượng chiến đấu ngoài bưng biền thường phong chức tước bừa bãi cho nhau, ai muốn đeo cấp bực gì cũng được. Liên Minh không hề làm như vậy. Bởi lẽ Liên Minh không có ý định phô trương với ai khác, mà chỉ muốn chứng tỏ cho anh em trong đoàn thể thấy rằng những người được chỉ định trực tiếp chỉ huy họ trong công cuộc chiến đấu quả thật xứng đáng với trách vụ.

Tóm lại, trong giai đoạn Vườn Chuối, nội bộ liên Minh đã có thay đổi lớn. Thiếu Tá Hồ Đức Trung không còn trực tiếp điều khiển Đài Phát Thanh trên Chùa Hang nữa, mà bị rút về Vườn Chuối phụ trách việc liên lạc với chính quyền, với đoàn thể Cao Đài. Công Binh xưởng Liên Minh mở mang thành một nhà máy tối tân tọa lạc gần cầu Kỹ Nghệ, trang bị nhiều bộ phận đắt giá nhằm sản xuất vũ khí hàng loạt.

Trong thời gian chờ đợi cuộc tiếp xúc giữa Chính quyền và Liên Minh đi tới kết quả, một sự việc "bên lề" đã xảy ra, vô tình giúp cho mối liên lạc giữa đôi bên thêm khắn khít. Số là hồi ấy đang có phong trào di dân vĩ đại từ Bắc vào Nam. Chính quyền Ngô Đình Diệm yêu cầu các đoàn thể tham chính như Cao Đài, Hòa Hảo, tiếp tay trong việc tiếp đón và định cư một số lớn các gia đình mới từ Bắc chạy vào Nam. Liên Minh tuy không liên hệ gì tới Chính quyền, song cũng được Thủ Tướng Ngô Đình Diệm yêu cầu nhận giúp cho một số nào đó. Chúng tôi thấy vấn đề mang nặng tính cách xã hội cấp bách, lại nằm trong đường lối chống cộng gom dân, nên vội họp bàn với nhau, duyệt xét qua các điều kiện sở đắc chủ quan, rồi quyết định đón tiếp riêng cho phần mình 10.000 đồng bào di cư. Chính phủ Diệm rất vui mừng, bèn sai Tổng Uỷ Phủ Di cư chiếu theo các luật lệ hiện hành, các tiêu chuẩn đang được áp dụng, cấp cho chúng tôi một ngân khoản 5 triệu bạc. Số tiền này được dùng để xây cất nhà cửa, đào giếng nước, lập Nhà Thờ, mở trường học, mở phòng phát thuốc cho bệnh nhân, và khai phá sẵn một số diện tích rừng rú để làm vườn ruộng cho các gia đình di cư.

Bỗng nhiên mà anh em Liên Minh lại đâm ra bận rộn vất vả. Chúng tôi không nhờ vả tới ai, mà tự mình đảm đang các công việc kể trên. Phần tôi lại phải chịu trách nhiệm trực tiếp về món tiền 5 triệu bạc. Trong Văn phòng không có chỗ nào an toàn hơn một chiếc bàn viết với cái ngăn kéo nhỏ. Tôi nhận tiền rồi cho cả vào đấy. Lại phải nhờ tới một số sĩ quan đáng tin cậy đếm hộ tiền trước khi đem phân phát cho các đơn vị đã được giao phó công tác.

Thành thật mà nói, anh em chiến sĩ "Liên Minh đã lấy công làm lãi", trừ mọi khoản chi phí, cũng còn thừa chút đỉnh cho mọi người mua sắm thực phẩm, mắm muối. Đó là lần đầu tiên, chúng tôi gián tiếp "ăn tiền" chính phủ.

Cuộc đời cứ cởi mở dần ra, cái may liên tiếp đến. Cũng trong thời gian này, Tướng Nguyễn Thành Phương lại cho mượn một chiếc xe Jeep để làm phương tiện. Tuy vậy Tướng Thế với anh em chúng tôi cũng chả dám đi đâu xa, chỉ loanh quanh trong vùng Thánh Địa. Lúc mát mặt, chẳng dám quên buổi cơ hàn. Còn nhớ cái đêm chúng tôi theo Tướng Thế lén lút về thăm gia đinh ông. Cả bọn chen nhau trên một chiếc ''xe lôi'', chiếc xe kiểu quê mùa mộc mạc có hai ghế ngồi đối diện nhau, móc vào một chiếc xe đạp do người phu xe điều khiển. Xe chạy lọc cọc trên con đường đất đỏ. Vậy mà chúng tôi cảm thấy cuộc đời ''trưởng giả" làm sao. Người anh em ngồi bên cạnh tôi nghiêng tai nói nhỏ: "Ngộp quá", ý nói xe chạy " quá nhanh", anh ta thấy chóng mặt! Lại một lần khác, chúng tôi hành quân ban đêm xuyên qua con đường quốc lộ Sàigòn - Tây Ninh. Từ chỗ đầm lầy vừa đặt chân lên tới mặt đường, anh Nguyễn Văn Phưong bỗng ngồi bệt xuống, đưa hai tay sờ soạn như tìm kiếm vật gì. Tôi lấy làm lạ hỏi, thì anh xuýt xoa đáp khẽ: "Chao ôi! Mặt đường sao mà phẳng phiu mát mẻ quá thế này! Xin cho tôi ngồi lại đây một tí, kẻo mấy khi mà gặp lại nó!" Lời nói của anh quả thật thấm thía. Một người từng sống giữa đất Hà Thành hoa lệ, nay gặp con đường giải nhựa, không đành dạ bỏ đi! Lại một người từng đủng đỉnh ngựa xe, nay ngồi trên chiếc "xe lôi" cọc cạch, lại cảm thấy chóng mặt.

Nhắc tới Nguyễn Văn Phương, tôi không thể bỏ qua một chuyện khôi hài khác về con người này. Cũng trong cuộc hành quân vừa kể, chúng tôi gặp mùa nước lũ. Cả cánh đồng biến thành giòng sông mênh mông, ở một vài nơi, nước ngập quá rốn. Nguyễn Văn Phương sợ ướt quần, bèn cởi phăng ra vắt lên cổ, rồi đi trước mọi người như ông Adam, chẳng sợ ai chê cười gì cả. Nhưng bỗng nhiên tôi thấy anh một mình quay ngược trở lại con đường cũ, hai chân như dò kiếm vật gì dưới nước. Thì ra, anh đánh rơi mất cái gắp đạn của khẩu súng Thompson. Anh sợ bị trừng phạt, nên mặt mày hớt hải, quyết tìm cho bằng được. Bất ngờ, ngay lúc ấy, một toán nữ binh vừa đi tới.

Phương chợt nhớ tới tấm thân lõa lồ của mình, thì càng hoảng vía hơn lên. Rủi cho anh, tại quãng đường ấy, nước lại chỉ ngập tới nửa ống chân mà thôi, khiến anh không biết làm sao hơn, bèn ngồi thụp xuống vũng bùn, mặt quay về hướng khác. Toán nữ binh kêu la oai oái, chúng tôi cười một bữa no bụng. Khi đoàn nữ binh qua rồi, Phương mới đứng lên, và nhe răng ra cười, bảo: '' Rủi mà hóa ra may. Tôi vừa tìm thấy cái gắp đạn ngay ở chỗ tôi ngồi! Nếu để mất nó, Ngài Thiếu Tướng sẽ ...làm thịt tôi ngay tức khắc!". Anh chàng này, ngoài cái ''đức'' hy sinh dám ăn thịt thằn lằn đen trên Núi Bà, lại còn có cái nết lười biếng và ở bẩn số một. Tôi thấy anh một hôm đi công tác về, quần áo ướt đẫm và dính đầy bùn. Anh thay nó xa, vất ngay trên đầu giường ngủ. Mấy hôm sau, anh lại bị ướt nước mưa. Anh nhìn quanh quất một hồi không thấy cái gì khác để thay đổi, bèn nhặt bộ quần áo dơ bẩn cũ kia lên, ngửi thử một chút, rồi mặc vào mình một cách rất ư là ... thoải mái. Tuy ở bẩn như thế, nhưng lại rất can đảm chịu cực chịu khó, chơi cờ rất có thủ đoạn. Có hôm, anh ta ''gà'' hộ cho Thiếu Tá Nguyễn Văn Đờn thắng ông Tham Mưu Trưởng Trương Lương Thiện luôn ba bàn một lượt. Thắng xong, Đờn đột ngột tuyên bố chấm dứt, bất kể lời yêu cầu của đối phương đòi chơi thêm cho ông ta gỡ. Đờn vụt đứng lên, bỏ chạy ra ngoài rừng. Ông Trung Tá Trương Lương Thiện vừa đuổi theo, vừa quát: ''Mày mà không vào đánh tiếp cho tao gỡ ...thì mày ... chết! Mày có vào không, hả Đờn?'' Đờn vẫn cứ cắm đầu chạy, hai người đuổi bắt nhau ào ào trong rừng, chúng tôi lại được một trận cười chảy cả nước mắt. Cái lối chơi cờ của người Liên Minh cũng thật hiếm có trên đời. Thường thì kẻ chủ cuộc thắng chẳng bao giờ đi được một nước nào của riêng mình cả. Vì thiên hạ xúm nhau vào, đứng chật cả đôi bên. Kẻ đề nghị đi nước này, người lại bảo nên đi nước khác. Kẻ này đòi tiến lên, người kia lại cứ đòi rút xuống, la hét như giặc chôm. Đêm khuya thanh vắng giữa chốn rừng già, chợt nghe tiếng hò hét vang lên, tưởng đâu căn cứ bị địch tấn công.

Trở lại câu chuyện hợp tác với chính quyền Ngô Đình Diệm. Dù rằng giữa tôi với Tướng Thế có sự âm thầm dò xét lẫn nhau, nhưng trên thực tế, chúng tôi mặc nhiên coi như đã đồng ý với nhau rồi. Một hôm, tôi lái xe Jeep, có Tướng Thế ngồi bên cạnh, cùng "đi xóm" với nhau trong vùng Tòa Thánh Tây Ninh (hai tiếng "đi xóm" dùng ám chỉ công tác bí mật quân sự). Chúng tôi chợt trông thấy cờ xí biểu ngữ treo trên đường. Hỏi ra mới biết là Tòa Thánh sắp đón tiếp một nhân vật cao cấp chính quyền là Bác Sĩ Phạm Hữu Chương, Bộ Trưởng Xã Hội. Tướng Thế chợt lộ vẻ đăm chiêu một lát, rồi bỗng đưa ra ý kiến "bắt giữ" ông Bộ Trưởng kia. Tại sao lại có sự lạ lùng như thế? Số là, cách đó ít lâu, Bác sĩ Phạm Hữu Chương, người đang đứng địa vị chính quyền, lại bí mật cho người liên lạc với Tướng Thế, đề nghị với Tướng Thế nên chọn con đường thân Pháp thì hơn. Nghĩa là nên phá hủy kế hoạch hợp tác với chính quyền Ngô Đình Diệm hiện hữu, để quay ra bắt tay với Pháp, xây dựng một lá bài khác! Tướng Thế giận lắm, nhưng vẫn cứ làm mặt ưng thuận, để xem người liên lạc của Bác sĩ Chương còn tiết lộ thêm âm mưu nào khác nữa. Không ngờ hôm nay Bác sĩ Chương lại nhân danh chính quyền, lén thăm Thánh Địa.

Tướng Thế hỏi tôi: "Anh nghĩ thế nào? Anh đồng ý bắt giữ chứ?" Tôi không ngần ngại gật đầu ngay tức khắc, vì tôi không thế nào tha thứ một ông Bộ Trưởng phản nghịch "ăn cháo đái bát" như thế được. Thế là chúng tôi liền bỏ dở công việc "đi xóm", gấp rút trở về Bộ Tư Lệnh, phân công tác cho nhau. Phần Tướng Thế thì hạ lệnh cho kẻ thân tín - Trung Uý Tạ Thành Long - lo bố trí cách bắt giữ con mồi, đồng thời lo chuẩn bị đặt máy thu băng dưới mặt bàn xa lông, nơi Bác sĩ Chương sẽ được tiếp kiến. Còn tôi thì vội vàng lập bản "Cáo trạng" lên án Bác sĩ Chương, sai in cấp tốc cho kịp rải khắp Tòa Thánh nội buổi chiều hôm ấy.

Theo kế hoạch dự trù, Trung Uý Tạ Thành Long được phái ra Thánh Địa, xin phép ban tổ chức cuộc đón tiếp Bác sĩ Phạm Hữu Chương để được "truyền khẩu" một việc riêng của "Ngài Thiếu Tướng Trình Minh Thế'' với ông Bộ Trưởng. Quý vị trong ban tổ chức nghe nhắc tới tên Tướng Thế, thì không dám làm khó dễ điều gì cả. Long bèn nghiêng tai nói nhỏ vài câu, khiến Bác sĩ Chương gật đầu lia lịa ra vẻ hết sức vui mừng, rồi ông này bất chấp cả lễ nghi, đứng dậy cáo lỗi cùng quý vị Chức Sắc Cao Đài, nói là đi có chút việc cần trong chốc lát. Mọi người ngơ ngác, nhưng ông Bộ Trưởng cứ thản nhiên như không, nhanh nhẹn theo Long, nhảy lên xe Jeep.

Vào tới Vườn Chuối, Bác sĩ Phạm Hữu Chương được chúng tôi đón tiếp "thân mật" tại căn lều riêng của Tướng Thế. Chỉ một vài câu xã giao thường lệ, là Tướng Thế đi ngay vào câu chuyện, yêu cầu Bác Sĩ Phạm Hữu Chương đích thân lặp lại đề nghị "thân Pháp" của ông với đầy đủ chi tiết. Nói là có như thế thì mới "đủ yếu tố" tin cậy nhau để hoạt động sau này, chứ lời nói của người trung gian chưa đủ cân lượng đối với một vấn đề trọng đại và bí mật.

Bác sĩ Chường vô tình nào có biết ông đang bị "gài bẫy bắt quả tang", nên ông cứ thao thao bất tuyệt, trút hết can tràng về cái âm mưu của ông nhằm dùng bàn tay Pháp phá hoại và lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm. Ông mắc cái tật nói ngọng nên rất khó nghe. Tuy úp mở mặc dầu, người ta cũng biết ông có xu hướng bảo hoàng, đứng về phe Bảo Đại, và cũng đã từng có mối liên lạc chặt chẽ với cánh Bình Xuyên của Tướng Lê Văn Viễn. Chúng tôi thực không biết ông hy vọng nắm giữ chức vụ gì trong chính quyền Bảo Đại tương lai, mà xem ông có vẻ hăng say lắm, trong khi ông đương là Bộ Trưởng Xã Hội trong nội các Ngô Đình Diệm, một địa vị chẳng phải tầm thường. Nói là kế hoạch, song thực ra, ông Phạm Hữu Chương cũng chả có kế hoạch gì cụ thể cả. Trước sau chỉ là cái ý kiến tầm thường "đừng chơi với ông Diệm nữa" để ông ấy yếu thế mà đầu hàng trước áp lực của Pháp qua bàn tay Bình Xuyên. Chắc là ông Bộ Trưởng quá bận nghĩ tới quyền lợi cá nhân mình, mà quên không thèm đề cập nhắc nhở gì tới Tướng Thế, không cho biết Tướng Thế sẽ làm cái "nghề ngỗng" gì, sau khi bỏ Thủ Tướng Diệm để chạy theo Pháp. Tuy nhiên, Tướng Thế cũng chả bận lòng về chuyện ấy, và cứ cười nói thân mật để nghe Bác sĩ Chương ca cho hết "bài ca thân Pháp" của ông.

Với giọng nói ngọng nghịu buồn cười, Bác sĩ Chương bảo Tướng Thế một câu cuối cùng: - Cúng côi thẻ hết khúc ủng kộ Khiếu Tướng. (Chúng tôi sẽ hết sức ủng hộ Thiếu Tướng). Rồi ông toan đứng lên từ biệt, để còn trở ra bàn bạc chuyện chính quyền với Tòa Thánh. Tới lúc ấy, Tướng Thế vẫn hãy còn ngọt nhạt: - Xin mời ông Bộ Trưởng ở lại chơi đã. Bác sĩ Chương xem đồng hồ, rồi nói: -Xin gỗi, côi phải đi kẻo trễ lắm gồi. (Xin lỗi, tôi phải đi kẻo trễ lắm rồi). Bấy giờ Tướng Thế mới nghiêm nét mặt, nói như ra lệnh: - Rất tiếc, ông Bộ Trưởng không thể đi được. Chúng tôi quyết định bắt giữ ông, về cái tội ông đã đích thân vào đây xúi giục anh em chúng tôi làm tay sai cho Pháp. Tôi tưởng chưa bao giờ ông Bác sĩ Chương hoảng sợ bằng lúc đó. Mặt ông chợt tái xanh như tàu lá chuối, ông ấp úng không ra lời, và miệng ông cứ há hốc ra:

- Khiếu Tướng định bắt gữ côi? (Thiếu Tướng định bắt giữ tôi?) Tướng Thế gật, với nét mặt lạnh như tiền - Vâng, thưa ông, chúng tôi không thể để ông về được, và chắc là ông còn phải ở lại đây một thời gian vô hạn định. Nói xong, Tướng Thế gọi người chuyên viên vào phòng khách, tháo cái máy thu băng được gài một cách khéo léo dưới mặt bàn ra, rồi mở máy cho Bác sĩ Chương nghe lại từ đầu tới cuối những gì ông đã nói. Tới lúc này thì Bác Sĩ Chương thật sự không còn hồn vía nào nữa. Ông ngồi ôm mặt khóc như một đưá trẻ. Bao nhiêu mộng đẹp của ông tiêu tan theo mây khói. Chắc ông đang nghĩ tới cái ghế Bộ Trưởng của mình mà hối tiếc, nhưng đã quá muộn. Tang chứng còn rành rành ra đó, còn chối cải vào đâu được nữa. Thú thật, chính chúng tôi cũng thấy tội nghiệp cho ông, không tưởng tượng nổi sự khờ dại và sự nông nổi quá mức đã đưa ông một bước tới tan tành sự nghiệp chính trị. Riêng tôi thiết nghỉ, đây cũng là bằng chứng về thái độ kiêu căng của một số chính khách Việt Nam buổi đương thời. Họ kiêu căng tự phụ cho đến nỗi họ coi khinh một người như Trình Minh Thế, cứ tưởng Thế là hạng vô bằng cấp, võ biền, nào có gì đáng sợ? Chính cái tấm lòng khinh khi cố hữu ấy đã khiến ông Bác sĩ Phạm Hữu Chương dám trắng trợn thuyết phục một nhà cách mạng lừng danh vứt bỏ cả sự nghiệp hiển hách của họ để trở lại cúi đầu làm một thứ tay sai hèn mạt cho kẻ thù cướp nước. Thật là một bài học đáng giá.

Sau đó, Bác sĩ Phạm Hữu Chương liền được đưa đi giam giữ mãi trên đỉnh Núi Heo để chịu sự thẩm vấn của chính tôi. Hàng đêm, dưới tiếng sương rơi lộp độp ngoài rừng, ông được đánh thức dậy để làm bản tự thuật hết trang giấy này tới trang giấy khác. Cả cuộc đời chính trị của ông đã hiện ra nguyên vẹn dưới ngòi bút ông viết, một cuộc đời đầy dẫy những hành động chẳng tốt đẹp gì đối với quê hương xứ sở. Con đường thân Pháp của ông bắt đầu từ khi ông còn ở đất Bắc, nhưng ông khéo léo bao bọc cách nào mà cả Thủ Tướng Diệm lẫn ông Cố vấn Nhu đều bị lừa bịp, mời ông tham chính, cho ông hưởng một địa vị sang cả. Khi đọc bản tự thuật dày cộm của ông, tôi đã sửng sốt ngồi nhìn ông, lắc đầu chán ngán trước con người đáng lẽ đã được tôi kính trọng ở cái trình độ học vấn và ở địa vị xã hội hiện hữu. Nếu không nhờ cái màn "gài bẫy" kia để biết sự thật, thì biết đâu ông Bác sĩ Chương lại chả tiếp tục đóng vai chính khách, hô hào nọ kia để lừa gạt dư luận? Trong ba tháng trời cầm chân ông trên đỉnh Núi Heo, chúng tôi vẫn không hề đối xử tệ bạc với ông, không dùng hình phạt tra tấn, mà chỉ thân mật kêu gọi ông hãy cố gắng tự mình nói rõ về cuộc đời mình. Chúng tôi vẫn chia sớt đồng đều với ông các điều kiện khá đắt của cuộc đời thiếu thốn nơi rừng núi. Nói nôm na là chúng tôi ăn uống như thế nào, thì ông cũng ăn uống như thế ấy. Ông bị chứng sốt rét nặng như tất cả mọi người khác.

Nhắc lại là khi Tòa Thánh đợi mãi không thấy ông Bộ Trưởng Xã Hội trở ra, thì liền đánh bạo sai người liên lạc vào Vườn Chuối hỏi thăm tin tức. Tới khi được biết ông Bộ Trưởng bị Liên Minh bắt cầm tù, thì cả vùng Tòa Thánh như lên cơn sốt. Các vị Chức Sắc cao cấp cố sức vận động để giải thoát Bác sĩ Chương, nhưng vô hiệu, bèn trình lên Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc xin nhờ Ngài can thiệp. Nhưng lúc bấy giờ nghe nói Đức Hộ Pháp đang công du bên Pháp, thành thử vấn đề bị bế tắc. Nội nhật hôm ấy, tin đã về tới tai Thủ Tướng Ngô Đình Diệm. Thủ Tướng chưa hiểu sự việc ra sao, bèn sai Lê Văn Đồng lên Vườn Chuối gặp Tướng Thế, rồi khi đã nghe rõ nội dung cuộc đàm đạo của Bác sĩ Chương trong cuốn băng nhựa, Thủ Tướng cũng nổi giận bỏ rơi luôn ông Bác sĩ Chương, cứ để mặc Tướng Thế muốn làm sao thì làm. Gia đình Bác sĩ Chương cũng hết sức hoảng kinh, tìm lên Tòa Thánh bắt đền. Tòa Thánh đứng giữa một cơn khủng hoảng ngoại giao trầm trọng. Tới khi Đức Hộ Pháp hồi hương, Ngài cũng không giữ được bình tĩnh, liền tức khắc cử người có uy tín thay mặt Ngài vào điều đình với Tướng Thế, yêu cầu Tướng Thế hãy tha mạng cho tội nhân, để Tòa Thánh khỏi bị mang tiếng đồng lõa trước dư luận. Cuộc thẩm vấn Bác sĩ Chương trên đỉnh Núi Heo bấy giờ cũng đã xong, chúng tôi xét thấy ván bài của ông đã bị đánh hỏng hoàn toàn, nên không nỡ thiết lập Tòa án Quân Sự để kết tội công khai như trường hợp của Tướng Trần Quang Vinh trước đây. Chúng tôi không cần giữ ông lại, ông bèn được phóng thích qua tay Tòa Thánh, rồi trở về SaiGon, và mất hẳn chức Bộ Trưởng Xã Hội.

Chẳng nói ai cũng biết Thủ Tướng Ngô Đình Diệm rất vui mừng nhấn lấy món quà ''lật tẩy'' Bác sĩ Phạm Hữu Chương, món quà ra mắt của Tướng Thế ngay khi Tướng Thế hãy còn ở trong rừng, và cuộc vận động hợp tác cũng chưa đến đâu hết. Thủ Tướng Diệm không khỏi giật mình vì đã nuôi một con ong lớn trong tay áo. Lòng kính phục của Thủ Tướng đối với Trình Minh Thế càng tăng gia hơn trước.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG XIV
BỎ LẠI SAU LƯNG NÚI BÀ ĐEN

Việc bắt giữ Bộ Trưởng Xã Hội Phạm Hữu Chương đã gieo một ảnh hưởng tâm lý khá sâu đậm trong lòng Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, ông nhìn thấy trong công cuộc ấy tất cả sự ngay thẳng chân thành của Tướng Thế, cả cái tinh thần bất vụ lợi, khi người anh hùng Núi Bà Đen tự ý đứng ra trừ khử hộ một phần tử nguy hại cho chính quyền, mà không hề đòi hỏi một ân huệ gì đặc biệt

Vì xúc động cảm phục, và cũng vì tình thế đòi hỏi cấp bách, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm muốn cụ thể hóa ngay công cuộc hợp tác. Nhưng Tướng Thế lại xin triển hạn thêm một thời gian, vì côn nhiều vấn đề nội bộ phài giải quyết.

Bị chính quyền đuổi gấp sau lưng, bị Tướng Nguyễn Thành Phương ngày ngày thúc giục, lại bị bối rối trước những khó khăn về phía Tòa Thánh đối với vấn đề nuôi quân, chúng tôi không thể không quyết định dứt khoát một lần cho xong. Vào một ngày cuối tháng 10 năm 1954, Tướng Thế đem câu chuyện hợp tác ra nói thẳng với tôi, ngầm mong tôi thông cảm rằng ông đã suy nghĩ thật chín chắn trước khi chấp nhận lời mời của Thủ Tướng Diệm. Tôi không còn lý do gì để úp mở nữa. Và với tư cách một người có trách nhiệm về mặt chính trị của đoàn thể, tôi bày tỏ sự tán đồng của tôi bằng cách đề cập ngay tới một số công việc cần làm trước khi từ giã chiến khu. Các công việc ấy gồm có: Chính thức công bố chương trình hợp tác với chính phủ cho anh em đều biết. Tăng cường phòng thủ trong thời gian chuẩn bị kẻo dễ bị đối phương đánh úp. Và săn sóc cả những anh em đã nằm xuống trong mấy năm qua. Tôi bàn với Tướng Thế: - Ngày xưa ra đi, Ngài có nói với các anh em chiến sĩ là chỉ trở về khi thành công trong mục tiêu cách mạng chống cộng, đuổi Pháp. Ngày nay vì tình hình quân sự biến đổi sau Hiệp Định Genève, Pháp và cộng sản đều rảnh tay, chung sức lại đánh ta, ta khó lòng đương đầu nổi. Vì vậy mà tương kế tựu kế, chúng ta bất đắc dĩ đành phải chọn con đường về thành rồi sẽ liệu. Nay Ngài sắp đưa công cuộc đấu tranh xương máu sang một giai đoạn mới, chẳng những Ngài có bổn phận trình bày sự việc thật rõ ràng với các anh em còn sống sốt, mà Ngài còn có bổn phận cáo tri với cả những người đã khuất mặt, thêm cái bổn phận thiêng liêng là chu toàn mồ mả các tử sĩ trước giờ phút chúng ta lìa bỏ họ, để linh hồn họ đỡ tủi…

Nói xong, tôi thấy Tướng Thế lộ hẳn nét buồn trên gương mặt vốn đã luôn luôn ưu tư trầm lặng. Ông mau mắn gật đầu tán thưởng lời đề nghị của tôi. Thế là một mặt ông ra lệnh cho Trung Tá Tham Mưu Trưởng Trương Lương Thiên tức khắc và đích thân lo việc bốc mộ tất cả các tử sĩ, đưa về cải táng tại một khu đất bằng và rộng, nằm ngay dưới chân Núi Bà Đen. Chỗ ấy nguyên là nền "Chùa Dưới" ở về phía tay phải Núi Bà Đen từ Tòa Thánh trông lên. Từ "Chùa Dưới", có một con đường lát đá mấy trăm bực đưa lên "Chùa Giữa" và "Chùa Trên", tức là nơi có đặt tượng thờ bằng đồng đen của Đức Linh Sơn Thánh Mẫu.

Trung Tá Trương Lương Thiện đã phải mất tới gần 3 tháng mới bốc xong các ngôi mộ rải rác khắp từ rừng Bù Lu, Cai Tắc, Gò Ngải, Doi Da, lên Bưng Rồ, Trảng Sụp, Khe Đòn, Suối Vàng, Sơn Tây, đổ xuống Bời Lời, Năm Trại, Bàu Gõ v.v... tức là những nơi đã xảy ra cuộc đụng độ lưu huyết với Pháp hoặc cộng sản. Theo lời Trung Tá Thiện thuật lại, thì ông đã bắt gặp một tử sĩ mới được chôn cất dăm bảy tháng, thịt chưa rữa, xác chưa tan, khiến ông phải thân hành đặt chân xuống lòng huyệt mộ, bịt mặt, nín hơi thở, cố vuốt những mảnh thịt bầy nhầy khỏi các ống xương, trước khi đem xương đặt vào quan tài mới. Quả là một việc làm rất khó khăn, rất đáng ghê sợ, song vì lòng thương tiếc anh em, ông đã không quản ngại. Chẳng những thế, ông còn lặn lội khắp đó đây, thúc dục các đơn vị tiếp tay với ông, nên sau đó, ông đã ốm một trận kịch liệt, suýt bỏ mạng. Các cỗ quan tài tử sĩ được lần lượt đưa về chân núi bằng xe bò mượn của đồng bào địa phương. Trung Tá Thiện vốn là một sĩ quan cách mạng hết lòng thương yêu anh em binh sĩ, biết tên từng người, nhớ rõ ngày họ qua đời, nhớ rõ nơi chôn cất họ. Nhờ có tấm lòng hiếm hoi đó, mà không một tử sĩ nào bị bỏ sót cả. Cũng theo lời báo cáo của ông, tất cả đã có 312 ngôi mộ được sắp đặt thành hàng lối, được ghi khắc tên tuổi hẳn hoi, tại Nghĩa Trang Núi Bà Đen, mà chúng tôi đặt tên là "Nghiã Trang Liên Minh".

Trung Tá Thiện có kể chuyện là một hôm, ông tìm không ra ngôi mộ của một tử sĩ trước được chôn cất vội vàng tại một khoảng đất hơi xa lạ. Ông về nhà nằm khấn nguyện nho nhỏ rằng: "Chú em mày có linh thiêng thì hãy mách bảo cho tao biết chỗ, để tao đưa chú em mày về nằm chung một chỗ với các anh em khác cho có bạn!" Thế mà rồi sáng hôm sau, ông đi lang thang trong rừng lại bắt gặp ngay chỗ chôn cất người tử sĩ ngày xưa. Chỗ ấy không biết ai đã san bằng cả nấm đất, lại bỏ một đống cành vụn lên trên, thành ra khó nhận được. Trung Tá Thiện lại không quên chỉ cho tôi xem các vết ghẻ lở trên chân ông do việc ông đứng "ngâm chân" hàng giờ dưới những huyệt mộ lỏng bỏng chất nước đen sền sệt và hôi tanh khó tả.

Mặt khác, Tướng Thế ủy thác cho tôi công việc soạn thảo một bài Văn Tế Tướng Sĩ Trận Vong để dùng trong một dịp tế lễ sau này. Thời gian này, chúng tôi thật hết sức bận rộn. Phần lo việc định cư cho 10.000 đồng bào di cư, phần lo bốc mộ thiết lập nghĩa trang, phần lo tiếp đãi đồng bào các nơi cứ nối gót nhau kéo về chiến khu thăm viếng. Tết năm Giáp Ngọ (1955) là cái Tết cuối cùng trong Núi Bà Đen đáng được ghi nhớ hơn tất cả. Vì phải tiếp đãi hàng ngàn đồng bào đạo hữu vào chiến khu chúc Tết, nên tôi phải đích thân đốc xuất việc mua sắm gà lợn, bày một bữa tiệc mừng Xuân công cộng nơi Vườn Chuối, tiêu thụ luôn cả hai con bò do gia đình cụ Cố Trình Thành Quới đem biếu tặng.

Tôi khá mừng lòng vì thấy chương trình hợp tác với chính phủ Ngô Đình Diệm không gặp một phản úng bất lợi nào cả về phía đồng bào cũng như về phía anh em chiến sĩ. Trong khi một phái đoàn liên lạc của Liên Minh được phép đi đi về về giữa Saigon và chiến khu, để chi tiết hóa kế hoạch với nhà cầm quyền, thì chúng tôi lại phải nghênh tiếp một Phái Đoàn Hồng Thập Tự Quốc Tế do chính Bác sĩ Chủ Tịch (người Hòa Lan, tôi quên mất tên họ) hướng dẫn. Chúng tôi chào mừng Phái đoàn tại một địa điểm di cư thuộc vùng ảnh hưởng của Liên Minh, và cá nhân tôi đã thay mặt Tướng Thế, đọc một bài diễn văn Pháp ngữ, đại ý nêu rõ lập trường và thành tích của Liên Minh trước những vị "sứ giả quốc tế" rất có uy tín, và trước các nhà tu hành đại diện Công Giáo Việt Nam đi theo Phái đoàn.

Tôi không khỏi thầm phục cái tài "khai thác chính trị" của Tướng Thế. Ông là một nhà tướng lỉnh, nhưng lại có ý thức rất mạnh về vấn đề chính trị. Ông không chịu bỏ lỡ bất cứ cơ hội nào để nêu cao danh nghĩa Liên Minh. Chẳng hạn như Phái Đoàn Hồng Thập Tự Quốc Tế kia chỉ có mục đích viếng thăm đồng bào di cư và phân phát một ít quà bánh thuốc men. Vậy mà Tướng Thế cũng đòi hỏi tôi phải "khai thác" cho bằng được với một bài diễn văn dài mang nặng tích cách chính trị. Tôi áy náy khi "cưỡng bức" mấy ông khách quý đứng hàng giờ dưới nắng để nghe mình giới thiệu công cuộc đấu tranh chính nghĩa của mình. Nhưng vì Tướng Thế muốn vậy, nên tôi chẳng dám không làm theo ý kiến của ông. Được Tướng Nguyễn Thành Phương ủng hộ tinh thần, Tướng Thế tổ chức ngay một đoàn Tuyên truyền lưu động, phải đi hoạt động khắp chung quanh vùng Thánh Địa, xuống tận Bến Kéo, bến Cẩm Giang nữa. Lắm lúc chúng tôi có cảm tưởng chính Liên Minh, chứ không phải Quân Đội Cao Đài, làm chủ tình hình Tòa Thánh. Đức Hộ Pháp biết vậy, nhưng vẫn làm ngơ. Thậm chí một dãy cơ trại Liên Minh bỗng ngang nhiên xuất hiện gần Trí Huệ Cung, là nơi Đức Hộ Pháp thường lui về nghỉ ngơi, ẩn dật.

Cuộc vận động của chính quyền càng ngày càng ráo riết. Cho tới hôm 31 tháng giêng năm 1955, thì Thủ Tướng Ngô Đình Diệm chính thức mở cuộc viếng thăm Liên Minh. Đây quả là một biến cố vô cùng trọng đại đối với anh em kháng chiến. Việc Thủ Tướng Diệm tự ý yêu cầu được vào tận chiến khu để tiếp xúc với Tướng Thế chứng tỏ ông không bắt chước các chính phủ tiền nhiệm coi Trình Minh Thế là kẻ thù, là phản loạn. Hơn thế nữa, nó cũng đã chứng tỏ ông hoàn toàn tin tưởng nơi Tướng Thế mà ông chưa hề biết mặt, không sợ những bất trắc hiểm nguy có thể xảy ra tại một vùng đất không thuộc quyền kiểm soát của ông.

Chúng tôi tổ chức đón tiếp Thủ Tướng Ngô Đình Diệm và một Phái đoàn hùng hậu của Chính phủ tại một địa điểm gọi là Lò Gò, nằm bên phía rừng Bù Lu và gần căn cứ Bàu Gõ của Liên Minh. Chỗ ấy gần Gò Dầu Hạ, tiện đường cho các thứ xe cộ vào tận nơi. Hầu hết đồng bào di cư dưới sự bảo trợ của Liên Minh đều có mặt, cùng với đồng bào đạo hữu Cao Đài đứng chật cả một khoảnh đất rộng. Thủ Tướng Ngô Đình Diệm cùng đi với ông Bộ Trưởng Quốc Phòng Hồ Thông Minh trên một chiếc trực thang cất cánh từ sân bay Tân Sơn Nhất. Còn các nhân vật khác trong Phái đoàn Chính phủ thì dùng đường bộ vào tối địa điểm kể trên. Chúng tôi được biết phía người Pháp lúc bấy giờ đã cảnh cáo Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đừng nên mở cuộc viếng thăm ấy, nhưng Thủ Tướng vẫn bất chấp lời khuyên có ác ý. Theo lời dặn, chúng tôi dùng vải trắng giải thành hình chữ thập trên mặt đất để chỉ đường cho phi công trực thăng đáp xuống. Tướng Thế với tôi đứng đợi gần bên, vô tình không đề phòng, khiến lúc trực thăng hạ cánh, cát bụi bay tấp cả vào mặt mũi áo quần chúng tôi. Thủ Tướng Diệm vội vàng rời khỏi phi cơ, theo sau là Hồ Thông Minh.

Với guơng mặt tươi như hoa nở, với nụ cười thật duyên dáng và huynh đệ như đã từng quen thân nhau từ đời kiếp nào, người Cha Đẻ nền Đệ Nhất Cộng Hòa tiến lại bắt tay chúng tôi, ngước mắt nhìn Tướng Thế một cách âu yếm, rồi được hướng dẫn đi duyệt qua đoàn quân danh dự áo đen Liên Minh, trước khi tiến lại chào hỏi đồng bào có mặt. Lần đầu tiên gặp gỡ Thủ Tướng Diệm bằng xương bằng thịt, tôi nhận thấy ông thật dễ mến. Ông vui vẻ hồn nhiên như một người bà con anh em chí thiết hơn là một vị Nguyên Thủ. Ông làm chúng tôi chới với khi chúng tôi hướng dẫn ông đi phía này, thì đột nhiên, ông lại tự ý rảo chân qua hướng khác, vì nơi ấy đồng bào đang vẫy cao mũ nón, hoan hô chào mừng. Xong rồi ông lại trở về chỗ cũ, và cứ thế đôi ba lần, cho tới khi duyệt xong hàng rào người sắp thành ba mặt theo hình chữ "U" trên khoảng đất rộng.

Ông tỏ rõ một ý hướng hòa nhập với dân chúng, không sợ sệt, không kiểu cách. Đồng bào Công giáo di cư kính yêu ông một cách thật lộ liễu. Họ không ngừng hô to các khẩu hiệu ủng hộ ông. Chúng tôi cũng hơi ngạc nhiên, vì chúng tôi không hề yêu cầu họ làm như vậy.

Sau phần lễ nghi nghênh tiếp với một bài diễn văn chào mừng của Tướng Thế, và với một bài đáp từ vắn tắt của Thủ Tướng Diệm, hai nhân vật then chốt ấy bèn đưa nhau vào một căn lều vải nhà binh ở giũa đám đông, ngồi đối diện nhau đàm đạo dưới sức nắng oi nồng của một ngày cuối đông tại miền Tây Ninh. Trong bài đáp từ, Thủ Tướng Diệm có nói một câu mà chúng tôi còn nhớ mãi: "Anh em Liên Minh hãy tin tưởng nơi tôi. Bao giờ anh em có chuyện gì khó khăn, hãy cho tôi biết. Tôi luôn luôn sát cánh với anh em!" Thừa dịp này, Thủ Tướng Diệm đã đưa ra một đòi hỏi làm chúng tôi bối rối. ông nằng nặc yêu cầu anh em Liên Minh hãy về thành gấp, và ông làm áp lực để Tướng Thế phải chấp nhận ngày về là ngày Thứ Hai, 13 tháng 2 năm 1955. Tức là kể từ hôm tiếp đón ông cho tới khi chúng tôi có mặt tại Saigon, chỉ vỏn vẹn có hai tuần lễ.

Thủ Tướng Ngô Đình Diệm về rồi, chúng tôi càng thêm "bấn xúc xích" vì những chuyện lỉnh kỉnh không ngờ tới. Một mặt phải lo may sắm quần áo cho một Trung Đoàn tượng trưng Liên Minh đuợc chọn lựa đưa về Saigon làm lễ ra mắt. Tội nghiệp cho họ, bao năm qua ăn mặc rách rưới, chả nhẽ cứ thế mà về giữa nơi đô thị, coi sao tiện. Mà may sắm một lúc mấy nghìn bộ quân phục, vải vóc đâu? Thì giờ đâu? May sao, Tướng Tư Lệnh Bình Xuyên là Lê Văn Viễn xưa nay vốn có tình anh em với Tướng Thế, nên nghe nói Tướng Thế sắp mang quân về thành, thì âm thầm gửi tặng khoảng 4.000 thước vải kaki, gọi là giúp đở một phần nào thôi. Chúng tôi bèn gấp rút huy động tất cả các hiệu may tại vùng Tòa Thánh và Tỉnh Lị Tây Ninh làm việc suốt ngày đêm cho kịp may xong mấy nghìn bộ quân phục. Xong lại còn phải thuê thọ nhuộm đen tất cả số quần áo ấy nữa, cho hợp với phong cách một đoàn quân cách mạng nơi rừng núi. Chắc có người sẽ hỏi, tại sao Thủ Tướng Diệm không cung cấp quân phục cho anh em Liên Minh? Quả thật, Thủ Tướng Diệm có đề cập tới vấn đề ấy, nhưng TướngThế không nhận, và bảo là xin cứ để mặc ông lo liệụ lấy. Dù sao, Tướng Thế vẫn còn muốn giữ tư thế độc lập.

Mặt khác, chúng tôi lại còn phải lo tập tành cho anh em chiến sĩ đi nhịp nhàng theo bước quân hành. Oái oăm thay, xưa nay họ chỉ biết len lỏi trong rừng trong núi, chứ có bao giờ lưu tâm tới chuyện bước một, bước hai, cho đúng nhịp, cho đều đặn trăm người như một đâu? Thành thử Trung Tá Tham Mưu Trưởng Trương Lương Thiện lại phải chọn một quãng đường quê tại Bàu Gõ, vào trong xóm kiếm mua rơm rạ về lót mặt đường cho đỡ bụi, để anh em tập bước với nhau. Cái cảnh này nghĩ ra, cười cũng dở mà khóc cũng dở! Quần áo may xong, việc tập tành cũng đã ngoạn mục, thì vừa kịp tới ngày đã định.

Thành thật mà nói, tôi có trách riêng Tướng Thế rằng tại sao lại chọn cái ngày 13 không mấy "tươi đẹp"? Và tại sao lại ưng thuận một thời hạn quá ngắn khiến anh em phải vất vả dường ấy? Thì Tướng Thế tắc lưởi bảo rằng: "Tại Cụ Diệm đòi hỏi gắt quá, đành phải chịu vậy". Còn đối với cái ngày 13 xấu xa kia, Tướng Thế quay lại gắt với tôi: "Anh mà cũng bắt chước người Tây Phương dị đoan đến thế sao? Thôi đã lỡ chọn rồi, xin anh đừng nói gì nữa khiến anh em xao xuyến!" Tôi đành im lặng, mặc dù tôi biết "Ông Tướng" này không phải không tin dị đoan như ai khác, vì một hôm, ông dẫn quân đi tìm giặc. Khi đến bìa rừng, lật bản đồ ra nghiên cứu mục tiêu. Bất thình lình một con chim nhỏ ở đâu trên cành, bỗng rơi đánh độp một cái xuống ngay giữa bản đồ, dãy dụa một lát rồi chết lăn quay. Mọi người ngơ ngác lo sợ chuyện chẳng lành. Nhưng Tướng Thế cứ làm ngơ, vẫn xúc tiến cuộc hành quân. Quả nhiên, hôm ấy quân nhà bị sương mù che phủ khiến cho lạc đường, quay ra bắn lầm nhau, suýt nữa chết mất mấy mạng. Trong cuộc đời cầm binh, có lắm chuyện khó tin mà vẫn phải tin. Chẳng hạn như cái ngày 13 xui gở kia nó chẳng đợi chờ lâu để đưa tới một hoàn cảnh tang thương mà tôi sẽ thuật tiếp trong một Chương sắp tới.

Buổi sáng hôm Chủ nhật 12 / 2 /1955, phần tôi hướng dẫn một đoàn quân xa khoảng 60 chiếc do Saigon cung cấp, từ Tòa Thánh Tây Ninh hướng về Saigon. Mặt khác, Đại Tá Văn Thành Cao cũng hướng dẫn một cánh quân khác từ mạn Đồng Tháp Mười đi lên. Chúng tôi nhập nhau lại, và được chỉ định vào đóng tạm trong vườn Bách Thảo. Tôi sai mang theo cả lều vải và bàn ghế để thiết lập Bộ Chỉ Huy ngay tại chỗ. Đồng thời tôi huy động anh em binh sĩ dựng ngay lên một dãy nhà vệ sinh tại bờ sông Thị Nghè. Đồng bào đạo hữu các tỉnh tự động kéo về trên dưới 10.000 người, nhập chung với số quân sĩ, chiếm sạch cả khu vườn Bách Thảo. Dân chúng Saigon thấy ngọn cờ Liên Minh hơi lạ, thì bảo nhau tới xem tấp nập, gây ra cảnh náo nhiệt hỗn loạn. Chúng tôi sợ đối phương len lỏi vào phá hoại, đành phải thiết quân luật, để giữ an ninh cho mọi người bên trong.

Đêm hôm ấy, khoảng 2 giờ khuya, theo chương trình dự định, chúng tôi thiết lập bàn thờ trên một cái bực cao ở giữa vườn Bách Thảo, làm lễ Tế Tướng sĩ Trận Vong. Cả quân sĩ và đồng bào đạo hữu có mặt đều nghiêm chỉnh tham dự buổi lễ hiếm có này. Tướng Thế tự tay đốt đèn nhang, rồi lột mũ nón, kính cẩn cất tiếng đọc bài Văn Tế do tôi soạn thảo trước đó mấy tháng. Giọng ông mỗi lúc một thấm đầy nước mắt. Tiếng loa vang dội khắp khu vườn giữa đêm khuya vắng, vọng cả sang bên kia bờ sông Thị Nghè. Tất cả mọi người đều im lặng cúi đầu. Có tiếng sụt sùi nức nở khắp đó đây.

Riêng phần tôi, tôi cũng đã ứa nước mắt, ngậm ngùi tưởng nghĩ tới những người sương gió khuất mặt, đáng lẽ giờ này cũng có mặt tại đây với các anh em. Họ chẳng may đã nằm xuống rồi, chúng tôi dù muốn dù không cũng đã bỏ họ lại nơi núi rừng để làm chứng tích cho một công cuộc đấu tranh xương máu. Phần họ, như thế là xong. Còn phần chúng tôi, những kẻ còn sống sót, lại đang đặt bước về chốn thị thành, không ngờ rằng bước đường tương lai lại truân chuyên khốn khổ đến bao nhiêu nước mắt cũng không làm vơi đi được niềm thống hận. Giữa đêm thanh vắng, lời truy điệu tướng sĩ của người lĩnh tụ tôi nghe như tiếng ma kêu quỷ khóc, như lời giận hờn oán trách chúng tôi nửa chừng bỏ đi một công cuộc chứa chan ý nghĩa, một công cuộc hy sinh của những đứa con đứng ải địa đầu. Ngàn năm một thủa, lịch sử không làm lại được hai lần. Cứ tưởng một mình chúng tôi ứa lệ vì thương xót lẫn nhau, nào ngờ về sau tôi nghe nói đồng bào bên kia sông Thị Nghè cũng đã giật mình thức giấc, lắng nghe bài văn truy điệu và âm thầm gạt lệ trước những lời lẽ lâm li và vẹn tình vẹn nghĩa của kẻ sống đối với người chết.

Tế lễ xong, Tướng Thế cùng tôi đi thẳng ra con đường Nguyễn Huệ, lặng lẽ quan sát địa điểm duyệt binh sắp tới, và quan sát luôn cả khán đài danh dự, nghi ngờ kẻ phá hoại có thể lén đặt cạm bẫy. Chúng tôi thức gần trọn đêm, đợi chờ buổi lễ hợp tác sắp được cử hành sáng hôm sau, 13 /2 /55, dưới quyền chủ tọa của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.

Tôi luôn luôn nhấn mạnh tới hai chữ "hợp tác" chứ không phải "cộng tác" như báo chí Saigon đã ngộ nhận khi mới biết tin. Số là, buổi sơ khai, không biết vô tình hay có ý, Chính phủ Saigon đã để cho hai chữ "cộng tác" xuất hiện trên báo chí Việt ngữ. Chúng tôi bèn phản đối với ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Ông vui vẻ sửa sai ngay: Sở dĩ chúng tôi tranh đấu tới cả một danh từ nhỏ nhặt, cũng vì chúng tôi không muốn cho đời ngộ nhận chúng tôi "chạy theo bả lợi danh", bỗng không mà bỏ cả cuộc đời độc lập thênh thang đi làm tay chân cho một thế lực khác. Mà chúng tôi muốn chứng tỏ với Thủ Tướng Diệm, với ông Cố vấn Nhu, rằng chúng tôi nhận lời mời trên cương vị một "đồng minh" ngang hàng, trên tình hiểu biết và tương kính nhau. Có thế thì việc trở về của chúng tôi mới có ý nghĩa, mới giúp chính quyền tăng thêm uy thế. Chứ nếu chúng tôi chạy theo chính quyền như một hạng tay sai, thì phỏng với một Trung Đoàn quân sĩ tượng trưng kia, chính quyền cũng chẳng làm nên trò trống gì. Ông Cố vấn Nhu là người thấy xa hiểu rộng, ông nhận thấy ngay điều đó, và ông rất vui vẻ sửa sai cho đẹp lòng anh em Liên Minh.

Tinh thần phục thiện của ông Nhu còn đáng ca ngợi hơn ở chỗ ông đã thân hành vào chiến khu, cầm theo bản thảo bài diễn văn do tôi viết cho Tướng Thế đọc trong buổi lễ hợp tác, yêu cầu sửa bỏ một vài đoạn mà ông cho là "quá nặng". Trong bài diễn văn ấy, tôi còn nhớ rõ, tôi đã nêu ra chủ trương đối phó thẳng tay với bọn quan lại thối nát, với những hạng "đốc phử sứ'' tay sai đắc lực cũ của Pháp, đồng thời yêu cầu Chính phủ bài trừ nạn cờ bạc, nạn đĩ điếm, vốn là cái tệ trạng kinh niên của thành phố Saigon. Ông Nhu đọc lại mấy đoạn văn nảy lửa ấy, rồi cười mà bảo chúng tôi: 'Quý anh em ở trong rừng nên không thấy rõ các vấn đề mà Cụ (tức ám chỉ Thủ Tướng Diệm) đang đối diện. Chung quanh Cụ còn đầy dẫy những quan lại, những (Đốc phủ cũ). Nếu các thành phần này thấy Cụ rục rịch đánh họ, thì họ sẽ tức khắc xúm nhau lại phá phách, Chính phủ đối phó sao cho nổi trong giai đoạn này? Vậy thôi, xin quý anh em vui lòng bỏ qua cho!" Nói xong, ông Nhu ngửng mặt nhìn tôi với nụ cười cầu hòa. Thấy ông có lòng thành khẩn và khiêm tốn như thế, chúng tôi chẳng dám để ông nhắc lại lần thứ hai, bèn thuận ý xóa bỏ ngay mấy đoạn văn vưà kể trên. Lẽ ra, ông Nhu có thể nhờ người khác làm hộ việc ấy cho ông, nhưng ông đã phải thân hành lên tận chiến khu tiếp xúc bàn bạc với chúng tôi, ông tỏ ra thật sự khiêm tốn và lễ độ.

Cả Thủ tướng Diệm lẫn ông Cố vấn Nhu còn nhượng bộ chúng tôi nhiều điều ngoài sức tưởng tượng. Chẳng hạn chúng tôi yêu cầu được chào biệt lá cờ Liên Minh lần cuối cùng ngay tại buổi lễ hợp tác, được chính thức cử bản Quân Ca Liên Minh lần cuối khi triệt hạ lá cờ kia xuống, rồi mới kéo lá cờ quốc gia lên thay thế. Chẳng hạn chúng tôi yêu cầu Chính phủ tôn trọng cấp bực hiện hữu của anh em Liên Minh. Chẳng hạn chúng tôi xin cứ để lại trong rừng số quân còn lại của Liên Minh mà không bị Chính phủ chi phối cách này hay cách khác.v.v.. Nhất nhất, Thủ Tướng Diệm đều bằng lòng cả. Ông hạ lệnh cho Ban Quân Nhạc Phủ Thủ Tướng học tập trình tấu bản Quân Ca Liên Minh cho khỏi ngỡ ngàng trong buổi lễ hợp tác. Đồng thời ông sai chế biến hai lá cờ đặc biệt, làm cách nào cho sự đổi thay được tiến hành nhanh chóng và có mỹ thuật trước mặt quan khách cùng Ngoại Giao Đoàn. Mỗi lá cờ có kết thêm mấy cái giây vải cùng màu, buộc vào giây cờ kéo lên, rồi khi hạ xuống lại được tháo ra, nhường chỗ cho lá cờ khác được buộc vào thay thế.

Đúng 8 giờ 30 sáng hôm 13/ 2/ 1955, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm long trọng khai mạc buổi lễ Hợp Tác của lực lượng kháng chiến Liên Minh, trước hàng vạn dân chúng Saigon đứng khắp hai bên đường Lê Lợi và Nguyễn Huệ, là nơi đoàn quân Liên Minh sẽ diễn hành. Trên khán đài danh dự có mặt đông đủ bá quan văn võ và Ngoại Giao Đoàn. Đối diện khán đài là một Phái Đoàn Cao cấp Liên Minh gồm có tôi, Đại Tá Văn Thành Cao, Trung Tá Trương Lương Thiện, Trung Tá Trần Minh Triết, Trung Tá Hà Văn Tình, và Luật sư Thái vĩnh Thịnh. Thiếu Tướng Trình Minh Thế, Tư Lệnh Tối Cao Lực Lượng Kháng Chiến Liên Minh, với 4 ngôi sao cũ trên vai áo, với chiếc mũ chào mào cố hữu, đứng trong một cái vòng tròn kẻ bằng vôi trắng, hô một tiếng "Nghiêm" thật dõng dạc, tiếp theo là tiếng "Bồng súng! Chào!" vang dội khắp đường phố. Tất cả đoàn binh đặt dưới quyền chỉ huy Danh dự của Trung Tá Nguyễn Trung Thừa đều răm rắp làm theo lệnh. Từ Thủ Tướng Ngô Đình Diệm tới khắp quan khách trên khán đài danh dự đều đứng lên, nghiêm chỉnh chào lá cờ Liên Minh được từ từ kéo lên ngọn kỳ đài theo tiếng nhạc hùng tráng của bản Quân Ca Liên Minh do ban Quân nhạc Phủ Thủ Tướng trình tấu. Tiếp đó, Tướng Thế đọc một bài diễn văn quan trọng, đánh dấu cái ngày hợp tác với chính quyền, cái ngày lịch sử mà Thủ Tướng Diệm đã chờ đợi suốt cả nửa năm qua. Cũng là cái ngày gây ra bao cảm nghĩ phức tạp trong lòng các đoàn thể đương thời. Người từng ủng hộ chính phủ Diệm bấy lâu thì lấy làm phấn khởi. Kẻ đang chống đối ông lại đâm ra lo nghĩ.

Đến luợt Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đứng lên đọc một bản đáp từ chấp nhận, theo nguyên tắc nghi lễ quốc gia, sự "trở về chung sức xây dựng tương lai đất nước của Lực Lượng Kháng Chiến Liên Minh dưới quyền lãnh đạo của Thiếu Tướng Trình Minh Thế'', bản đáp từ chứa đựng những lời lẽ chí tình và đầy ngưỡng vọng của vị Nguyên Thủ. Sau khi dứt lời, Thủ Tướng Diệm bước xuống khán đài, tiến thẳng tới trước mặt Tướng Thế, tự tay gắn 4 ngôi sao mới của Chính phủ lên hai bên vai áo Tướng Thế, tự tay cất bỏ chiếc mũ chào mào và đặt lên đầu Tướng Thế chiếc mũ vàng lưỡi trai viền chỉ kim tuyến của một vị Tướng lĩnh Quân Đội Quốc Gia. Đâu đó vừa xong, thì cũng theo lệnh của Tướng Thế, ban Quân Nhạc lại trình tấu bản Quân Ca Liên Minh trong lúc lá cờ Liên Minh được kéo xuống, rồi lá cờ Quốc Gia mới kéo lên trong tiếng nhạc của bản Quốc Ca thường lệ.

Thế là kể từ giờ phút đó, đời Tướng Thế hoàn toàn thay đổi. Ông nghiễm nhiên trở thành vị Tướng lĩnh thứ hai của Quân Đội Quốc Gia, sau Tướng Lê Văn Tỵ, đương kim Tổng Tham Mưu Trưởng. Nên nhớ là sau khi Tướng Nguyễn Văn Hinh thất thế, bị đuổi sang Pháp, ông Lê Văn Tỵ, vốn xuất thân từ hàng ngũ Thiếu Sinh Quân, mới được chính Thủ Tướng Diệm thăng lên cấp Thiếu Tướng và cử giữ chức Tổng Tham Mưu Trưởng. Còn Tướng Ngự Lâm Quân Nguyễn Văn Vỹ thì đã dứt khoát chạy theo Bảo Đại, không tùng phục Thủ Tướng Diệm nữa.

Nhận xong mũ áo, Tướng Thế và Phái Đoàn chúng tôi được mời lên khán đài. Tướng Thế ngồi hàng ghế danh dự, bên phía tay phải Thủ Tướng Diệm, bên kia là Bộ Trưởng Quốc Phòng Hồ Thông Minh. Bộ trưởng họ Hồ lộ vẻ ''diện phục tâm bất phục''. Hôm theo Thủ Tướng Diệm vào thăm chiến khu Liên Minh, Hồ Thông Minh có bộ mặt đố kỵ, không được Thủ tướng Diệm trọng vọng. Bằng cớ là ông không được mời tham dự cuộc hội đàm tay đôi giữa Thủ Tướng Diệm và Tướng Thế dưới căn lều vải. Quả nhiên, không bao lâu? Hồ Thông Minh bị hất khỏi chính quyền rồi chạy sang Pháp. Hóa ra Hồ Thông Minh không ưa Thế, vì Thế chống Pháp mà Minh thì lại thâm Pháp. Có lẽ cũng là bạn đồng minh với Bác sĩ Phạm Hữu Chương chăng? Thủ tướng Diệm, trong lúc vội vàng về nước chấp chính, đã sơ ý đem vào tận nách mình những phần tử một dạ hai lòng, những đối thủ hoạt động trong bóng tối ngay nơi cấp bự của một chính quyền phôi thai và nhiều đối lập. Vậy mà Thủ tướng Diệm đã tồn tại được 9 năm trời, quả là một sự lạ trong lịch sử.

Buổi lễ chấm dứt bằng một cuộc diễn hành của Trung Đoàn Bộ Binh Liên Minh qua trước khán đài, theo tiếng kèn của ban Quân Nhạc Phủ Thủ Tướng. Với bộ quân phục màu đen, với những súng ống còn mang hơi hướng núi rừng thiêng liêng, và với nhịp bước mới được tập tành hai tuần lễ, đoàn quân ấy theo Trung Tá Nguyễn Trung Thừa, tiến qua trước mặt quan khách một cách oai nghiêm hùng dũng lạ thường. Hình ảnh họ không giống với bất cứ một hình ảnh nào tại thủ đô Saigon lúc bấy giờ.

Chính cái vẻ "rừng rú" của họ đã làm ai nấy say mê kích thích, tiếng hò hét, tiếng hoan hô vang dội khắp đó đây. Người ta nhìn ngọn cờ Liên Minh phất phới dẫn đầu các đơn vị, người ta ngạc nhiên hỏi nhau về lai lịch của đoàn quân chưa từng thấy, rồi người ta trầm trồ ngợi khen Thủ Tướng Diệm đã vận động khéo léo cách nào mà lôi cuốn được những con người xa lạ đã về với ông.

Từ trên khán đài, tôi chăm chú theo dõi các anh em đồng hội đồng thuyền với tôi, mà tự nhiên nước mắt ưá ra hồi nào không hay. Lòng tôi hết sức bùi ngùi cảm động. Tôi hãnh diện cho những người chiến sĩ áo đen kia. Tôi hãnh diện vì nhờ có họ, mà hôm nay tôi ngửng mặt nhìn trời không thấy hổ thẹn. Nhưng đồng thời, mấy giọt nước mắt của tôi cũng đã nói lên nỗi lo sợ tràn ngập trong lòng tôi. Vì mới mấy phút trước đây, đã xảy ra một biến cố hơi kỳ dị và bất thường, làm tôi không thể nào yên dạ được. Không biết do sự xui khiến tiền định nào mà Đại Uý Tùy viên Tạ Thành Long lại quá vội vàng luống cuống không buộc giây kỹ càng, khiến cho lá cờ Quốc Gia vừa được kéo lên chưa tới ngọn kỳ đài, đã tuột cả phần trên, rơi rũ xuống một cách buồn thảm như một ngọn cờ tang vậy. Tôi xiết bao sửng sốt bồi hồi, thầm than trách một mình, thầm tưởng tượng ngay ra những tai biến thảm khóc sẽ đến với Tướng Thế, với đoàn thể. Ngày về đã chọn ngày 13 xui xẻo. Trong buổi lễ Hợp Tác, ngọn cờ tượng trưng lại rũ xuống. Tôi dị đoan chăng? Có lẽ đúng. Nhưng không phải chỉ một mình tôi, mà bao nhiêu anh em khác cũng đã trông thấy triệu chứng bất thường, và cũng đã chia xẻ với tôi nỗi hoang mang trong lòng họ.

Một Tướng lãnh! Một ngọn cờ! Đời quân binh chiến đấu gắn liền với súng đạn, với tử sinh vô định, không thể chối cải được. Tướng Thế đã cố gắng trấn an tôi sau đó, nhưng đau lòng thay, chính ông đã phải đem cuộc đời mệnh bạc ra chứng minh rằng tôi lo nghĩ không lầm.

Được ít lâu sau, qua lời tường thuật của ông Cố vấn Ngô Đmh Nhu, tôi được biết trong suốt buổi tối hôm cử hành lễ Hợp Tác, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã cầm chân các nhân viên Chính phủ lại trong Dinh Độc Lập, để nghe ông nức nở ca tụng "con người" Trình Minh Thế, và công khai bày tỏ sự thán phục trước phong cách khác thường của một nhà Tướng lĩnh cách mạng. Cái lối điều binh khiển tướng chưa từng thấy trong Quân Đội Quốc Gia xưa nay, cái tác phong dõng dạc, cứng rắn và oai nghiêm của Tướng Thế, đã làm cho Thủ Tướng Diệm phải kinh ngạc, ông Nhu bảo tôi: "Có thể nói là Cụ đã dành trọn buổi tối hôm ấy cho anh Thế. Tôi chưa hề thấy Cụ bị kích thích như thế bao giờ!"

Trong hai cuộc Tiếp Tân đặc biệt dành cho Tướng Thế tại Dinh Độc Lập và tại tư thất của Tướng Lê Văn Tỵ ở đường Hùng Vưong, tôi luôn luồn ở gần Tướng Thế để ngầm báo cho ông biết là cá nhân ông đã trở thành "cái đinh" trước mắt nhiều người, nhất là đối với các sĩ quan bao bọc chung quanh Tướng Lê Văn Tỵ. Tôi bắt gặp trong cái nhìn của họ một sự khiếp sợ chen lẫn với nỗi ghen ghét đố kỵ. Vì dù muốn dù không, thì theo cấp bực, từ nay họ phải ở dưới quyền một con người được coi là "ngoại lai", nghĩa là một con người không cùng chung một lò đào luyện với họ, một con người khét tiếng anh dũng, xuất thân từ hàng nông dân áo vải, lập nên nghiệp lớn bằng trí óc và tài năng của riêng mình, một con người tuy nhỏ nhắn đen đúa nhưng chẳng biết sợ ai. Và dĩ nhiên là tôi cảm thấy lo ngại giùm cho Tướng Thế. Tôi xem cảnh ngộ ông chẳng khác gì cảnh ngộ một cô gái, mới bước về làm dâu một gia đình nhà chồng mà người thương thì ít, kẻ ghét lại nhiều, ông là một chiến sĩ cách mạng quen sống cuộc đời hiên ngang phóng túng, còn các ông tướng tá kia đều trưởng thành trong một quân đội hoàn toàn do Pháp đào luyện, lại vừa mới được chuyển giao sang chính quyền Việt Nam, thì ta không thể nói là ảnh hưởng Pháp một sớm một chiều đã phai ngay đi được.

Song song với tấm lòng đố kỵ kẻ "ngoại lai", biết đâu chả có một số các sĩ quan "cựu trào" đang âm thầm nuôi mối thù hận đối với Tướng Thế, đang coi ông như một địch thủ hơn là một người bạn đồng đội? Rút cục, sự hợp tác với chính quyền chỉ đem cái lợi tinh thần về cho Thủ Tướng Diệm, còn riêng cá nhân Tướng Thế thì chỉ vô tình rước lấy những hiểm nguy còn rình rập đâu đây trong bóng tối. Con hổ đã xa rừng, con hổ sẽ khó sống. Tôi tự nghĩ thế, và tôi thầm trách oán cả Thủ Tướng Ngô Đình Diệm lẫn người đồng chí họ Trình của tôi, cả hai đều đã quên nghĩ tới mặt trái của công cuộc hợp tác. Dù Thủ Tướng Ngô Đình Diệm có lòng thương yêu Trình Minh Thế tới đâu chăng nữa, ông cũng không thể nhất thời ngăn chặn được nỗi thù hận ngấm ngầm trong tâm tư những kẻ đã từng được Pháp "đội mũ mặc áo cho" từ những ngày xa xưa. Huống chi thực tế đã chứng minh Thủ Tướng Ngô Đình Diệm chưa làm chủ được Quân Đội Quốc Gia. Cái họa phản loạn của Tướng Nguyễn Văn Hinh còn sờ sờ ra đó. Còn Tướng Lê Văn Tỵ dù có nhận áo mão do Thủ Tướng Diệm ban cho, thì vị tất ông ấy đã hết dạ trung thành với vị Tân Thủ Tướng mà Bảo Đại bất đắc dĩ phải kén chọn đưa về nước cầm đầu chính phủ. Tướng Lê Văn Tỵ có trung thành với Ngô Đình Diệm hay không, thì biến cố trong đêm 30 tháng 4 tại Dinh Độc Lập (xem Chương XVI) đã trả lời dư luận và riêng tôi xin làm chứng nhân.

Trong hoàn cảnh mới, và trong mấy tuần lễ đầu tiên tại Saigon, Tướng Thế mất khá nhiều thì giờ đáp lễ các nhân vật chính quyền, các chính khách tên tuổi, các đoàn thể hiện hữu như Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên. Riêng Tướng Edward Lansdale thì sự mừng vui càng lộ liểu hơn ai hết, bởi lẽ rất dễ hiểu là cá nhân ông đã đóng góp một phần quyết định vào việc đón rước Tướng Thế về thành. Ông mời chúng tôi tới dự tiệc trà tại nhà riêng ở đường Duy Tân, rồi ông đích thân ngồi xuống sàn nhà, cùng một người bạn Mỹ cầm hai chiếc gậy tre dài gổ nhịp, dạy cho chúng tôi nhảy vũ điệu Trinikling của Phi Luật Tân. Sau đó, ông tới Hành Dinh Liên Minh tặng cho Tướng Thế một khẩu súng lục Cowboy thật to lớn và chạm trổ rất mỹ thuật. Tưởng cũng nên nói thêm là vị Trưởng Phái Bộ USOM lúc bấy giờ là Đại Tướng O'Daniel cũng đã dành cho Tướng Thế một vinh dự đặc biệt bằng cách tổ chức một buổi thuyết trình về tình hình quân sự Việt Nam tại trụ sở của Phái bộ.

Tổng Tư Lệnh Quân Đội Cao Đài, Trung Tướng Nguyễn Thành Phương mở hẳn ra một dạ tiệc thật linh đình để cho Tướng Thế gặp lại các anh em Cao Đài ngày xưa. Sau 5 năm xa cách, bây giờ mới chính thức gặp lại nhau, Tướng Phương mặt mày như hoa nở, vì từ đây ông có thêm vây cánh, có một người em đồng đạo xứng đáng để cho ông hãnh diện với đời.

Về phía Bình Xuyên, thì Tướng Lê Văn Viễn, tức Bảy Viễn, vì đang ở cái thế chống chính quyền, nên không tiếp đón Tướng Thế một cách công khai rầm rộ. Một buổi tối nọ, Tướng Viễn đích thân tới đường Trương Minh Giảng đón Tướng Thế và tôi về chơi Vũng Tàu. Ông có bà vợ nhỏ làm chủ một khách sạn sang trọng vào bực nhất tại Vũng Tàu. Ông mời chúng tôi ăn uống rồi ngủ đêm tại khách sạn đó. Tôi được dịp chứng kiến tấm tình huynh đệ mật thiết của nhà lĩnh tụ Bình Xuyên đối với Tướng Thế. Tôi thấy hơi khó nghĩ. Vì chẳng gì ngày nay Tướng Thế cũng đã là một "công thần" của chính quyền nhà Ngô, trong khi Tướng Viễn lại là kẻ đối lập sắt máu, thì làm sao Tướng Thế lại chẳng gặp khó khăn? Điều làm tôi ngạc nhiên là ông Bảy Viễn không hề phàn nàn gì về việc Liên Minh hợp tác với chính quyền Diệm. Dường như ông coi đó là quyền riêng của mỗi đoàn thể, không cản trở ông tiếp tục gọi Tướng Thế bằng "chú Thế'' rất thân mật. Tôi lại càng đặc biệt chú ý tới thái độ cung kính nhường nhịn của Tướng Thế đối với nhà lĩnh tụ Bình Xuyên. Điều này khiến tôi không thể không gia tâm nghiên cứu con người của Lê Văn Viễn, một nhân vật mà lâu nay dư luận đã phê phán khá nhiều theo chiều hướng xấu xa bất lợi. Một người nghĩa khí như Trình Minh Thế đã không khinh khi Lê Văn Viễn, lại vẫn giữ tình anh em với nhau, tất nhiên bên trong Lê Văn Viễn phải có cái gì đặc biệt. Tôi nghĩ thế, và tôi quyết tìm cho ra cái điều "đặc biệt" ấy.

Với tư cách đại diện chính thức của Liên Minh, tôi tham gia tổ chức mới mệnh danh là "Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia", dưới quyền lãnh đạo tối cao của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc. Mặt Trận này có lập trường đối (lập cứng rắn với chính quyền, và bao gồm các thành phần đại diện các đoàn thể, như: Bảo Thế Lê Thiện Phước, đại diện Tòa Thánh Tây Ninh, Đại Tá Trần Thái Huệ, đại diện Quân Đội Cao Đài của Trung Tướng Nguyễn Thành Phương, Đổng Lý Văn Phòng Thành Nam, đại diện Quân Đội Hòa Hảo của Trung Tướng Trần Văn Soái, Bí Thư Sỹ Thanh, đại diện Thiếu Tướng Lê Quang Vinh, tức Ba Cụt, và Cố vấn chính trị Trần Văn Ân, đại diện Lực Lượng Bình Xuyên của Thiếu Tướng Lê Văn Viễn. Tôi thay mặt Tướng Thế đứng vào "Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia" để thi hành một nhiệm vụ rất mực khó khăn và đầy nguy hiểm. Là vì chúng tôi không có chủ trương chống Diệm, mà lại chen chân vào một tổ chức chống Diệm tích cực. Đó là mục đích của Tướng Thế, muốn biết Mặt Trận định thi thố những gì. Ông lo ngại một sự tan rã của chính quyền, nếu phe đối lập thẳng tay phá phách. Mặt khác, ông cũng không muốn bỏ bụng các đoàn thể bạn vừa kể trên khiến họ quay ra chống đối ông. Do đó mà địa vị tôi khá hiểm nghèo, mặc dù Thủ Tướng Diệm đã được cho biết trước về vai trò của tôi trong Mặt Trận.

Trong thời gian sinh hoạt chung với các đoàn thể, tôi đã tham dự khá nhiều phiên hợp sôi nổi, bàn bạc chung quanh vấn đề lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm để xây dựng lại lá bài Bảo Đại có Pháp đứng sau lưng. Các cuộc hợp diễn ra, khi thì tại tư thất của Tướng Viễn trong Chợ Lớn, khi thì tại Tổng Hành Dinh Bình Xuyên bên kia cầu chữ Y. Nghĩa là hoàn toàn dưới sự bảo trợ và đài thọ phí tổn của Tướng Viễn, người chống đối Chính quyền Diệm tích cực hơn ai hết. Nhờ vậy, Tướng Viễn đối với tôi càng ngày càng đượm tình anh em thân mật. Ông không hề nghi ngờ gì về tôi cả, thậm chí có một đêm hợp bàn quá khuya tại Hành Dinh cầu chữ Y, tôi và anh Thành Nam đều phải ngủ lại. Tướng Viễn thân hành lên trên gác, tự tay sắp xếp chỗ ngủ cho tôi, rồi còn hỏi đùa một câu "Chú có cần gì nữa thôi?" Tôi cười đáp: "Thưa anh, thế này là quá lắm rồi, còn cần gì nữa?" Tướng Viễn thường đưa tôi đi thăm vườn nuôi thú của ông, có đủ cả cọp, beo, khỉ, vượnn chim chóc hiếm quý, chả khác nào một vườn thú công cộng. Rồi một hôm, chính mắt tôi chứng kiến một người bộ hạ của Tướng Viễn bưổi chiều mang về mấy cái bao bố căng tròn, ném ngay xuống trước mặt Tướng Viễn, rồi nói: "Xin trình anh Bảy!" Tướng Viễn mở ra xem, toàn những giấy bạc đựng trong bao bố. Tôi choáng mắt. Được biết đây là tiền thu góp hàng ngày trong Chợ Lớn, nhiều cho đến nỗi Tướng Viễn không buồn đếm thử bao nhiêu. Ông sai mang đi cất, rồi vẫn ngồi đàm đạo với tôi về chuyện kia chuyên nọ.

Mãi cho tới ngày 29 tháng 3 năm 1955, ngày Bình Xuyên nổ súng lần đầu, đốt phá gần trọn khu bình dân Nancy ở đường Trần Hưng Đạo, tôi vẫn còn được tự do lui tới căn cứ Cầu Chữ Y. Lính Bình Xuyên gác trên cầu, thấy tôi thì mở đường cho đi. Lần ấy, Tướng Viễn lại đưa tôi ra xem mấy khẩu Mortier-81 đặt sẵn nơi gầm cầu hướng về phía Dinh Độc Lập, rồi lại chỉ trỏ mấy chiếc xe Jeep võ trang hùng hậu đậu thành hàng ngang, rồi bảo: "Tôi sẵn sàng rồi đó!" Ý nói ông sẵn sàng tấn công Thủ Tướng Diệm. Một nhân vật thân tín của Tướng Viễn, thấy chủ soái đối xử với tôi khá thân thiện, thì buột mồm yêu cầu tôi "Viết hộ bài bình luận cho đài Phát Thanh Bình Xuyên!" Tướng Viễn liền cười bảo: "Chú ấy còn bận bao nhiêu việc đoàn thể, thì giờ đâu mà viết?"

Tôi đã mất công tìm kiếm, nhưng tôi thật không hiểu nổi Tướng Viễn ra sao nữa. Cố giữ cho lòng mình không bị chi phối bởi mối tình bằng hữu mới nảy nở, tôi muốn có một lời phê phán thật công bình. Người ta bảo ông có phong độ "lục lâm thảo khấu", tôi không nhận thấy điều đó nơi ông. Tôi chưa hề nghe ông hò hét, nạt nộ ai. ông coi bộ hạ như anh em ruột thịt, đối xử rất bình đẳng.Lắm lúc tôi xem ông như một nhà kinh doanh khiêm tốn hơn là một lĩnh tụ chính đảng. Vậy ông là quân tử, anh hùng? Cũng không phải, ông không thể anh hùng khi ông đem cả đoàn thể ra làm nhiều việc trái với nền đạo đức đông phương, ông lại không sáng suốt ôm chặt con đường "thân Pháp" khi ảnh hưởng Pháp coi như đã cáo chung. Ông chọn lá bài Bảo Đại, ông ra sức chống báng Ngô Đình Diệm, chẳng qua vì lòng tự ái bị tổn thương, chứ thật ra ông không có một đường lối đấu tranh nào rõ rệt cả. Trước khi Pháp thất thế tại Việt Nam, Pháp giao quyền Công An Cảnh Sát cho Bình Xuyên, tưởng là có thể giúp Bình Xuyên củng cố thế lục, không ngờ lại là cái đầu mối đưa đoàn thể này tới chỗ chóng sụp đổ. Chính vì thấy mình nắm được quyền Công An Cảnh Sát, Tướng Viễn mới có cái ý tưởng hoành hành, mới nhắm mắt nghe lời xúi dục của các phần tử kém hiểu biết, gây ra nạn can qua giữa chốn đô thành, làm thất nhân tâm, bị oán ghét. Thành thử chính ông là người "bị lãnh đạo" hơn là lãnh đạo đoàn thể. Rút cục, ta có thể nói Lê Văn Viễn là người vô trí.

Để hoàn tất chương trình thăm viếng xã giao các đoàn thể bạn, ngày 3 tháng 3 năm 1955, tôi lại thay mặt Tướng Thế về Cái Vồn thăm Trung Tướng Trần Văn Soái, Tổng Tư Lệnh Quân Đội Hòa Hảo, theo lời mời của ông này. Cố Vấn Bình Xuyên Lai Hữu Tài thân hành lái xe tới Tổng Hành Dinh Liên Minh tại đường Trương Minh Giảng, đón tôi đi. Tài sắp đặt cả một đoàn công voa võ trang hộ tống, có trang bị cả máy vô tuyến liên lạc, và có xe hụ còi hướng dẫn. Tài là bà con anh em với Lai Văn Sang, đương kim Tổng Giám Đốc Công An Cảnh Sát. Lần đầu tiên đặt bước tới miền Tây, tôi bị kích thích bởi cảnh sống thái bình an lạc ở nơi ấy. Tới địa phận kiểm soát của Hòa Hảo, tôi bắt gặp mấy người lính ngồi trên cái vọng gác ở mỗi chiếc cầu. Dường như họ đã biết trước có phái đoàn của chúng tôi, nên vừa nghe tiếng còi rú lên, là bao nhiêu xe cộ phía bên kia cầu đều nhất loạt ngừng lại, nhường quyền ưu tiên cho chúng tôi.

Nên biết là tại vùng này, binh đội Hòa Hảo kiểm soát an ninh vô cùng chặt chẽ, cộng sản không dám héo lánh về thôn xóm. Lai Hữu Tài nom có vẻ rất hãnh diện trước uy thế Hòa Hảo. Ông vừa lái xe vừa kể cho tôi nghe nhiều chuyện ly kỳ hấp dẫn về những thành tích mà Quân Đội Hòa Hảo đã đạt được trong thời gian qua. Điều này chứng tỏ giữa Bình Xuyên và Hòa Hảo đang có tình qua lại mật thiết. Tôi nghĩ tới Trung Tướng Trần Văn Soái, cũng như Tướng Nguyễn Thành Phương bên Cao Đài, đang tham gia chính quyền với chức Quốc Vụ Khanh, Uỷ Viên Hội Đồng Quốc Phòng. Tôi thấy lo cho Thủ Tướng Ngô Đình Diệm. Sự hợp tác lỏng lẻo như thế kia rồi sẽ đưa đến đâu? Có thể nào một ông Quốc Vụ Khanh lại cũng là một ông đối lập? Nếu không, sao lại có sự liên kết khá lộ liễu giữa ông Quốc Vụ Khanh Hòa Hảo với ông Tướng Bình Xuyên đang triệt để chống chính quyền? Và riêng tôi nữa, đang ở trong cái thế hợp tác với chính quyền, thì lại công khai đi thăm viếng tiếp xúc với một đoàn thể không hoàn toàn đứng về phía chính quyền, được hướng dẫn và được hộ tống bởi ngay một lực lượng ác cảm với chính quyền. Tôi ở vào hàng ngũ nào đây?

Lúc gần tới Tổng Hành Dinh Hòa Hảo ở Cái Vồn, Lai Hữu Tài chợt bảo tôi: "Ông Năm Lửa có lòng quý mến các anh lắm! Tôi chắc hôm nay thế nào cũng có một cuộc đón tiếp long trọng." Quả nhiên, từ đằng xa, tôi đã nom thấy Trung Tướng Trần Văn Soái mặc bộ nhung phục đen, đội mũ Casque có gắn sao theo kiểu Pháp, đang đứng trước một toán lính danh dự, sẵn sàng đợi chúng tôi. Lai Hữu Tài vội vàng dừng xe lại, rồi giữ phép lịch sự, lùi bước lại phía sau, nhường tôi tiến tới ra mắt Trung Tướng Trần Văn Soái, ông nghiêm cẩn dơ tay chào theo lối quân sự, rồi thân hành hướng dẫn tới duyệt qua đoàn quân danh dự. Cử chỉ thật niềm nở trọng hậu ngoài sức tưởng tượng của tôi. Vừa vào tới cửa Hành Dinh, tôi bắt gặp phu nhân Trung Tướng, bà Phan Thị Gấm, biệt hiệu là "Phàn Lê Huê". Bà tươi cười bảo: "Nghe nói có khách quý, vội ra xem cho biết mặt!"

Tôi khá kinh ngạc trước bầu không khí quá sức huynh đệ. Tuy là lần đầu tiên về tới nơi đây, tôi có cảm tưởng tôi đã quen biết lâu đời. Trung Tướng Soái hoàn toàn không kiểu cách. Ông mời tôi ngồi đối diện trên bộ ghế tràng kỷ, ân cần hỏi thăm về Tướng Thế. Miệng nói, tay ông đưa lên vuốt bộ râu nổi tiếng một thời của ông. Tôi thầm tự hỏi tôi: "Mình đang ngồi trước mặt ai đây? Một ông "Năm Lửa" khét tiếng ở miền Tây hàng chục năm qua? Hay là một nhân sĩ Hòa Hảo hiền hòa khiêm tốn?" Quả thật phong độ Tướng Trần Văn Soái bằng xương bằng thịt đã đánh tan ngay trong đầu óc tôi cái hình ảnh mà tôi đã tưởng tượng về ông bấy lâu. Tôi sợ hãi dập tắt hết mọi ý nghĩ không tốt đẹp mà miệng tiếng người đời đã gieo rắc. Tôi thành thật kính trọng con người đang nắm một địa vị vinh hiển trong một giáo phái quan trọng Miền Nam. Lần đầu tiên tôi thấy dư luận bất công đối với Tướng Soái, dư luận đã vẽ ông khác hẳn đi, dư luận ấy từ đâu ra? Tôi kín đáo quan sát chủ nhân, và tôi tự bảo rằng nhân vật này không thể ngẫu nhiên, không thể may mắn mà ở ngôi cao. Trái lại, ông phải có phần phúc hậu nào đó, có biệt tài nào đó, thì mới được cả một khối dân chúng tôn sùng như vậy.

Tổng Hành Dinh của Tướng Soái, nếu tôi nhớ không lầm, thì không phải là một tòa lâu đài kiểu mới, mà chỉ là một ngôi nhà lộp ngói cũ kỹ với cột kèo bằng gỗ bóng. Đó đây, treo những tấm hoành phi, những câu liễn chữ Hán. Ngay gian giữa, có trưng bày bức chân dung của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Tôi thật như anh nhà quê bị lạc giữa phố phường, thấy cái gì cũng lạ. Giữa lúc tôi đang vương vấn niềm kia nỗi nọ trong lòng, thì bỗng nhiên một người đàn ông gầy ốm, mặc bộ quần áo trắng, với mái tóc dài phủ cả sau gáy, từ nơi bến sông đi lên, và tiến thẳng lại phía tôi. Người ấy bỗng ôm chặt lấy tôi và khóc! Tôi giật mình, nhìn kỹ lại, Trời..."Anh Ba Cụt!" Vâng, người ấy quả là Ba Cụt, là Thiếu Tướng Lê Quang Vinh, nghe tin tôi về thăm Cái Vốn, đã mạo hiểm dùng thuyền đi từ chiến khu ra tới đây để gặp mặt. Tôi xiết bao vui mừng, vội ôm chặt lấy người anh em sương gió, người đã hơn một lần cùng vô vào thăm Núi Bà Đen. Cái lý do Tướng Lê Quang Vinh bỗng ôm tôi khóc, tôi đã cố tường thuật trong một Chương trước. Chỉ tội nghiệp cho Tướng Trần Văn Soái, ông chả hiểu đầu đuôi ra sao, và ông cứ ngồi vuốt râu, cưới hề hề một cách rất đẹp lòng mát dạ. Lai Hữu Tài cũng sửng sốt nhìn chúng tôi, nhưng không dám hỏi gì.

Dịp ấy, Tướng Trần Văn Soái thiết một bữa tiệc chim rất thịnh soạn. Trong số các quan khách Hòa Hảo, ngoài Tướng Lê Quang Vinh ra, tôi chỉ được biết một vài nhân vật quan trọng, như ông Thành Nam, Đổng Lý Văn Phòng của Tướng Soái, ông Sỹ Thanh, Bí Thư của Tướng Lê Quang Vinh.

Sau này, trong thời gian hoạt động chung trong "Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia", Trung Tướng Trần Văn Soái có xuất hiện nhiều lần tại Saigon. Các Tướng Nguyễn Thành Phương, Lê Văn Viễn, vẫn thường kính cẩn gọi ông bằng "Đại Ca", và thỉnh thoảng có trêu ông bằng cách giả bộ rủ ông "đi chơi" chỗ này chỗ nọ, nhưng ông lắc đầu và lại ngồi... vuốt râu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG XV
TRÌNH MINH THẾ "CHÍNH TRỊ GIA"

Chúng ta đã biết Trình Minh Thế dám bày mưu hạ ngục và "xử tử treo" cựu Tướng Cao Đài Trần Quang Vinh, để cứu bạn đồng minh là Tướng Nguyễn Thành Phương, rồi đưa Phương lên ghế Tổng Tư Lệnh Cao Đài một cách đường đường chính chính. Chúng ta cũng đã biết Trình Minh Thế khôn ngoan "làm quà sơ kiến" Thủ Tướng Ngô Đình Diệm bằng "Vụ án Phạm Hữu Chương". Qua hai việc ấy, con người chính trị của họ Trình đã nổi bật, và chắc chắn không ai ở vào hoàn cảnh ông có thể làm hơn được. Đem một Phạm Hữu Chương phản bội trả lại cho chính quyền với tội trạng rành mạch, Tướng Thế chẳng những giúp Thủ Tướng Diệm thanh lọc hàng ngũ, mà còn gián tiếp cảnh cáo chính quyền rằng, mai đây dù ông có về hợp tác với Thủ Tướng Diệm, thì ông cũng vẫn có thừa tài quyền biến trở lại chiến khu, nếu con đường hợp tác kia tỏ ra bất lợi.

Thiên hạ buổi đương thời đồn đãi Tướng Thế "bán mình" cho Mỹ, và cho chính phủ Ngô Đình Diệm, lấy một món tiền hàng trăm triệu bạc. Và riêng cá nhân tôi cũng không tránh khỏi cái tiếng "chia phần" trong vụ hợp tác. Sau khi tôi bỏ nước ra đi, báo chí Saigon dưới quyền điều động của Bộ Trưởng Thông Tin Trần Chánh Thành, đã tha hồ xuyên tạc bôi nhọ tôi, gán cho tôi cái tội "mang theo trong mình những 30 triệu bạc của Thủ Tướng Diệm, lưu vong với hàng chục chiếc xe, sống cuộc đời vương giả!" Thậm chí tờ báo hàng ngày "Lẽ Sống" của Ngô Công Minh đã chạy một hàng tít lớn 6 cột nơi trang nhất, đặt dấu hỏi: ''N.L.'' đang làm gì ở Nam Vang?" Rồi trong bản tin, tờ báo ấy mặc sức tưởng tượng giùm ra cho tôi một cuộc đời trác táng dơ bẩn, mục đích chỉ nhầm "đốt cháy" hẳn tôi đi trước dư luận. Nhưng lạ lùng thay, cũng chính người viết bản tin ấy lại quay ra phản lại ý kiến mình mà nhấn mạnh rằng: "Mặc dù ngày nay N.L. không còn anh hùng (nguyên văn) như trước nữa, nhưng vẫn còn phong độ lưu loát" v.v. Họ biết, hay là họ cố ý không biết rằng, ngay khi các bài báo kia được in ra, tôi đang sống nhờ một người thợ là nghèo nàn, đêm phải ngủ trên bộ ván giặt quần áo hồi nặc mùi xà phòng, và ngửa mặt nhìn lên những chiếc quần chiếc áo chưa khô, nước hãy còn nhỏ giọt xuống mặt tôi! Tôi giận Trần Chánh Thành chơi trò kém quân tử, nên tôi đã viết cho Thành một bức thư gửi thẳng về Bộ Thông Tin, cảnh cáo Thành rằng: "Anh đừng tưởng kẻ vắng mặt là kẻ có tội (l'absent a toujours tort), và cũng đừng tưởng kẻ ra đi không có ngày về!"

Cùng một lúc với chiến dịch bôi nhọ kể trên, Bộ Trưởng Thành còn mượn bàn tay báo chí thêu dệt và hô hoán lên rằng tôi đã bỏ rơi lập trường đấu tranh cố hữu, quay ra bắt mối liên lạc với tên cán bộ cộng sản nằm vùng tại Cao Miên là Mai Văn Bộ, để chống lại chính phủ Saigon. Sở dĩ có câu chuyện "chụp mũ" kể trên là vì trong hàng ngũ sĩ quan Cao Đài sang lánh nạn tại Nam Vang thuở ấy, có một ông Trung Úy tên là L.V.B., vốn do chỗ quen biết mà tới lui thăm viếng tôi, và được tôi tiết lộ nhiều chi tiết về các hoạt động của tôi trong thời kỳ tôi giữ chức Tổng Thư Ký Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng, kể cả các chi tiết về việc tôi bắt giữ và lột lon Tướng Nguyễn Văn Vỹ tại Dinh Độc Lập. Ông Trung Úy kia về sau bỗng vì hoàn cảnh bắt buộc, quay sang hợp tác với hai tờ báo cộng sản xuất bản tại Nam Vang, lấy tên là "Sống Chung" và "Hòa Bình". Ông ta bèn tự tiện đem chuyện riêng của tôi ra, viết thành một loại "feuilleton" (phim dài tập) hấp dẫn, đăng suốt 3 tháng trời trên mặt báo cộng sản "Hòa Bình". Tôi vốn xưa nay không bao giờ thèm để mắt tới các loại sách báo tuyên truyền ''lá cải" của bọn cộng sản, nên hoàn toàn không biết gì về câu chuyện đang xảy ra có liên quan tới mình. Cho tới khi tôi được mách bảo về hành động của ông Trung Úy kia, thì đã quá muộn, tôi không còn cách gì ngăn chặn được nữa, mặc dù tôi đã kịch liệt phản đối.

Người ta không lạ rằng bọn cộng sản vừa muốn câu độc giả cho tờ báo của chúng, lại vừa muốn lợi dụng trường hợp cá nhân tôi để đả kích chính quyền Ngô Đình Diệm, một việc làm rất được nhà cầm quyền Nam Vang hưởng ứng và khuyến khích, vì Sihanouk đang mạnh mẽ ngả theo phe Trung Cộng, và triệt để chống báng chính phủ Ngô Đình Diệm. Cũng giống như một nhà báo Pháp thân cộng, trong cuốn sách nhan đề "Au Delà du 17ème Parallèle"(Ngoài Vĩ Tuyến 17), ngay nơi Lời Nói Đầu, đã bóng bảy xa gần đem Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng và cá nhân tôi ra làm đề tài, để nói về cái mà họ gọi là "Thái độ vô ơn, phản bội của chính quyền Ngô Đình Diệm!"

Sở dĩ tôi biết được câu chuyện kể trên là do người chủ trọ của tôi lúc bấy giờ là một người thợ là (Thợ giặt quần áo), quê quán Bắc Việt, ông ta cũng như hầu hết các đồng bào Bắc Việt sang trú ngụ lâu đời tại Cao Miên đều có xu hướng ủng hộ ngụy quyền Hà Nội một cách mù quáng. Ngày nọ sang ngày kia, suốt từ tờ mờ sáng tới nửa đêm, ông ta mở máy thu thanh theo dõi tin tức của các đài phát thanh Hà Nội và Bắc Kinh. Cử chỉ ấy làm tôi phát điên, không tài nào chịu nổi.

Ông ta sau mê "Hồ Chủ Tịch" của ông ta cho đến nỗi ông định gửi đứa con gái về Hà Nội để "phục vụ cụ Hồ". Được ông ta hỏi ý kiến, tôi bèn thừa cơ hội trả thù ông ta một vố cho biết thân. Tôi làm ra vẻ nhiệt liệt tán thành việc gửi đứa con gái của ông ta đi "xây đắp thành trì xã hội chủ nghĩa". Thế là đứa con kia bỏ bố mẹ lên đường về Bắc. Chỉ ba tháng sau thôi, nó gửi một bức thư "chửi" ngay bố nó là "thành phần lạc hậu, vô ơn với tổ quốc, không biết hy sinh cho cách mạng, mà chỉ biết làm thợ ủi kiếm tiền!"...

Một hôm, người thợ ủi kia bỗng hỏi tôi bằng một giọng kích thích: - Ông ơi! Ông có biết chuyện gì xảy ra không? Ly kỳ, hấp dẫn đáo để! Như xi-la-ma vậy! Tôi lấy làm lạ hỏi chuyện gì, thì ông ta nói: - Tờ báo Hòa Bình đang kể chuyện một người Việt Nam sang tị nạn chính trị tại đây (ông hoàn toàn không biết tôi là ai, vì tôi dùng bí danh trong thời kỳ lưu vong). Họ nói người này trước ủng hộ ông Diệm kỹ lắm, nhưng sau bị ông Diệm bạc đãi, nên bỏ đi. Này, hay lắm, hay lắm, ông xem đi cho biết. Vừa nói, ông ta vừa cầm trao cho tôi một xấp báo Hòa Bình. Đọc qua cái gọi là "xi-la-ma hấp dẫn", tôi đâm hoảng kinh, vội tới gặp đích thân Bộ Trưởng An Ninh của Chính Phủ Miên, yêu cầu can thiệp để chấm dứt loạt bài kia. Nhưng ông Bộ Trưởng lắc đầu, bảo là "phải tôn trọng tự do báo chí''. Trở về nhà, tôi lo ngại ông thợ ủi nhà ta sẽ có thể một ngày nào đó khám phá ra tông tích tôi thì vô cùng nguy hại, nên tôi hấp tấp dọn đi nơi khác.

Ấy, câu chuyện chỉ có thế, mà Trần Chánh Thành lại tiếp tay báo chí gây ra được một luồng dư luận về lập trường của tôi, đúng là theo cái chủ trương "muốn ăn thịt chó thì phải kêu chó dại!" Tuy nhiên, loạt bài kia của ông Trung Úy Cao Đài cũng đã gây chấn động dư luận một thời, và đã làm phiền cuộc sống của tôi không ít. Thậm chí Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống lúc bấy giờ là Nguyễn Hữu Châu (anh em cột chèo với ông Cố vấn Nhu), đã thay mặt chính phủ Saigon lên tận Siem Reap, kiện với Cựu hoàng Sihanouk, yêu cầu trục xuất tôi ra khỏi xứ Chùa Tháp. Nhưng Cựu hoàng Sihanouk viện dẫn điều 14 Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, trả lời Nguyễn Hữu Châu rằng tôi là một nhà chính trị lưu vong, không làm điều gì thương tổn tới nền an ninh nước ông, thì ông không có quyền trục xuất. Ngoài ra, Sihanouk đang triệt để chống báng Saigon, nên cũng cố ý làm ra vẻ bênh vực tôi để chọc tức đối phương. Hồi đó Cao Miên đang tranh chấp với Việt Nam về mấy hòn đảo ngoài vịnh Xiêm La. Sihanouk mời một lúc cả hai lĩnh tụ Trung Cộng là Chủ Tịch Lưu Thiếu Kỳ và Thủ Tướng Chu Ân Lai sang Nam Vang, rồi thân hành hướng dẫn hai tên này xuống bờ biển Kep, phân bua về vấn đề lãnh thổ. Cũng trong giai đoạn này, tôi đang "kiện" với Thủ Tướng Miên là ông Pho Preung về quy chế tị nạn chính trị mà chính phủ Miên đã dành cho ông Phibul Songram, cựu Thủ Tướng Thái Lan vừa bị lật đổ chạy sang Nam Vang lánh nạn. Ông này, tuy cùng "một hội một thuyền" với bao nhiêu người khác, nhưng lại đuợc chính phủ Miên dành cho nhiều ưu đãi, khiến tôi bất bình viết thư riêng cho ông Thủ Tướng và được người bạn thân là Dân Biểu Quốc Hội Miên Long Boret triệt để ủng hộ. Ý kiến của tôi nào ngờ đã được nghe theo, và ông Phibul Songram bị "mời khéo" sang Tokyo lánh nạn. Do đó, Cựu hoàng Sihanouk càng để ý tới tôi nhiều hơn.

Riêng về cái nỗi hàm oan của Tướng Thế, tôi nghỉ rằng tôi có thẩm quyền thay mặt đoàn thể Liên Minh làm cho sáng tỏ trước dư luận, ông mất đã gần 30 năm nay rồi, mà cái điều vu không tiền bạc kia vẫn còn nghe thấy nhắc nhở bởi mấy người nhẹ dạ dễ tin, dễ bị lừa bịp. Tôi xét thấy chính giới Việt Nam, cả trong chính quyền lẫn ngoài đối lập, cùng mắc cái "chứng bệnh" vu không tội "ăn tiền" cho những ai chống lại mình, hoặc mình không thích kết bạn. Vô tình, họ tô vẽ chính trường Việt Nam như một nơi chỉ có "ăn cắp", chỉ có "làm tiền dơ bẩn" mà thôi. Quả là một sự tủi nhục. Riêng với Tướng Thế, con người bình sinh vốn không vì tiền mà hy sinh nơi đầu sông ngọn gió, thì sự vu không tiền bạc cho ông, lại càng là điều đáng cho ai đó hổ thẹn. Trong vụ hợp tác với chính quyền, như tôi đã dẫn chứng trong các trang sách truớc, tự thủy chí chung, Tướng Thế không hề động chạm tới chuyện tiền bạc với Thủ Tướng Diệm, không nhận đồng xu cắc bạc nào để đổi lấy công cuộc hợp tác.

Ngay giữa lúc Cố vấn Ngô Đình Nhu đang vận động mời Tướng Thế về thành, họ Trình đã phải cùng tôi đi vay nợ để mua một chiếc xe Simca 9 cũ của một người quen tại Tòa Thánh. Một buổi trưa nồng nực, tôi ngồi đợi ông nơi quán nước. Tiền mượn được chẳng đủ, ông lại phải yêu cầu Đại Tá Văn Thành Cao tiếp tay mượn giúp thêm cho đủ số 80 ngàn bạc để lấy chiếc xe. Khi về thành, vì vấn đề uy tín và sĩ diện, ông phải mua một chiếc Traction 15 của hãng Bainier ở cuối đường Lê Thánh Tôn, gần bót cảnh sát Catinat. Xe ấy đã được Tướng Hòa Hảo Lâm Thành Nguyên đặt cọc trước, khi nghe nói Tướng Thế cần có xe ngay, Tướng Lâm Thành Nguyên đã vui lòng nhường cho lấy trước. Chúng tôi cố gắng tậu được một căn nhà nhỏ hẹp dùng làm Tổng Hành Dinh tại số 55 đường Trương Minh Giảng. Bà Thế là Nguyễn Thị Kim đã hy sinh phần lớn để có được ngôi nhà ấy. Duy chỉ có trường hợp đặc biệt là trước khi về thành, Tướng Thế có hỏi mượn chính quyền số tiền 2.700.000 đồng, nhằm phân phát cho anh em chiến sĩ gọi là chút tưởng thưởng cho họ. Tiền ấy, Phụ Tá Quốc Phòng Trần Trung Dung đã đòi lại ngay, và anh em Liên Minh đã phải nhịn cả một tháng lương để thanh toán. Như vậy, thì làm sao có sự "bán mình" cho Mỹ, hoặc cho chính phủ Diệm? Nếu Tướng Thế nhận hàng trăm triệu bạc như dư luận đồn đãi, thì tiền ấy để đâu? Chả nhẽ ông mang theo xuống nấm mồ? Con người của Tướng Thế, tôi biết rõ, không dễ cho ai lung lạc bằng quyền lợi vật chất được. Sở dĩ ông nhận hợp tác với chính quyền, chẳng qua vì tình hình quân sự khó khăn mà Liên Minh phải đương đầu sau Hiệp Định Genève, và cũng vì ông nhận thấy nhà chí sĩ Ngô Đình Diệm có tấm lòng ái quốc thành thật, chống Cộng và chống Pháp. Chỉ có thế thôi. Tóm lại, đời Tướng Thế trong sạch như một tờ giấy trắng, như một tấm gương soi. Ông không có việc gì để hổ thẹn, và chúng tôi cũng chẳng có gì để hổ thẹn vì ông cả.

Chỉ mới dăm ba hôm có mặt tại Saigon, Tướng Thế đã bắt đầu hoạt động, lần này hoạt động thuần tuý chính trị. Tiếp xúc xong với các đoàn thể bạn, ông đòi hỏi ngay với Thủ Tướng Diệm một việc khá bất thường. Thuở ấy phong trào tranh đấu á Phi đang bành trướng mạnh. Tổng Thống Nam Dương Soekamo được sự hỗ trộ của Trung Cộng và khối Thế Giới Thứ Ba, đã đứng ra triệu tập một hội nghị mệnh danh là "Hội Nghị á Phi" tại thành phố Bandung vào ngày 28 tháng 3 năm 1955. Chính phủ Ngô Đình Diệm cũng đã nhận tham dự Hội Nghị ấy, và đã cử xong một Phái Đoàn do Bộ Trưởng Nguyễn Hữu Thoại (?) cầm đầu, sẵn sàng đâu đấy để có mặt tại Bandung. Tướng Thế được tin, bèn vào Dinh Độc Lập, thẳng thắn ngỏ lời yêu cầu Thủ Tướng Diệm cho ông cùng đi với Phái Đoàn. Thủ Tướng Diệm thấy hơi khó nghỉ, vì một Tướng lỉnh vừa gia nhập Quân Đội Quốc Gia, lại đòi có mặt trong một Phái đoàn của Chính phủ đi dự Hội Nghị quốc tế, thì làm sao khỏi gây sự bất bình đố kỵ trong các từng lớp sĩ quan khác? Tuy nhiên, Thủ Tướng Diệm cũng quá nể tình người chiến sĩ mà ông rất quý mến, nên ông gật dầu cho đi. Bên phía Cao Đài, Trung Tướng Nguyễn Thành Phương không dám bắt chước Tướng Thế đòi hỏi nọ kia, nhưng cũng âm thầm cử Hồ Hán Sơn cùng đi sang Bandung quan sát tình hình.

Tướng Thế sang tới nơi chẳng thèm để ý tới chuyện lễ nghi tiếp đón, tiệc tùng, mà một mình cắm đầu cắm cổ làm việc theo chiều hướng hữu lợi cho đất nước Việt Nam. Ông bàn bạc với Hồ Hán Sơn, rồi nhờ Sơn thảo ngay ra một "Tờ Hịch" kêu gọi quốc tế hãy ủng hộ công cuộc đấu tranh chống cộng sản và thực dân tại Việt Nam. Sơn thảo xong, tới lúc tìm chỗ in mới là nan giải. Chính quyền thân cộng Soekamo toa rập với bọn cộng sản quốc tế, đã bí mật "thủ tiêu" hết mọi thứ máy Ronéo bán ngoài phố, khiến Tướng Thế và Hồ Hán Sơn đi tìm suốt đêm cũng chả thấy đâu cả. Túng cùng, Tướng Thế bèn nhờ Trưởng Phái Đoàn Việt Nam can thiệp, mới mượn được một chiếc máy Ronéo cũ kỹ vứt trong gốc xó. Tướng Thế phải thân hành sửa chữa, rồi cùng Hồ Hán Sơn làm việc gấp rút để kịp có ''Tờ Hịch'' tố cộng phân phát cho các Phái đoàn tham dự Hội Nghị. Giữa lúc các diễn giả thay phiên nhau thao thao bất tuyệt trên diễn đàn, thì Tướng Thế cứ thản nhiên ôm mớ truyền đơn đi phân phát cho khắp các Phái đoàn, kể cả cácPhái đoàn cộng sản. Thủ Tướng Trung Cộng Chu Ân Lai khi nom thấy ''Tờ Hịch'' bằng Anh văn để trước mặt mình thì lấy làm sửng sốt, ngửng lên nhìn Tướng Thế. Hai bên không trao đổi một lời nào với nhau, Chu Ân Lai nhìn chán con người Việt Nam nhỏ thó kia, rồi cúi xuống đọc ''Tờ Hịch''. Thế là ông trùm cộng sản Trung Hoa thua ngay một keo tuyên truyền giữa chốn nhĩ mục quan chiêm. Tướng Thế đắc ý tủm tỉm cười, trong khi Phái Đoàn Việt Nam cũng chả hiểu ông đang làm gì.

Hội Nghị Bandung cố làm cho to chuyện, nhưng tựu trung chỉ là trò bịp bợm của tập đoàn cộng sản quốc tế. Soekarno tự nhận mình thuộc Thế Giới Phi Liên Kết, nhưng thực tế, ông ta chỉ là tay sai của Bắc Kinh lúc ấy đang muốn lôi kéo cả khối Á Phi non nớt chính trị về phe họ. Các bộ mặt lớn trong cuộc Hội Nghị gồm có Thủ Tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru, Thủ Tướng Trung Cộng Chu Ân Lai, Tổng Thống Nam Dương Soekarno và Cựu Hoàng Norodom Sihanouk của Cao Miên. Mấy tay đầu sỏ này thay phiên nhau làm áp lực để các phái đoàn nhỏ bé đồng ý đưa ra cái quyến nghị gọi là '' Năm Nguyên Tắc Sống Chung Hòa Bình '' (Five Principles of Peace Coalition).

Thảm thương cho Phái đoàn Việt Nam, họ chỉ ngồi nghe và bị lu mờ giữa một biển người thiên tả hoặc cộng sản. Nếu không có "Tờ Hịch" kia của Tướng Thế khiến bọn đầu sỏ phải chú mục, thì Phái đoàn Việt Nam kể như đi không về rồi một cách vô ích. Hôm trở về, mặt mày Tướng Thế như hoa nở. Thủ Tướng Diệm được báo cáo về hoạt động của ông tại Bandung, thì rất lấy làm hài lòng. Ngay giữa lúc đang vui tươi, Tướng Thế lại bỗng có một cử chỉ quái lạ. Bất thình lình ông rút chiếc nhẫn cưới trên tay ông, trao cho bà vợ và bảo: "Em hãy đeo lấy!" Lại thêm một triệu chứng bất thường! Bà Nguyễn Thị Kim dàu dàu nét mặt, cầm lấy chiếc nhẫn bỏ vào ví. Bà không hiểu tại sao cuộc sống gia đình đang êm thấm, chồng lại cởi bỏ chiếc nhẫn cưới? Sắp xa nhau chăng? Nào ai biết được.

Cũng trong thời gian này, Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia xuất hiện. Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đã đóng một vai trò trọng yếu trong tổ chức này. Lập trường chống đối chính phủ nơi Ngài đã lộ liễu. Mặc dù Ngài cho phép Tướng Nguyễn Thành Phương tham chính, nhưng Ngài vẫn không chịu hoàn toàn hợp tác, và luôn luôn đòi chính quyền phải sửa đổi nọ kia. Lạ nhất là Tướng Phương đang có địa vị trong chính quyền, lại cũng sinh lòng chống đối. Nhắc lại là Mặt Trận gồm có Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên, Liên Minh và Dân Xã (của Tướng Lê Quang Vinh), nghĩa là các đoàn thể võ trang. Sau một cuộc hợp sơ bộ tại tư dinh của Tướng Trần Văn Soái tại đường Miche (Phùng Khắc Khoan), một Phái đoàn hùng hậu gồm có Nguyễn Thành Phương, Trình Minh Thế, Lê Văn Viễn, Lai Hữu Tài, Trần Văn Ân, Thành Nam, Sỹ Thanh, Bảo Thế Lê Thiện Phưóc, và tôi, lên Tòa Thánh yết kiến Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc tại Trì Huệ Cung. Dịp này, mọi người đã ký tên vào một bản tuyên ngôn đoàn kết ngay nơi bàn viết của Đức Hộ Pháp. Tiếp theo đó, các buổi hợp thường diễn ra tại nhà riêng hoặc Tổng Hành Dinh của Tướng Lê Văn Viễn. Kết quả đưa tới một bức "Tối Hậu Thư'' gửi Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, kỳ hạn tới ngày mồng 2 tháng 5 là tối đa, chính quyền phải cải tổ gấp để tiến tới tổng tuyển cử, thành lập chế độ Cộng Hòa. Như thế có nghiã là nếu sau ngày 2/5/55, mà chính quyền vẫn ở nguyên thể thức cũ, phe đối lập sẽ hành động.

Thủ Tướng Ngô Đình Diệm bằng lòng tiếp một Phái đoàn trao "Tối Hậu Thư'' do Tướng Lâm Thành Nguyên hướng dẫn, và gồm có Trần Văn Ân (thay mặt Bình Xuyên), Bảo Thế Lê Thiện Phước (thay mặt Đức Hộ Pháp), ông Thành Nam (thay mặt Hòa Hảo), Đại Tá Trần Thái Huệ (thay mặt Cao Đài) và tôi (thay mặt Liên Minh). Phái đoàn được hộ tống trên đường đi từ Chợ Lớn tới Dinh Độc Lập bởi một đoàn xe cảnh sát của Bình Xuyên, có trang bị còi hụ cả trước lẫn sau. Trước khi khởi hành, Tướng Viên có nói: Tôi đã chuẩn bị sẵn sàng, nếu các anh em bị bắt cóc, Bình Xuyên sẽ nổ súng vào Dinh Độc Lập tức khắc." Chúng tôi được Thủ Tướng Diệm tiếp kiến tại một phòng khách trên lầu Dinh Độc Lập. Nhân danh Trưởng Phái Đoàn, Tướng Lâm Thành Nguyên trang trọng trao bức "Tối Hậu Thư''. Thủ Tướng Diệm mở ra xem, và ý kiến được trao đổi chung quanh các đề tài đã nêu ra trong bức thư ấy. Thủ Tướng Diệm viện dẫn các khó khăn trong tình hình hiện hữu để nói rằng ông không thể thỏa mãn các yêu sách của phe đối lập trong thời hạn đã được ấn định. Tôi nom thấy ông cố gắng che đậy nỗi căm giận trong lòng. Khá nguy cho tôi là khi ông tìm câu đối đáp Phái đoàn, thì mắt ông lại nhìn thẳng vào tôi, với nụ cười chúm chím bí mật. Tôi phải làm bộ nhìn sang nơi khác, nhất là tôi lại ngồi đối diện ngay với Tướng Lâm Thành Nguyên, rất dễ bị nghi ngờ. Tướng Lâm Thành Nguyên cười nói bô bô, chỉ có Bảo Thế Lê Thiện Phước là trước sau hoàn toàn im lặng.

Cuộc hội kiến gay go kéo dài chừng một tiếng đồng hồ, lập trường đôi bên vẫn cách biệt, chẳng đi tới đâu hết. Đứng giữa cuộc xung đột, tôi khá lo trong lòng. Thành thực mà nói, tôi thấy việc trao bức "Tối Hậu Thư'' kia quả là một hành động thái quá, một sự khinh miệt rõ ràng đối với Thủ Tướng Diệm. Nếu ở vào địa vị ông, tôi cũng không thế nào nhượng bộ được một cách dễ dàng, nếu còn chút danh dự cần bảo vệ. Mà một đằng đã đi tới chỗ cạn tàu ráo máng, một đằng lại không chịu lùi nửa bước, tất nhiên là sự xung đột đẫm máu sẽ xảy ra, làm sao tránh khỏi? Phe đối lập hẳn đã không đùa cợt khi trao "Tối Hậu Thư'', và phần Thủ Tướng Diệm ắt cũng đã có kế hoạch trong đầu, khi từ chối. Trở về Tổng Hành Dinh hôm ấy, tôi đem tất cả sự thật ra trình bày với Tướng Thế. Chúng tôi cần phải có một hành động riêng cho phía mình.

Khi được báo cáo về kết quả cuộc hội đàm tại Dinh Độc Lập, Tướng Lê Văn Viễn lộ vẻ đăm chiêu hơn ai hết. Sự họp hành lại gia tăng gấp bội. Người ta bàn bạc chung quanh thái độ cứng rắn của Thủ Tướng Diệm. Người ta dự đoán rằng ông Thủ Tướng đã "liều mạng" chống đỡ tình hình, chứ thật ra, ông còn có thế lực nào nữa đâu để đương đầu với phe đối lập? Tình cờ, giữa lúc ấy, người của Tướng Viễn lại từ Pháp bay về, cho hay "Đức Quốc Trưởng hứa chắc là sẽ chọn anh Bảy làm Thủ Tướng Chính phủ tương lai, nếu anh Bảy lật đổ được ông Ngô Đình Diệm." Người liên lạc này (tôi quên mất tên) nói năng với giọng đầy tin tưởng nơi sự thành công, khiến Tướng Viễn lại trở nên lạc quan ngay. Đứng phương diện khách quan, tôi thấy ông Viễn chỉ còn có nước đi tới cùng trên con đường phục vụ Bảo Đại, ông không còn lối thoát. "Đức Quốc Trưởng" đã hứa một lời đanh thép như thế kia, Bình Xuyên lại đang nắm trong tay quyền lực công an cảnh sát, cả thủ đô Saigon chỉ biết có ảnh hưởng Bình Xuyên, thì cái chức Thủ Tướng Chính phủ quả thật không xa mấy.

Đã đến lúc tôi phải rút lui khỏi cục diện. Theo chương trình dự định, tôi vào Chợ Lớn dự một phiên hợp cuối cùng, rồi nửa chừng Tướng Thế sẽ làm bộ gọi điện thoại cho tôi. Tôi sẽ mượn cớ có vấn đề nội bộ khẩn cấp, xin phép bỏ họp ra đi. Đại Uý Tạ Thành Long được chỉ định đi đón tôi lại tới trễ, khiến tôi phải hỏi mượn xe của anh Sỹ Thanh để về gấp, vì Tướng Thế đang mở cuộc họp báo tại Tổng Hành Dinh đường Trương Minh Giảng. Nếu tôi không đi kịp, mà cuộc hợp báo kia lại tới tai Tướng Viễn, thì chắc chắn là tôi gặp đại nạn, ít nhất thì cũng nhận được một trận xỉ vả mắng nhiếc của các đoàn thể khác.

Về tới nhà, tôi bắt gặp đại diện báo chí Việt Nam và ngoại quốc ngồi chật cả phòng khách. Tướng Thế còn đang đợi tôi rồi mới bắt đầu loan báo quyết định của Liên Minh rút chân vĩnh viễn khỏi Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia. Bằng những lời khiêm tốn nhưng cứng rắn, Tướng Thế cho biết sở dĩ ông tham gia Mặt Trận bấy lâu là nhằm xây dựng đoàn kết giữa các lực lượng võ trang miền Nam để đương đầu với hiểm họa cộng sản. Chứ ông không chủ trương chống phá chính quyền giữa một tình thế khẩn trương, ông đề cập tới vấn đề "Tối Hậu Thư" của phe đối lập, tới sự trả lời của Thủ Tướng Diệm, rồi ông thẳng thắn nói rằng ông không tán thành thái độ quá khích của các đoàn thể bạn. Sau cùng, ông xác nhận lại lập trường hợp tác của Liên Minh như đã được minh định trong bài diễn văn ông đọc hôm 13 tháng 2 vừa qua.

Hôm sau, báo chí loan tin, Saigon lại một phen náo động. Tướng Nguyễn Thành Phương chới với trước sự việc đã rồi, nhưng không dám phản đối việc làm của Tướng Thế, mà chỉ nhẹ nhàng trách cứ: "Sao chú không cho tôi biết trước?" Chẳng nói ai cũng biết, Mặt Trận bất bình Tướng Thế là dường nào. Chỉ khổ cho tôi bị trực tiếp lên án ''Phản bội hàng ngũ". Đài Phát Thanh Hòa Hảo tại Miền Tây mạt sát tôi thậm tệ, đòi kết án "tử hình khiếm diện". Sau này, tôi với cư sĩ Thành Nam gặp lại nhau trong cuộc đời lưu vong, anh Thành Nam thân mật bảo tôi: "Chúng ta đã đóng một màn kịch trên sân khấu" để trả lời câu tôi hỏi đùa anh rằng "Bây giờ anh có còn muốn xử tử tôi nữa thôi?" Quả thật, chúng tôi đã đóng một màn kịch bi hài, mà cuối cùng bao nhiêu diễn viên đều tan tác, mai một cả. Không ai dám tự nhận mình là đào kép nhất, truớc sự tang thương của đất nước.

Tuy đã rút ra khỏi Mặt Trận, song chúng tôi vẫn tiếp tục theo dõi các diễn tiến. Được biết là Tướng Nguyễn Văn Thành của Cao Đài nay đã chính thức gia nhập Mặt Trận, sát cánh với Bình Xuyên. Điều mỉa mai là Tướng Thành đã bị Đức Hộ Pháp cách chức, nên mới bất mãn, ngả theo Bình Xuyên. Nay ông ta lại tự nguyện gia nhập

Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia, rồi lại chịu đứng dưới quyền lãnh đạo tối cao của Đức Hộ Pháp. Chúng tôi biết chắc là màn xung đột võ trang thế nào cũng sẽ xảy ra tại Saigon. Cho nên, đêm 28 tháng 4 năm 1955, Tướng Thế với tôi cùng nhiều anh em khác đứng tì tay trên lan can, đợi nghe tiếng súng nổ vào lúc 1l giờ khuya. Chúng tôi quay lại nhìn nhau khi quả đạn Mortier đầu tiên phát nổ về phía Dinh Độc Lập. Lần này cuộc tấn công của Bình Xuyên không dữ dội bằng lần trước (ngày 29 tháng 3, đốt cháy khoảng 1.000 nóc nhà tại khu bình dân Nancy, và làm nhiều người thiệt mạng). Lần này, Dinh Độc Lập là mục tiêu chính yếu, vì bao nhiêu tiếng nổ đều từ phía ấy vọng ra. Tuy nhiên, dân chúng Saigon cũng xôn xao không kém. Một gia đình người Mỹ bên cạnh vừa khóc lóc vừa chạy sang chỗ chúng tôi tìm sự che chở. Chúng tôi trấn an họ và bảo không đến nỗi nào đâu. Quả nhiên, cuộc tấn công của Bình Xuyên chỉ có tính cách hình thức mà thôi. Xét về mặt quân sự, một căn cứ như Dinh Độc Lập không thể nào bị uy hiếp dễ dàng bởi mấy quả đạn Mortier 81 từ bên Cầu Chữ Y bắn sang.

Lực lượng Binh Xuyên, với đa số nằm trong Công An Cảnh Sát, hẳn cũng không dám chọc thủng hàng rào Dinh Độc Lập để hạ thủ Thủ Tướng Diệm và ông Cố Vấn Nhu. Huống chỉ binh đội Bình Xuyên lại có tính cách ô hộp, thiếu kinh nghiệm chiến đấu, không trọng pháo, không phi cơ, thì có đáng kể vào đâu. Hàng ngày công an Bình Xuyên có thể bắt nạt dân chúng, nhưng khi lâm trận để thanh toán một chiến trường như Dinh Độc Lập, cái phần thua thiệt đã thấy rõ đối với họ. Chẳng qua, hành động nổ súng của Bình Xuyên chỉ nhằm hạ uy thế Thủ Tướng Diệm, bày ra trước dư luận hình ảnh một ông Thủ Tướng luôn luôn ở cái thế hạ phong, luôn luôn bị xỉ nhục, luôn luôn bị uy hiếp.

Kể từ ngày về nước hồi tháng 7 năm 1954 cho tới đêm nay, kiểm điểm lại, người ta thấy Thủ Tướng Diệm quả là một chính khách thiếu may mắn. Lịch sử Việt Nam chưa có ai dám đứng ra cầm đầu một chính phủ mà ông Quốc Trưởng thì ghét bỏ ra mặt, cứ nằm lì bên Pháp, và cứ một hai đòi ông Thủ Tướng chỉ định của mình phải luôn luôn nhớ ghi câu "Thừa Uỷ nhiệm Đức Quốc Trưởng" trước khi ký tên vào bất cứ văn kiện nào. Một chính phủ mà quyền kiểm soát an ninh lại thuộc về tay một người không đội trời chung, mà quân đội lại ở dưới quyền một tướng lĩnh tay sai của Pháp. Vận động khó nhọc bao nhiêu tháng trời mới "đẩy" đi được ông Tướng phản động Nguyễn Văn Hinh ra khỏi nước. Còn lại ông Tướng Cảnh sát Công an, thì đã hai lần nổ súng làm oai, thắng bại chưa biết ngã ngũ ra thế nào. Đã thế, một Cao Đài, một Hòa Hảo, tiếng là tham gia chính quyền cùng chịu chung trách nhiệm với nhau, nhưng vẫn "diện phục tâm bất phục", vẫn chờ chực cơ hội để cho ông Thủ Tướng về vườn.

Phải như ai khác ở vào địa vị này, chắc đã bỏ cuộc từ lâu. Chính quyền với chả chính quyền, thà về quê cày ruộng còn hơn đặt mình vào giữa cảnh gươm đao, ăn không ngon miệng, ngủ không yên giấc. Nhưng Thủ Tướng Diệm vẫn gan lì chịu đựng, mặc cho thiên hạ đàm tiếu rằng " Ông Diệm sắp thua đến nơi rồi" Giờ thì sự việc đã rõ ràng đen trắng. Cuộc chiến tranh nguội đã biến thành chiến tranh nóng. Cái nhục này Thủ Tướng Diệm đã ghi vào lòng, và nếu ông muốn còn tồn tại, thì ông phải rửa nhục. Ông rửa bằng cách nào? Đó là câu hỏi then chốt.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG XVI
TRÌNH MINH THẾ LẠI CỨU NGÔ ĐÌNH DIỆM

Nếu Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã gặp rủi khi chấp chính, thì ông lại gặp may khi phải đương đầu với tai biến. Cái may ấy đã nằm sẵn trong con người Trình Minh Thế. Bản thân Thủ Tướng Diệm chắc cũng không ngờ rằng cá nhân Trình Minh Thế lại có cái duyên nợ khá sâu xa đối với ông. Có thể nói, không có Thế nhất định không có nền Đệ Nhất Cộng Hòa, mặc dù lúc Đệ Nhất Cộng Hòa ra chào đời, Thế đã không còn nữa.

Bị Bình Xuyên làm nhục đêm 28 tháng 4 năm 1955, Thủ Tướng Diệm còn chịu thêm một cái đấm thứ hai của Quốc Trưởngg Bảo Đại. Từ bên Pháp, Bảo Đại hoạt động nhịp nhàng theo Bình Xuyên, bằng cách đánh điện về Dinh Độc Lập, gọi Thủ Tướng Diệm gấp rút sang Pháp, nói là để "tham khảo ý kiến về tình hình rối ren trong nước.

"Chỉ nhìn thoáng qua việc này, ai cũng biết Bảo Đại muốn chơi trò "điệu hổ ly sơn", dọn sạch Dinh Độc Lập cho Tướng Lê Văn Viễn vào ở. Chứ có lý nào một ông Quốc Trưởng lại ra lệnh cho người cầm đầu chính phủ của mình bỏ nước ra đi giữa lúc đang xảy ra nội loạn? Cho dù ông Quốc Trưởng ấy có hành động chính đáng tới đâu đi nữa, thì "tướng ngoài mặt trận vẫn có quyền không tuân lệnh vua", có quyền bất chấp cái công điện đến không phải lúc.

Cho nên, hễ "còn nước thì còn tát", Thủ Tướng Diệm chắc đã nghĩ thế nên triệu tập khẩn cấp một Hội nghị chính trị mệnh danh là "Hội Nghị các Chính đảng và Nhân sĩ Quốc Gia" tại Dinh Độc Lập vào hồi 10 giờ sáng ngày 29 tháng 4. Tuy trong tình thế lửa cháy này, Thủ Tướng Diệm cũng đã nhận được sự đáp ứng nồng nhiệt của tất cả những ai mà ông muốn gặp mặt. Người ta đếm đuợc tất cả 18 Chính đảng và Đoàn thể hiện hữu tại Miền Nam và 29 Nhân sĩ có tên tuổi. Thành thật mà nói, trong số các Chính đảng và Đoàn thể hiện diện kia, chỉ có 3 đoàn thế nổi bật hơn cả vì có thực lực. Đó là "Việt Nam Dân Xã Đảng" do Bí Thư Nguyễn Bảo Toàn đại diện, "Việt Nam Phục Quốc Hội" do Hồ Hán Sơn đại diện, và "Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến Việt Nam" do cá nhân tôi đại diện. Trong thư mời họp, Thủ Tướng Diệm có nói rõ là ông bị Bảo Đại gọi sang Pháp trong một vài ngày sắp tới, và ông mong được biết ý kiến của mọi người rằng "ông có nên đi Pháp hay không?"

Trước khi tôi đi dự họp, Tướng Thế đã bàn bạc kỹ lưỡng với tôi về mọi vấn đề. Cho nên, giọc đường, tôi bảo riêng với Hồ Hán Sơn là người thay mặt Tướng Nguyễn Thành Phương rằng: "Hôm nay chúng ta phải dứt khoát với Bảo Đại, phải đặt vấn đề truất phế con người ấy đi. Nếu người ta đồng ý như vậy, thì mình ở lại bàn tiếp. Còn không, thì bỏ về ngay." Hồ Hán Sơn vui vẻ gật đầu.

Tôi muốn tạm ngừng lại đây để giới thiệu vài giòng về Hồ Hán Sơn. Anh vốn quê quán Hà Tĩnh, vào Nam năm 1954, được Tướng Nguyễn Thành Phương đón tiếp vào hàng ngũ Việt Nam Phục Quốc Hội, rồi lại được giới thiệu lên Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc để nhận chức Đại Tá Cao Đài. Tướng Phương thấy anh là người trẻ tuổi lại có tài, nên chỉ định anh đứng ra cầm đầu một lớp Huấn Luyện Chính Trị cho các sĩ quan Cao Đài. Anh có tính nghệ sĩ ngông nghênh, nên trong khi dạy bảo "học trò" gồm toàn những người lớn tuổi và có địa vị, anh bất chấp hết mọi sự, với ai cũng gọi bằng "thằng" hết thảy, vì vậy mà vô tình gây ra bất bình chống đối ngấm ngầm. Anh lại có tính ở bẩn số một, không ai bằng, áo quần giày dép lôi thôi, bít tất thì dùng từ lúc mới mua cho tới khi rách bỏ, không hề giặt qua lần nào. Cho nên anh em sĩ quan Cao Đài sống chung một nhà với anh không sao chịu nổi, một hôm họ đợi cho anh vừa ra cổng hóng gió là họ "thủ tiêu" ngay đôi bít tất hôi hám kia cho xong. Lúc không tìm thấy đâu, anh la toáng cả lên, thiên hạ khúc khích cười.

Hồi còn ở trong chiến khu, một hôm tôi bắt gặp Tướng Thế ngồi tiếp chuyện một thanh niên lùn thấp, đầu tóc bờm xòm, ăn nói ngang tàng như trên đời chẳng biết có ai. Hỏi ra tôi mới biết đó là Hồ Hán Sơn, và tôi đã có bụng khi ghét. Nhưng tôi không ngờ anh là một nhân tài hiếm có, một người mà càng gần gũi bao nhiêu, tôi càng đem lòng thương yêu kính trọng bấy nhiêu. Thuở ấy, anh đã cho ra đời tác phẩm bất hủ của anh, nhan đề "Nghệ Thuật Chỉ Đạo Chiến Tranh", tác phẩm đã làm say mê một Tướng lĩnh như Trình Minh Thế. Quả thật, tôi không thể tưởng tượng anh, với tuổi tác ấy, lại có thể sáng tác một cuốn sách chuyên bàn về binh cơ chiến lược, với cái giọng cứng rắn lão luyện như một cụ già 70, và như một kẻ từng trải bách chiến vậy. Tôi hơi ngạc nhiên thấy nơi trang đầu cuốn sách khô khan kia, cuốn sách chỉ dành riêng cho người ham mê chiến trận, lại có một bài thơ ướt át ca tụng mối tình "Chày tre cối đất" nơi thôn dã. Tôi hỏi lý do thì anh toe miệng cười mà bảo: "Thì chính vì nó khô khan, nên mình phải thêm chút ướt át, người ta mới đọc chứ." Hóa ra là thế. Thời gian gần gũi hoạt động chung với nhau, tôi có khuyên anh nên cẩn thận trong cách cư xử đối với người chiến sĩ Cao Đài. Tôi bảo: "Anh sống ngay trong đoàn thể Cao Đài, mà anh quá sơ suất, không biết gì về tập quán của họ. Phải biết rằng người chiến sĩ Cao Đài phải vào ra sương gió suốt cả cuộc đời mới có được chút địa vị, chỉ hơn nhau một cấp cũng đã phải gọi bằng "Ngài". Âý vậy mà anh lại mày tao với họ, thì là điều tối kỵ. Chẳng những thế, anh còn ngồng nghênh gọi ông Tướng Tổng Tư Lệnh của họ bằng "Anh", thì quả thật anh quá vụng về và dại dột, tôi e cho anh sẽ khốn khổ về chuyện đó." Tiếc thay, Hồ Hán Sơn vẫn tính nào tật ấy, và quả nhiên sau anh tan nát cả cuộc đời tài hoa, vì những xích mích thù hằn do cái tính ngông nghênh kia gây ra.

Nào có gì quá lắm đâu, chỉ có một lúc Hồ Hán Sơn bỗng nhiên bị thất sủng trong nội bộ, bị đưa về "an trí"; tại đường Phát Diệm. Một hôm anh nhận lời mời đi ăn cơm với Bộ Trưởng Thông Tin Trần Chánh Thành, tức thì kẻ bộ hạ chung quanh coi như anh đã "đào ngũ", tư thông với địch (vì lúc ấy Tướng Phương đang triệt để chống chính quyền). Họ bèn báo cáo với Tướng Phương. Ông này không kịp suy nghĩ kỹ, nghe theo lời chỉ nghị của các cấp, bắt Hồ Hán Sơn hạ ngục. Hôm Hồ Hán Sơn bị đưa ra xử trước một phiên họp cao cấp của Cao Đài tại số 195 đường Công Lý, tôi có được mời tham dự, mặc dù tôi là người ngoài. Cựu Bộ Trưởng Thông Tin Phạm Xuân Thái có lên tiếng bênh vực Hồ Hán Sơn. Riêng phần tôi, tôi đã cố sức cứu sống anh bằng một câu nói: "Cá nhân tôi không có quyền chen lấn vào vấn đề kỷ luật nội bộ của quý đoàn thể. Tuy nhiên tôi đã được mời tham dự buổi họp hôm nay, thì xin cho tôi được nói rằng, nếu quý đoàn thể có kết tội Hồ Hán Sơn, thì cũng xin cho anh ấy được hưởng trường hợp giảm khinh. Vì đây là một nhân tài mà đất nước rất cần dùng mai sau. Bằng mọi cách, chúng ta phải giữ nhân tài ấy lại. Tôi xin quý đoàn thể đừng nở thẳng tay mà uổng phí một người hiếm có trên đời." Buồn thay, mặc cho Phạm Xuân Thái và tôi biện hộ, Tướng Phương vẫn hạ lệnh còng tay Hồ Hán Sơn, rồi sai lính áp tải anh trên xe Jeep, đưa anh về nhốt tại nhà giam Bến Kéo, Tây Ninh.

Tôi đã khóc ròng khi tiễn chân anh. Tôi không thể nào tưởng tượng Trung Tướng Nguyễn Thành Phương lại nở đối xử với anh đến nông nỗi ấy. Một thanh niên tài hoa, một con người đầy nhiệt huyết, nay bỗng chốc biến thành một thằng tù mặt mày hốc hác, miệng câm như hến, bị ngược đãi bởi chính ngay người anh em trước đây đã nức nở ca tụng mình. Anh có tội tình gì? Chẳng qua vì buồn rầu, bị đoàn thể nhất đán bỏ rơi, anh có nhận lời đi ăn uống tiếp xúc với người trong chính quyền, thì cũng chưa hẳn là cái tội đáng bị hành hạ tù đày. Anh là một thanh niên có nghệ sĩ tính, ít chú trọng tới những lắt léo nhỏ nhặt trong cuộc đời, Tướng Phương ít nhất cũng phải hiểu cho anh điều đó mà tha thứ.

Ngày 15 tháng 2 năm 1956, Thủ Tướng Diệm bất thình lình cử Tướng Văn Thành Cao cầm đầu Chiến dịch Bình Định Miền Đông, đặt Bộ Chỉ Huy ngay tại Tòa Thánh Tây Ninh. Đây là một ngón độc thủ của Chính quyền đối với Tướng Phương, là cái hậu quả tất yếu của việc Phương chống báng. Ông này vô cùng hoảng hốt lo sợ. Thừa dịp ấy, bí thư của ông là Trung Uý N.N.V, một người ít học nhưng nhiều tham vọng, lại sẵn có mối thù riêng với Hồ Hán Sơn từ thuở nào, nên không cần đợi lệnh thượng cấp, N.N.V. đem ngay Hồ Hán Sơn ra giết chết, rồi ném thây xuống giếng, lấp lại. Trước khi thọ hình, Sơn còn để lại nhiều bài thơ nghĩa khí trên vách nhà giam mà tôi không nhớ được. Chính Văn Thành Cao đã cho tôi biết tin sét đánh này, và cũng chính Văn Thành Cao đã chỉ cho tôi xem nơi Hồ Hán Sơn bị vùi dập. Cái chết oan ức này của người anh em họ Hồ đã là một trong các lý do khiến tôi phải gấp rút bỏ nước ra đi ngày 20 tháng 2 năm ấy, giữa lúc không ai ngờ tới. Ngay cả Văn Thành Cao và Nguyễn Thành Phương cũng chẳng hiểu tại sao tôi bỏ đi một cách vội vàng. Chỉ riêng với Tướng Phương là tôi có nói rõ ý quyết ra đi, nhân lúc tới dự buổi tiệc trà mừng Ngày Xuất Quân của Quân Đội Cao Đài được tổ chức hàng năm từ khi quân đội ấy được thành lập. Phương đích thân cầm tiễn chân tôi tròn trặn một ngàn bạc đổi sẵn ra tiền Miên để làm lộ phí. Vậy mà về sau, Bộ Trưởng Trần Chánh Thành lại xúi giục báo chí Saigon vu khống tôi "mang theo 30 triệu bạc, 10 chiếc xe hơi", tôi nghỉ cũng thật thấm thía.

Việc Hồ Hán Sơn bị giết, tôi biết như trên, nhưng tôi cũng đành để bụng, và không nở trách Tướng Phương trong cơn bối rối, đã để xảy ra một tấn kịch đau thương. Năm 1961, em ruột Hồ Hán Sơn là H.M.H. bỗng tìm đến tôi hỏi dò chi tiết về cuộc đời anh mình, và xin ý kiến tôi để truy tố Tướng Phương ra trước Tòa án. Nhưng tôi hết lời khuyên giải, bảo rằng: "Ngày nay Tướng Phương đã là người ngã ngựa, dù có đem nội vụ ra trước công lý, thì anh Sơn cũng không còn nữa. Mà đánh kẻ ngã ngựa thì phỏng được gì?" H.M.H. bèn nghe theo tôi mà bỏ đi cái ý định báo thù cho người anh ruột.

Nhắc lại, tôi với Hồ Hán Sơn ngồi trên xe bàn thảo kỹ với nhau về đường lối và kế hoạch, xong đâu đấy mới cùng vào Dinh Độc Lập. Phiên họp được tổ chức tại Phòng Khánh Tiết chính, ở về phiá tay trái Dinh Độc Lập, từ ngoài cổng trông vào. Chúng tôi bắt gặp khá nhiều nhân vật tên tuổi đã tề tựu, trong số có các ông Nguyễn Bảo Toàn (Bí Thư Đảng Dân Xã), Đoàn Trung Còn (Tịnh Độ Cư Sĩ), Luật sư Hoàng Cơ Thụy (Phong Trào Tranh Thủ Tự Do), Luật sư Trần Thanh Hiệp, Luật sư Vũ Văn Mẫu, Giáo sư Phạm Việt Tuyền (Chủ Nhiệm báo Tự Do), Bùi Quang Nga, Huỳnh Minh Ý,v..v.. Ai nấy đều mang vẻ mặt trịnh trọng, lo nghĩ, trong khi ngoài vườn Dinh Độc Lập, đạn bích kích pháo của Bình Xuyên vẫn nổ đều đều, làm rung chuyển các cửa kính.

Đúng 10 giờ sáng, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, với bộ quần áo bằng Sharskin trắng, tiến vào phòng họp sau tiếng hô của một nhân viên nghi lễ. Mặt ông nặng vẻ ưu tư, khác hẳn với gương mặt rạng rở thuở xưa, lúc ông vào thăm viếng chiến khu Liên Minh, ông mở lời cám ơn tất cả mọi người, rồi tuyên bố lý do như đã trình bày đại khái trong bức thư mời trước. Chỉ một vài câu vắn tắt, xong ông lại xin phép rút lui ngay "để quý Ngài được tự do thảo luận!" Cử tọa ngạc nhiên, bởi ai cũng tưởng Thủ Tướng Diệm sẽ cùng ngồi lại với các nhân vật chính trị để bày tỏ quan điểm của riêng ông đối với việc Bảo Đại gọi ông sang Pháp. Đây cũng là một bằng cớ cho thấy Thủ Tướng Diệm khá tôn trọng tinh thần dân chủ. Việc ông đi hay ở sau này là do đại chúng toàn quyền định đoạt, chứ ông không có ý định chi phối lập trường các đoàn thể cũng như các nhân sĩ có mặt.

Hội nghị bắt tay vào việc ngay tức khắc. Ông Nguyễn Bảo Toàn được bầu làm Chủ Tọa, và ông Phạm Việt Tuyền làm Thư Ký buổi họp. Tôi liếc thấy ai nấy đều chăm chỉ nghiên cứu bức thư mời của Thủ Tướng Diệm, và dường như người nào cũng chỉ có ý định sẽ thảo luận chung quanh đề tài "Nên hay không nên tán thành cho Thủ Tướng Diệm qua Pháp theo lệnh của Bảo Đại" mà thôi.

Tôi bèn "nổ phát súng" đầu tiên: - Thưa quý vị, tôi được chỉ thị của đoàn thể chúng tôi là Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến Việt Nam, tới đây gặp quý vị không phải để nói chuyện về việc Cụ Thủ Tướng Ngô Đình Diệm có bổn phận hay không có bổn phận thi hành lệnh triệu thỉnh của Bảo Đại. Mà trái lại, tôi xin thẳng thắn đặt vấn đề là đã đến lúc chúng ta cần truất bỏ quyền hành của ông Quốc Trưởng vô dụng kia đi. Là vì ông ta đang làm một việc trái với nguyên tắc lãnh đạo quốc gia. Thử hỏi, thành phố Saigon đang có biến, dân chúng đang xôn xao lo sợ, tại sao ông Bảo Đại lại chọn ngay chính lúc này để bắt buộc Cụ Thủ Tướng phải bỏ nước sang tận bên Pháp xa xôi kia, để gọi là "tham khảo ý kiến?" Tham khảo cái gì? Phải chăng đây là mưu kế nhằm lật đổ Chính phủ này? Vậy tôi xin tuyên bố dứt khoát, nếu quý vị bằng lòng thảo luận việc truất phế Bảo Đại ngay bây giờ, thì tôi ở lại. Bằng không, tôi xin phép ra khỏi phòng họp này ngay.

Cả cử tọa bàng hoàng trước lời đề nghị cứng rắn của tôi. Hồ Hán Sơn không chậm trễ, lên tiếng phụ họa theo: - Nhân danh Việt Nam Phục Quốc Hội, chúng tôi đồng ý với Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến, yêu cầu quý vị đừng bận tâm tới lệnh triệu thỉnh vô lý của Bảo Đại nữa, mà hãy đồng tâm làm một cuộc cách mạng, chấm dứt ngay vai trò của ông Quốc Trưởng Bảo Đại kia đi cho xong. Nếu đến ý kiến này không được hưởng ứng, tôi cũng xin rút lui ngay tức khắc.

Thế là hai anh em chúng tôi, kẻ tung người hứng, nhanh chóng chuyển cuộc họp đi sang một hướng khác mà không ai ngờ tới. Đáng chú ý ở chổ ông Nguyễn Bảo Toàn là người đầu tiên lên tiếng tán thành việc truất phế Bảo Đại, khiến các nhân vật khác không ngần ngại nối gót theo ông. Nên nhớ là hồi mùa hạ năm 1948, ông Nguyễn Bảo Toàn, Bí Thư Đảng Dân Xã (Hòa Hảo), đã là một trong số các lãnh tụ quốc gia bay sang Hồng Kông, xây dựng cái gọi là "Giải Pháp Bảo Đại", sau khi Cao Uỷ Pháp Emile Bollaert lên tiếng tại Hà Đông, bày tỏ lập trường Pháp không muốn nói chuyện điều đình với Hồ Chí Minh nữa, và muốn giải quyết vấn đề Việt Nam với cánh quốc gia có uy tín. Ta có thể nói ông Nguyễn Bảo Toàn đã có công với giải pháp Bảo Đại, vậy mà nay chính ông lại mau chóng đồng ý phế bỏ Bảo Đại trước hết, thành thử các đoàn thể và nhân sĩ khác thấy không còn lý do gì để thắc mắc nữa.

Bầu không khí bỗng sôi nổi hẳn lên. Nhất là các đoàn thể hoặc tổ chức lâu nay vốn có lòng ủng hộ Thủ Tướng Ngô Đình Diệm thì lại càng bồng bột quá khích hơn ai hết. Từ chỗ thụ động, họ bước sang thế chủ động, hy vọng nhờ có chúng tôi đứng mũi chịu sào, họ sẽ trừ khử được một con "Ngoáo Ộp" từng làm Thủ Tướng Diệm quên ăn mất ngủ. ông Bùi Quang Nga, hiệu là Văn Ngọc, vừa hô to "Đả đảo Bảo Đại!", vừa tuột giày, ném thẳng lên bức chân dung to tướng của Bảo Đại treo trên vách phòng Khánh Tiết. Tiếp đó, người ta đưa ý kiến triệt hạ ngay bức chân dung kia xuống, và người ta công cử cá nhân tôi đứng ra làm cái công việc tượng trưng, chấm dứt một triều đại, đánh dấu một khúc quanh lịch sử. Tôi được nhiều nhân vật - đáng chú ý nhất là Luật sư Vũ Văn Mẫu (ông Thủ Tướng cuối cùng của nền Đệ Nhị Cộng Hòa) - xúm nhau lại công kênh tôi lên vai họ, để triệt hạ bức chân dung quá sức đồ sộ của Bảo Đại. Bức chân dung ấy hàng ngày ngự trị trong Dinh Độc Lập, nói lên cái quyền tối thượng của một ông Quốc Trưởng bù nhìn hơn một lần đã đầu hàng cộng sản vô điều kiện, đã đem cả ấn kiếm nhà Nguyễn cúi đầu dâng cho tên cán bộ cộng sản Trần Huy Liệu ngày 23 tháng 8 năm 1945 tại cố đô Huế, rồi còn cố che đậy sự hèn nhát của mình bằng một câu nói hài hước "Thà làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ", ông vua thoái vị ấy tưởng đã nằm chết dí bên Hồng Kông, nếu không nhờ các lãnh tụ quốc gia làm cho sống lại, để được Pháp điểm tô mày mặt đưa về nước hồi 1949, để cuối cùng chẳng làm nên trò trống gì cho quê hương xứ sở.

Tưởng cũng nên nhắc lại là mùa thu năm 1945, Bảo Đại quá khiếp sợ trước "thế lực tưởng tượng" của bè lũ Hồ Chí Minh, nên không dám có hành động nào khác hơn là đầu hàng cộng sản cho nhanh chống để được yên thân. Sau khi trao ấn kiếm cho tên Trần Huy Liệu (nguyên là một thành phần quốc gia đã bán rẻ linh hồn cho cộng sản) trong một buổi lễ vô cùng tủi nhục trước bao nhiêu tiếng khóc nức nở của Hoàng Thân Quốc Thích nhà Nguyễn, Bảo Đại bay ngay về Hà Nội, vui vẻ đóng vai "Cố vấn Vĩnh Thụy" cho đẹp lòng Hồ Chí Minh, bằng cách tham dự tất cả các cuộc hội hè do cộng sản tổ chức. Ông sống quá bình thản vô tư, cho đến nỗi anh em quốc gia rất lấy làm lo ngại cho tương lai ông. Họ âm thầm tìm cách cứu ông ra khỏi cái cảnh một thằng tù bị giam lỏng trong căn nhà bên cạnh bờ hồ Hoàn Kiếm. Lúc bấy giờ, nhà Lĩnh tụ Dân Chính là Nguyễn Tường Tam đang giữ chức Ngoại Trưởng trong Chính phủ Liên Hiệp quốc cộng, và ông Nghiêm Kế Tổ làm Thủ Trưởng. Hai nhân vật này kín đáo bàn bạc với nhau và nảy ra sáng kiến ngoại giao thần tình. Thừa lúc Hồ Chí Minh đang gặp khó khăn với Tướng Trung Hoa Dân Quốc là Lu Hán, họ Nguyễn và họ Nghiêm bèn đề nghị với Hồ Chí Minh là nên vận động cách nào cho "Cố Vấn Vĩnh Thụy" được Chính Phủ Trung Hoa của Thống Chế Tưởng Giới Thạch tự động mời sang Trùng Khánh, để gọi là "thắt chặt tình bang giao giữa hai nước."

Hồ Chí Minh không khác nào kẻ đang "buồn ngủ gặp chiếu manh", tức thì chộp ngay lấy đề nghị trên của ông Thứ Trưởng Ngoại Giao Nghiêm Kế Tổ, vì tự nghĩ rằng cá nhân họ Hồ không thể nào vác mặt sang Trùng Khánh, mà "Cố Vấn Vĩnh Thụy" thì có thể được tiếp đón dễ dàng. Biết đâu ông Cố vấn vô quyền kia sẽ giúp cho Chính phủ Hồ Chí Minh được Thống Chế Tưởng Giới Thạch "thông cảm" hơn mà bớt đi một số áp lực qua bàn tay Lu Hán. Hồ Chí Minh đâu có ngờ mắc mưu Nghiêm Kế Tổ. Nực cười hơn nữa, họ Hồ không ngần ngại nhờ ngay Nghiêm Kế Tổ phụ trách cho việc vận động với Chính Phủ Trùng Khánh để "Cố Vấn Vĩnh Thụy" chóng thi hành sứ mạng ngoại giao với nước láng giềng. Ta nên biết Nghiêm Kế Tổ vốn là một lãnh tụ quốc gia Việt Nam sống lưu vong gần suốt cả cuộc đời bên nước Trung Hoa, nói thạo Hoa ngữ không khác nào người dân bản xứ, và có rất nhiều bạn hữu thế lực trong Chính quyền Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Đặc biệt họ Nghiêm lại có mối giao hảo đậm đà với cá nhân Thống Chế Tưởng Giới Thạch, được Thống Chế coi như một đồng chí ruột thịt.

Thế là hai ông Nguyễn Tường Tam và Nghiêm Kế Tổ bèn gấp rút nhờ ngay Tướng Lu Hán đứng ra dàn xếp nội vụ. Chẳng bao lâu, Hồ Chí Minh nhận ngay được công hàm của Chính phủ Trung Hoa, chính thức mời "Cố vấn Vĩnh Thụy" sang thăm Trùng Khánh, lại cung cấp luôn cả phi cơ đặc biệt cho Cố Vấn lên đường nhanh chóng. Điều hài hước trong vụ này là chính cá nhân ông Bảo Đại cũng vẫn ngây thơ tin tưởng rằng ông sắp phải thay mặt Hồ Chí Minh, đóng một vai trò ngoại giao với nước bạn. Chứ ông hoàn toàn không biết là có người đang bí mật giúp ông thoát khỏi cảnh ngục tù.

May mắn thay, mãi cho tới lúc máy bay cất cánh rồi, Hồ Chí Minh - một con cáo già đại gian đại ác - mới chợt tỉnh ngộ, mới ngây mặt ra mà ý thức rằng Bảo Đại ra đi phen này hẳn không bao giờ còn trở lại nữa. Càng nhận sự ngu ngốc của mình, Hồ Chí Minh càng nổi giận, đang đêm sai người đi lùng kiếm người tình cũ của Bảo Đại là L.L.H. đưa về Bắc Bộ Phủ, giao cho sứ mạng đuổi gấp theo Bảo Đại. L.L.H. được cấp một ngân khoản kếch sù, với chỉ thị minh bạch là "Bằng mọi cách, phải quyến rũ, mê hoặc, đem Bảo Đại trở về Việt Nam cho bằng được."

Nhưng kế hoạch kia hoàn toàn thất bại. Vì khi người phụ nữ kia sang tới Côn Minh, thì Bảo Đại đã được đón về Trùng Khánh từ lâu rồi. Không làm xong sứ mạng, L.L.H. sợ bị tù tội, nên ở luôn lại xứ Trung Hoa, rồi lần mò về Hồng Kông làm nghề vũ nữ. Tới khi Pháp đã chiếm đóng Hà Nội, cô ta thảnh thơi về nước, đêm đêm tới các vũ trường, đem cái sứ mạng thủa xưa ra kể cho nhiều người nghe biết.

Về phần Bảo Đại, được ít lâu, cũng lại từ bỏ Trùng Khánh xuống Hồng Kông trú ngụ. Tới lúc này thì cuộc kháng chiến toàn quốc đã bùng nổ, Chính phủ Hồ Chí Minh rút về mạn biên giới Hoa Việt. Người Pháp thấy đã đến lúc nên đóng cửa rút cầu với phe cánh Hồ Chí Minh, nên Cao Ủy Pháp Emile Bollaert được lệnh lên tiếng rêu rao muốn điều đình với một chính phủ Việt Nam khác do người quốc gia cầm đầu. Khi lên tiếng như thế, Pháp đã nhìn tới con người Bảo Đại. Và báo chí bên Pháp bắt đầu đưa ra luận điệu phủ nhận việc Bảo Đại thoái vị hồi mùa thu năm 1945, coi việc ấy như một sự cưỡng bức dưới áp lực cộng sản. Và đương nhiên là Bảo Đại vẫn còn được coi như đang nắm giữ trong tay sự liên tục hợp pháp của chính quyền Việt Nam. Nhờ đó mà ''Lá bài Bảo Đại'' trở nên sống động. Trên lãnh thổ Trung Hoa, các lĩnh tụ Việt Nam lưu vong - kể cả ông Nguyễn Tường Tam và Nghiêm Kế Tổ là hai người đã trực tiếp cứu mạng Bảo Đại - đều tán đồng giải pháp mới. Còn bên phía Việt Nam, thì trong các phần đất do Pháp kiểm soát, người quốc gia đang lạc loài ngơ ngác, thấy ván bài Bảo Đại được Pháp tung ra thì vội vàng chụp lấy. Giữa mùa hè năm 1948, một số chính khách Việt Nam, hoặc tự động hoặc do Pháp âm thầm xúi dục, rủ nhau bay sang Hồng Kông tiếp xúc với Bảo Đại. Trong số những người này, trong Nam thì có Trung Tướng Nguyễn Văn Xuân (con cờ của Pháp), Nguyễn Bảo Toàn, Lưu Đức Trung, miền Trung có Nguyễn Khoa Toàn, Trần Văn Lý, Hà Xuân Tế, ngoài Bắc có Nghiêm Xuân Thiện, Trần Trung Dung, v…v…

Từ cuộc tiếp xúc sơ bộ kể trên đã đẻ ra một chính phủ mới mệnh danh là "Chính Phủ Trung Ương Lâm Thời Việt Nam" được thành lập vào khoảng tháng 8 năm 1948, và do Trung Tướng Nguyễn Văn Xuân cầm đầu. Để có một bộ mặt tượng trưng thống nhất, Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân đã dời tất cả các bộ sở từ Saigon ra Hà Nội, không quên mang theo một số xe cộ. Vì đất Bắc lúc bấy giờ hết sức nghèo nàn kiệt quệ, dân chúng mới rải rác hồi cư không tiền mua sắm, còn chính quyền thì không biết tìm đâu ra nhà cửa thích hợp để đặt bàn giấy. Thậm chí ông Tổng Trấn Nghiêm Xuân Thiện đã phải chiếm đoạt cả một trường nữ học tại đường Đồng Khánh để thiết lập Tổng Trấn Phủ. Còn Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân thì chiếm Bắc Bộ Phủ đối diện với nhà hàng Métropole, đem Trung Uý Lê Văn Kim theo ra Bắc làm Tùy Viên Quân sự. Nhưng chính phủ Nguyễn Văn Xuân chẳng có nhiệm vụ nào khác hơn là dọn đường cho Bảo Đại về nước chấp chính. Hơn một năm sau, tháng 10 năm 1949, khi mọi việc sắp đặt đã xong, Bảo Đại cảm thấy địa vị mình khá vững, nên mới từ Pháp bay về Việt Nam, nhập nhằng với cái danh nghĩa "Cựu Hoàng", rồi giải tán Chính phủ Nguyễn Văn Xuân để tự mình đứng ra làm Thủ Tướng đầu tiên của triều đại mới.

Lúc đầu, dư luận ở các vùng Pháp chiếm đóng cũng có vẻ thuận lợi cho lá bài Bảo Đại. Nhưng chẳng bao lâu, Bảo Đại đã làm nản lòng quốc dân. Người quốc gia chống cộng thấy không thể trông mong gì nơi ông để xây dựng lại một nước Việt Nam độc lập. Ông quay ra sống bê tha lêu lổng, phó mặc việc nước nhà trong tay các ông Thủ Tướng kế tiếp như Nguyễn Phan Long, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, và cuối cùng là Bửu Lộc. Còn phần ông, thì luôn luôn ẩn mình trên thành phố Đà Lạt, rồi lại bỏ sang Pháp. Ông đã quá sức phụ lòng những người đã nỗ lực giúp ông tái xuất hiện trên chính trường Việt Nam, để xóa đi cái nhục đầu hàng cộng sản hồi năm xưa.

Tới khi cuộc chiến Việt Nam kết liễu bằng trận Điện Biên Phủ, nước nhà bị chia đôi, con người vô trách nhiệm kia lại còn gượng gạo đứng lên, đòi làm chủ Miền Nam một lần thứ hai nữa. Nhưng mộng ấy không thành, khiến ông đành tạm thời giữ cái hư vị "Quốc Trưởng", bị cầm chân vĩnh viễn bên đất Pháp, và miễn cưỡng chỉ định nhà cách mạng Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ mới, với tất cả sự bất mãn thù hằn. Thế cho nên, khi Thủ Tướng Ngô Đình Diệm cầm quyền, dù với thái độ khiêm cung thành tín "Thừa lệnh Đức Quốc Trưởng", Bảo Đại vẫn không ngừng quấy phá nơi hậu trường, bằng cách ngấm ngầm xúi dục Bình Xuyên chống đối vũ trang, sai Tướng Nguyễn Văn Hinh chửi rủa ngày đêm, ra lệnh cho Tướng thân cận là Nguyễn Văn Vỹ âm mưu cướp chính quyền, lén lút mặc cả với Bình Xuyên để sắp đặt cho ông Lê Văn Viễn lên làm Thủ Tướng. Tự thủy chí chung, người ta thấy Bảo Đại không hề nghĩ gì tới số phận nước nhà trước cái hiểm họa cộng sản, mà chỉ mong thỏa mãn ý muốn riêng tư mà thôi.

Một con người như thế quả thật không còn xứng đáng nắm vai chủ chốt, mà bức công hàm triệu thỉnh Thủ Tướng Ngô Đình Diệm sang Pháp giữa lúc Bình Xuyên đang nổi loạn, quả là "Giọt nước làm tràn miệng ly", không ai có thể chấp nhận được. Một cuộc cách mạng phải xảy ra. Và cuộc cách mạng ấy đã xảy ra tại Dinh Độc Lập ngày 29 tháng 4 năm 1955, Cho nên, khi cái khung hình gỗ nặng nề của Bảo Đại rơi đánh đùng một tiếng xuống nền Dinh Độc Lập, thì bao nhiêu gót giầy cùng dẫm lên giữa những tiếng la hét giận dữ.

Các sự việc trên đã diễn ra sau khi Hội Nghị bầu ra một "ỦY BAN CÁCH MẠNG", sau đổi là "Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng", rồi lại đổi tiếp là "Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng Quốc Gia", thể theo ý kiến của một số nhân vật "yếu bóng vía", cứ mãi lo sợ ỦY BAN CÁCH MẠNG kia sẽ đi theo con đường cực đoan không có lợi cho Chính quyền Ngô Đình Diệm. ỦY BAN CÁCH MẠNG sơ khởi được đặt dưới quyền lãnh đạo của 3 người, là Nguyễn Bảo Toàn, Chủ Tịch, Hồ Hán Sơn, Phó Chủ Tịch, và tôi, Tổng Thư Ký. Thêm một số Ủy Viên như Luật sư Hoàng Cơ Thụy, Luật sư Trần Thanh Hiệp, Cư Sĩ Đoàn Trung Còn, và Bà Đức Thụ, một người phụ nữ suốt đời hy sinh cho cách mạng. Ít lâu sau, người của chính quyền cố chen chân vào nắm thêm các ghế Ủy Viên như Cụ Huỳnh Minh Y, ông Nguyễn Hữu Khai chẳng hạn.

Trong bầu không khí tột cùng sôi nổi - có lẽ chỉ thấy xảy ra một lần duy nhất tại Dinh Độc Lập mà thôi - các diễn giả dần dần buông rơi hết mọi sự dè dặt buổi đầu, để trở nên nhiệt thành với cách mạng, và dơ tay tán đồng một cách nhanh chóng, dễ dàng, mọi ý kiến do tôi và Hồ Hán Sơn lần lượt đưa ra. Hội Nghị đã lưu lại cho lịch sử một Bàn Quyết Nghị nảy lửa gồm 3 điểm then chốt như sau:

1. Truất phế Bảo Đại.

2. Giải tán Chính phủ Ngô Đình Diệm.

3. Uỷ nhiệm Chí sĩ Ngô Đình Diệm thành lập Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời, tổ chức tổng tuyển cử, tiến tới chế độ Cộng hòa.

Có một điều đáng nói, là sau khi tuyên bố giải tán Chính phủ Ngô Đình Diệm xong rồi, các diễn giả đâm ra lúng túng, không biết dùng tước hiệu gì kèm theo cái tên của Cụ Ngô Đình Diệm, chả nhẽ lại gọi trống không thì khiếm nhã. Tôi bèn đề nghị hai chữ "Chí sỉ'' và được cử tọa hoan nghênh. Kể từ đó, danh từ "Chí sĩ'' kia thường được nhắc nhở trong dư luận. Tôi nhìn đồng hồ lúc ấy vừa đúng 5 giờ chiều. Nghĩa là cuộc họp đã kéo dài suốt 7 tiếng, được chính phủ cung cấp bữa ăn trưa đạm bạc bằng bánh mì thịt nguội và nước ngọt.

Bây giờ là lúc cử tọa đề nghị Chủ Tịch Nguyễn Bảo Toàn thân hành đi mời Thủ Tướng Ngô Đình Diệm xuống phòng họp để nghe kết quả. Khi Thủ Tướng nghe xong, tôi thấy mặt ông tái hẳn đi. Tôi chắc ông không ngờ cuộc Hội Nghị bất thường này lại quay hẳn sang một chiều hướng khác, dẹp tan cái chuyện "Thủ Tướng nên hay không nên đi sang Pháp", và lôi kéo ông đi một bước quá xa như vậy. Thâm tâm ông chỉ muốn được khuyến cáo là có nên thi hành mệnh lệnh của Bảo Đại hay không mà thôi. Ai ngờ bây giờ chẳng những người ta không chịu để ông đi, mà người ta còn hất chân ông Quốc Trưởng, và giải tán luôn cái Chính phủ hiện hữu của ông, thì hỏi còn cái biến cố nào đáng ghê sợ hơn?

Thành thật mà nói, Thủ Tướng Diệm không thể không vui mừng khi hất đi được cái gánh nặng ''Thừa Ủy nhiệm Đức Quốc Trưởn'' trên vai, khi loại bỏ đi được một hình ma bóng quế luôn luôn đe dọa ông trong khi hành xử quyền hành. Tuy nhiên, hất cái gánh nặng kia đi, thì lại đèo lên vai cái gánh nặng mới khác của ỦY BAN CÁCH MẠNG, phải chịu quyền uỷ nhiệm của Cách Mạng trong những ngày sắp tới, thì còn biết xử trí làm sao đây? Cho nên, Thủ Tướng Diệm thoáng lộ vẻ đăm chiêu, và nói bằng một giọng trầm mặc: "Xin quý Ngài cho tôi được có thì giờ suy nghĩ kỹ về vấn đề trọng đại này!"

Tôi muốn thuật rõ các chi tiết trên đây để đánh đổ luận điệu ngu ngốc xuyên tạc của mấy ký giả Tây Phương cho rằng Thủ Tướng Diệm đã "sắp đặt" và đã dùng tiền bạc để mua chuộc các đoàn thể chính trị, nhằm "Đẻ" ra một cuộc cách mạng giả tạo để củng cố quyền hành. Sự thực cho thấy, Thủ Tướng Diệm không "Đẻ" ra được cái gì sốt cả, và ông Tướng Mỹ Edward Lansdale cũng chả đóng được "vai trò đạo diễn" nào trong sự thay đổi lịch sử, như bọn nhà báo Tây Phương đã xác quyết. Trái lại, Thủ Tướng Diệm bị đặt trước sự đã rồi, bị ép buộc đi vào con đường Cách mạng lật đổ Triều Nguyễn bằng Quyết Nghị lịch sử ngày 29 tháng 4 năm 1955. Cánh cửa cách mạng đã mở sẵn, Thủ Tướng Diệm chỉ còn bước qua bằng cuộc "Trưng Cầu Dân Ý" ngày 26 tháng 10 là xong ván bài Bảo Đại. Các nhà báo Tây Phương toa rập với bọn cộng sản Hà Nội, luôn luôn xuyên tạc và bôi nhọ Miền Nam, luôn luôn chối bỏ các biến cố lịch sử đương nhiên tại Miền Nam. Nhưng lịch sử bao giờ cũng là lịch sử, biến cố bao giờ cũng là biến cố từ lòng dân chúng Miền Nam phát ra. Và riêng tôi xin làm một chứng nhân, sẵn sàng đương đầu với bất cứ ai ngoan cố cho rằng cuộc Cách Mạng ngày 29 tháng 4 là một cuộc cách mạng giả tạo, là "sản phẩm" của chế độ Ngô Đình Diệm.

Mặc cho thái độ dè dặt thận trọng của Thù Tương Ngô Đình Diệm, Đài Phát Thanh Saigon tối hôm ấy cũng vẫn loan tin đầy đủ về cuộc Cách Mạng mới xảy ra. Họ cho thính giả nghe lại mấy đoạn thu băng về lời phát biểu của tôi và các diễn giả khác. Nếu đã biết Đài Phát Thanh Saigon không dám tự quyền loan tin nếu không được lệnh Chính phủ, thì cách thức loan tin đầy đủ như trên chứng tỏ Thủ Tướng Diệm đã mặc nhiên chấp thuận rồi. Ngoài Miền Trung, ông Ngô Đình Cẩn chưa hiểu rõ đầu đuôi, và cũng không thèm hỏi thăm tín tức nơi Chính phủ, tưởng lầm là Chính phủ Ngô Đình Diệm đã bị lật đổ mất rồi, nên vội vàng tổ chức một cuộc biểu tình vĩ đại, "truất phế"; luôn chức Đại Biểu Chính Phủ của Nguyễn Đôn Duyến. Sở dĩ ông Cẩn làm như vậy là - theo như chính lời ông thuật lại với tôi - ông mong mõi ít nhất cá nhân ông cũng còn níu kéo lại một phần nào quyền hành tại Miền Trung khi Chính phủ Trung ương "không còn nữa". Việc này đã gieo khá nhiều rắc rối cho Thủ Tướng Diệm, và để lại một số giai thoại buồn cười giữa ông Cẩn với Thủ Tướng Diệm. Ngày 15 tháng 6 năm 1955, tôi ra Huế thăm ông Ngô Đình Cẩn tại Phú Cam. Ông niềm nở đưa tôi vào vấn an Cụ Bà Ngô Đình Khả, và giới thiệu với Cụ Bà tôi là "bạn của anh Diệm con". Sau đó, ông chính thức tiếp tôi với sự chứng kiến của ông "Tân Đại Biểu" Nguyễn Đôn Duyến. Ông Cẩn vui vẻ thuật lại câu chuyện "Truất phế Nguyễn Đôn Duyến" như vừa kể trên, và ông cho hay "Anh Diệm mắng tôi như tát nước vào mặt", vì đã vô tình "làm cách mạng" chống lại anh mình, ông cho tôi xem một số thư từ mà Thủ Tướng Diệm và ông cố Vấn Nhu viết riêng cho ông, với lời lẽ khiển trách rất nặng nề. Tôi không thể nín cười được.

Sang ngày 30 tháng 4, một cuộc tập hợp tự động của các giới nhân sĩ Saigon được tổ chức tại phòng Khánh Tiết Tòa Đô Chính. Các ông Nguyễn Bảo Toàn, Hồ Hán Sơn và tôi được mời ra thuyết trình về cuộc Cách Mạng ngày hôm trước. Cử tọa vô cùng kích thích, luôn luôn hoan hô tán thưởng. Lại thêm một màn triệt hạ tượng trưng hình ảnh Bảo Đại treo nơi phòng Khánh Tiết. Một đồng bào quá hăng say vác khung hình ném qua cửa, xuống mặt đường trước Tòa Đô Chính, may sao không gây thương tích cho người qua lại. Đồng bào lại yêu cầu được thấy mặt các Tướng lĩnh Trình Minh Thế, Nguyễn Thành Phương và Nguyễn Giác Ngộ, là những nhân vật lãnh đạo của các tổ chức Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến Việt Nam, Việt Nam Phục Quốc Hội, và Việt Nam Dân Xã Đảng. Ba ông này liền xuất hiện một lượt, và được đón tiếp bằng một tràng pháo tay bất tận.

Tướng Nguyễn Thành Phường vốn có tham vọng riêng, nên đã thuyết phục Tướng Trình Minh Thế và Tướng Nguyễn Giác Ngộ, thừa dịp này đứng chung nhau thành một "HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO" bao trùm lên trên ỦY BAN CÁCH MẠNG. Tôi biết Tướng Thế bất đắc dĩ phải nghe lời ông Phưong, vì Tướng Thế đã đồng ý với tôi rằng chỉ một mình ỦY BAN CÁCH MẠNG do các đảng phái và nhân sĩ chính thức bầu ra mới có uy danh thực sự. HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO kia đã gây trở ngại cho chúng tôi không ít. Ông Nguyễn Bảo Toàn rất bất mãn, nhưng ông không dám bộc lộ ý kiến của mình. Cũng cái HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO kia đã gieo rắc sự nghi ngờ trong lòng Thủ Tướng Diệm, khiến chính phủ càng ngày càng ác cảm đối với Tướng Nguyễn Thành Phương và đưa ông tới chỗ suy bại sau này. Riêng tôi, tôi cũng không quan niệm được rằng cuộc cách mạng lại cần phải có một cơ cấu khác bao trùm lên trên, và bị điều khiển bởi các tướng lĩnh. Hơn nữa, cách mạng lại càng không thể tổ chức như một chính đảng với chi nhánh lan tràn khắp nước. Nhưng Tướng Nguyễn Thành Phương vẫn lợi dụng chỗ thân tình, ép buộc tôi và Hồ Hán Sơn làm áp lực với Chủ Tịch Nguyễn Bảo Toàn để thành lập thêm ra "Uỷ Ban Cách Mạng Nam Phần" do cha Phạm Như Phiên cầm đầu, và "Uỷ Ban Cách Mạng Saigon - Cholon" do ông Ngô Quang Châu làm Chủ Tịch. Mặc dù ỦY BAN CÁCH MẠNG trung ương đã có một Ủy Viên Phụ Nữ rất đắc lực và tận tụy là Bà Đức Thụ, sau đó cũng đã thành lập thêm "Uỷ Ban Cách mạng Phụ Nữ" đặt dưới quyền lãnh đạo của Bà Lê Thi Ân, ái nữ Cụ Lê Văn Giải và là bào tỷ của ông Lê Văn Đồng, về sau giữ chức Bộ Trưởng Canh Nông.

Đã thế, cá nhân Hồ Hán Sơn lại phạm thêm một lỗi lầm ngoại giao khác nữa đối với chính quyền, khiến bầu không khí càng thêm khó thở. Số là ngày mồng 3 tháng 8, Hồ Hán Sơn cùng đi với tôi vào Dinh Độc Lập thăm viếng xã giao Thủ Tướng Diệm. Câu chuyện đang vui vẻ, thì chợt Hồ Hán Sơn buột mồm nói với Thủ Tướng Diệm một câu đanh thép: "Xin Cụ cứ lo việc chính quyền, còn phần đại chúng thì xin cứ để mặc chúng tôi điều động." Tôi chết sửng trong lòng trước câu nói quá sức vụng về này. Thủ Tướng Diệm sa sầm ngay nét mặt. Ông có thói quen khi ngồi tiếp khách thì chắp hai tay trước mặt, không bao giờ gác chân nọ lên chân kia hoặc dựa ngửa ra trên ghế. Và hễ gặp chuyện bất bình thì đôi mắt lộ nhiều lòng trắng như chẳng nhìn ai, và ông nói lảng sang chuyện khác ngay.

"Thôi, chẳng còn nghi ngờ gì nữa. Thế này thì rõ ràng là Uỷ Ban Cách Mạng manh tâm khống chế quần chúng, đặt chính phủ vào địa vị bù nhìn, rồi sẽ có ngày cướp đoạt chứ chẳng sai." Tôi chắc Thủ Tướng Diệm đã nghĩ như thế. Hồ Hán Sơn vô tình vẽ ra trong đầu óc Thủ Tướng Diệm hình ảnh một Nguyễn Thành Phương "phản nghịch" mà chính quyền cần phải đối phó. Lúc trở về, tôi thẳng thắn cự tuyệt Hồ Hán Sơn về câu nói vô trách nhiệm của anh. Sơn biết lỗi, ngồi im thin thít.

Do những bất trắc vừa kể trên, mối liên lạc giữa chính quyền với Uỷ Ban Cách Mạng càng ngày càng căng thẳng đến độ nghẹt thở. Trụ sở Cách Mạng đặt tại số 25 đường Phùng Khắc Khoan (nhà riêng của Lai Hữu Tài, Cố vấn Bình Xuyên, bị chính phủ tịch thu và nhường cho Cách Mạng) bị cảnh sát bao vây, khiến tôi phải gọi ông Nguyễn Bảo Toàn cùng tôi đích thân can thiệp, câu chuyện mới yên. Nguyên Bảo Toàn chán nản, bỏ sang Phi Luật Tân một dạo, rồi âm thầm rút khỏi Uỷ Ban Cách Mạng. Hồ Hán Sơn cũng bị Tướng Nguyễn Thành Phương kéo về nằm yên một xó, chẳng hiểu vì sao. Chỉ còn một mình tôi miễn cưỡng chống đỡ tòa nhà đang suy sụp cho tới khi tôi bỏ nước ra đi.

Xin nói tiếp về cuộc họp nhân sĩ tại phòng Khánh Tiết Tòa Đô Chính hôm 30 tháng 4. Sau khi cử tọa biểu quyết xong một bản Quyết Nghị triệt để ủng hộ ỦY BAN CÁCH MẠNG, thì đồng bào giải tán. Còn phần chúng tôi thì rủ nhau đi bộ vào Dinh Độc Lập để thông báo cho Thủ Tướng Diệm biết các diễn tiến, nói đúng hơn là để giới thiệu với ông rằng lòng dân nay đã hướng về một phía, không còn muốn thấy nước nhà dây dưa gì với Bảo Đại nữa cả. Phái đoàn có cả các Tướng Nguyễn Giác Ngộ, Trình Minh Thế và Nguyễn Thành Phương đi theo.

Khi tới nơi vào khoảng 6 giờ chiều. Chúng tôi bắt gặp một số đông sĩ quan Quân Đội Quốc Gia ước chừng 50 người đang ngồi chật cả phòng khách ở từng dưới Dinh Độc Lập. Trên lầu, chúng tôi lại thấy Thiếu Tướng Lê Văn Tỵ đang ngồi trong một phòng khách nhỏ với một tướng lĩnh khác mà tôi không biết tên. Thấy hơi lạ, tôi bèn nhờ Đại Uý Tùy Viên Tạ Thành Long kín đáo đi dò xét tình hình xem tại sao Thủ Tướng Diệm lại định tiếp kiến một lúc quá nhiều sĩ quan như vậy. Tạ Thành Long tìm hiểu đuợc lý do, vội vàng hốt hoảng trở lại cho hay là Tướng Nguyễn Văn Vỹ (người cùng ngồi với Tướng Tỵ) đã thừa lệnh Bảo Đại cướp đoạt quyền binh trong tay Tuớng Tỵ từ lúc chiều, và được Tướng Tỵ cùng các sĩ quan kia hộ tống vào Dinh Độc Lập để cướp đoạt nốt quyền lãnh đạo chính phủ trong tay Thủ Tướng Diệm. Như thế có nghĩa là số người này hoàn toàn đồng lõa với Tướng Vỹ, kéo nhau vào đây tuy không gươm không đao, nhưng rõ ràng là muốn lấy số đông gây áp lực, bao vây Thủ Tướng Diệm như bao vây một con chim nhỏ để bắt buộc ông đằng nào cũng phải nhượng bộ, rời khỏi chính quyền. Cần nhắc lại rằng, Bảo Đại không những triệu thỉnh Thủ Tướng Diệm sang Pháp, mà còn đòi hỏi cả Tướng Lê Văn Tỵ cũng phải bỏ cả nhiệm vụ đi theo. Mặt khác, Bảo Đại đặc phong cho Tướng Nguyễn Văn Vỹ làm Tổng Tư Lệnh Quân Đội Quốc Gia, một điều mà các Tướng Trình Minh Thế, Nguyên Giác Ngộ và Nguyễn Thành Phương đã công khai phản đối bằng một quyết nghị chung. Hành động như trên, quả thực Bảo Đại đã vượt ra ngoài phạm vi thể chế buổi đương thời. Vì một chế độ với Quốc Trưởng, với Thủ Tướng, thì chức Tổng Tư Lệnh phải thuộc về tay Quốc Trưởng, còn người cầm đầu Quân đội chỉ có thể là Tổng Tham Mưu Trưởng mà thôi. Gia chí dĩ, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm khi lãnh đạo chính quyền với điều kiện "Thừa lệnh Đức Quốc Trưởng" tức là mặc nhiên đã là người thay mặt Quốc Trưởng một cách hợp pháp, và mặc nhiên nắm quyền Tổng Tư Lệnh tối cao. Vậy tại sao Bảo Đại còn phong chức Tổng Tư Lệnh cho Tướng Nguyễn Văn Vỹ nữa?

Khi nghe biết được biến cố trọng đại như trên, ai nấy bàng hoàng sửng sốt. Biết được người đeo lon Thiếu Tướng lạ mặt kia là Nguyễn Văn Vỹ, tôi liền nảy ngay ra ý kiến bắt ông ta tại chỗ. Tôi chỉ kịp bàn qua vài câu với các Tướng Trình Minh Thế và Nguyễn Thành Phưong, và cả hai ông đồng ý gật đầu cho tôi ra tay. Thế là tôi lặng lẽ tiến ra hành lang phía sau Dinh Độc Lập, khi tới chỗ phòng khách nơi ông Vỹ đang ngồi tư lự, tôi nhanh nhẹn rút khẩu súng Colt - 45 trong chiếc cặp ra, chĩa thẳng vào người Tướng Vỹ, ra lệnh: "Dơ tay lên! Không tôi bắn!"

Tướng Tỵ trông thấy trước, vội đứng ngay lên, và Tướng Vỹ cũng hoảng hốt đứng lên theo, hai tay dơ cao khỏi đầu. Tướng Tỵ liền liều mạng chạy lại ôm lấy tôi, năn nỉ can thiệp để cứu Vỹ. Nhưng tôi sợ ông ta thừa cơ đoạt súng, nên đưa tay trái gạt ông ra và bảo: "Việc này không liên hệ tới Thiếu Tướng, xin đừng làm trở ngại!" Mặt khác tôi gọi Hồ Hán Sơn và bảo: "Hãy bóc hộ ga lông của ông này cho tôi!" Hồ Hán Sơn tức khắc thi hành theo lệnh, mà hai tay run lẩy bẩy, vì anh chỉ sợ tôi nóng giận nổ súng bắn nhằm anh. Một phóng viên ngoại quốc - nếu tôi nhớ không lầm là François Sully - không biết chờ chực từ lúc nào ngoài hành lang, đã nhanh nhẹn đẩy một chiếc ghế tới trước cửa, rồi nhảy phóc lên, bấm vội một bức ảnh duy nhất về cái khung cảnh Tướng Vỹ đang dơ hai tay đầu hàng, xong lại biến đi ngay tức khắc cũng vì sợ tôi bắn phải anh ta. Bức ảnh hiếm hoi này sau đã xuất hiện trên nhiều tờ báo ngoại quốc, đáng kể nhất là tờ LIFE, trong số phát hành hồi tháng 7 năm 1955, đã đăng một loạt những tấm hình sống động về việc tôi bắt Tướng Vỹ.

Thủ Tướng Diệm liền được báo tin. Ông tất tả chạy vào ôm lấy tôi ngay trước mũi súng, và hổn hển nói: "Tôi xin Ngài! Tôi xin Ngài đừng làm đổ máu tại đây ! Việc gì còn có tôi đây giải quyết, xin Ngài đừng nóng giận!" Miệng nói, tay ông dơ lên che chở cho Tướng Vỹ, rồi đẩy dần ông này ra khỏi gian phòng, đưa thẳng về chỗ ngủ của riêng ông ở đằng cuối Dinh Độc Lập trông ra đường Hồng Thập Tự. Tướng Lê Văn Tỵ bị tôi cưỡng bức ngồi yên một chỗ, còn các sỉ quan theo ông đang ngồi đợi dưới lầu đều không hay biết gì cả. Tướng Thế, Tướng Phương dùng điện thoại liên lạc về Hành Dinh, ra lệnh cho các đơn vị võ trang sẵn sàng ứng chiến. Phần tôi, ở cái thế "cưởi đầu voi dữ'', tôi ra lệnh cho mọi người trong Dinh Độc Lập tuyệt đối không được xuất nhập.

Một lát sau, Thủ Tướng Diệm cho mời tôi và Hồ Hán Sơn vào gặp ông với Tướng Vỹ ngay tại phòng ngủ. Cả Tướng Lê Văn Tỵ cũng đi theo. Tôi khóa trái cửa phòng lại, và bỏ chìa khoá vào túi áo. Chúng tôi năm người ngồi chung quanh một bộ xa lông thấp nhô, trước giường nằm của Thủ Tướng Diệm trên đầu có treo Thánh Giá. Cuộc điều đình gay go bắt đầu. Tướng Vỹ thấy được Thủ Tuớng Ngô Đình Diệm ra tay che chở, thì lấy làm yên tâm lại tỏ vẻ cứng đầu, còn nuôi cái mộng sẽ quật ngược tình thế. Tôi vẫn giữ nguyên lập trường cứng rắn là bắt giữ ông đưa về Núi Bà giam giữ, vì ông đã đi ngược lại con đường cách mạng, âm mưu cướp quyền Tham Mưu Trưởng trong tay Tướng Lê Văn Tỵ giữa lúc đô thành đang có biến. Tôi quay hỏi Tướng Tỵ xem có phải như vậy không? Tướng Tỵ bẽn lẽn gật đầu xác nhận. Ông còn nói thêm là ông đã tự ý nhường quyền Tham Mưu Trưởng cho Nguyễn Văn Vỹ chiều nay, và ông với các sĩ quan tham mưu đã hộ tống Nguyễn Văn Vỹ vào Dinh Độc Lập theo lời yêu cầu của Nguyễn Văn Vỹ.

Tôi bèn nói với Tướng Lê Văn Ty: "Bây giờ xin Thiếu Tướng hay về đi, để lo việc điều khiển quân sĩ đối phó với tình hình. Quân không tướng như rắn không đầu, tôi nghĩ rằng Thiếu Tướng cần phải có mặt với họ!" Tướng Lê Văn Tỵ trả lời: "Tôi đã lấy danh dự một quân nhân bảo đảm cho Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ vào đây. Nếu Ủy

Ban Cách Mạng bằng lòng cho tôi về, thì cũng xin tha cho Tướng Vỹ về theo tôi. Còn nếu Cách Mạng quyết bắt ông ấy, thì tôi cũng xin tình nguyện ở lại!" Lời nói đầy vẻ phản động, chứng tỏ một cách minh bạch rằng Tướng Lê Văn Tỵ đã đứng hẳn về phe Nguyễn Văn Vỹ, phản bội Thủ Tướng Ngô Đình Diệm ra mặt. Tôi thật lấy làm buồn, nhưng không tiện đả kích thái độ phản nghịch trắng trợn ấy. Tướng Lê Văn Tỵ vừa nói tới "danh dự quân nhân", khiến tôi tự hỏi không biết ông còn danh dự nào, khi ông đã in lìm khuất phục trước Nguyễn Văn Vỹ, tự tiện trao quyền Tham Mưu Trưởng cho Nguyễn Văn Vỹ mà không thèm đợi lệnh của Thủ Tướng?

Giữa cái tình thế giằng co ấy, ngoài kia đoàn quân Ngự Lâm Quân của Tướng Nguyễn Văn Vỹ cứ chốc chốc lại gọi điện thoại vào Dinh Độc Lập, yêu cầu được nói chuyện trực tiếp với ông Nguyễn Văn Vỹ, và chỉ với ông này mà thôi. Tướng Vỹ cầm máy lên, lấm lét nhìn tôi, rồi trả lời là: "Tôi đang hầu chuyện Thủ Tướng đây, không có việc gì đâu, anh em cứ yên tâm", ông không dám nói thật rằng ông đang bị bắt giữ, nhưng Ngự Lâm Quân cũng đánh hơi biết ông đang lâm nguy mà chẳng hiểu tình hình ra sao, nên cứ gọi đi gọi lại mãi, làm cho bầu không khí càng thêm ngột ngạt.

Dư luận không hề được biết Tướng Nguyễn Văn Vỹ về Saigon cướp quyền có mang theo 2 Tiểu đoàn Ngự Lâm Quân để làm áp lực. Khi Tướng Vỹ bị tôi bắt, thì số quân kia của ông dàn ra bao vây chung quanh hàng rào Dinh Độc Lập - Đạo quân Phòng Vệ Dinh Độc Lập dưới quyền Đại Tá Vinh đã sẵn sàng trong cái thế chống cự. Tướng Thế biết được việc này, thì tức tốc gọi điện thoại về Tổng Hành Dinh Liên Minh, hạ lệnh cho Thiếu Tá Hồ Đức Trung phải gấp rút đang đêm qua Bình Quới Tây (nơi quân Liên Minh tạm thời hạ trại từ ngày về hợp tác), bảo Trung Tá Tư Lệnh Nguyễn Trung Thừa phải gấp dẫn quân vào Saigon có việc. Thiếu Tá Hồ Đức Trung đi tới cầu Thị Nghè thì bị lính canh của Pháp chặn lại, không cho qua cầu. Số lính này nói là có nhiệm vụ bảo vệ đài Phát Thanh ở trong vùng ấy (?), và cứng rắn không cho Thiếu Tá Trung đi qua. Ông này quay trở lại báo cáo với Tướng Thế lúc ấy đang ở trong Dinh Độc Lập theo dõi trường hợp của Nguyễn Văn Vỹ và sẵn sàng cứu tôi, nếu Vỹ quật ngược được tình thế. Tướng Thế lại hạ lệnh cho Trung: "Hãy mở đường máu mà đi!" Thiếu Tá Trung bèn dẫn một toán quân bản bộ võ trang hùng hậu trở lại cầu Thị Nghè, de dọa bọn lính gác cầu là nếu không cho ông qua, ông sẽ nổ súng! Bọn lính kia đành phải nhượng bộ. Trung Tá Nguyễn Trung Thừa bắt được liên lạc, bèn không chậm trễ dẫn quân Liên Minh về bố trí trên đường Trần Quý Cáp, ngay sau lưng toán Ngự Lâm Quân, theo y như lệnh của Tướng Thế ban ra. Đồng thời, Tướng Nguyễn Thành Phương cũng hành động như Tướng Thế, hạ lệnh cho một cánh

Quân Cao Đài nằm phục kích tại đường Phan Đình Phùng, hợp với Liên Minh làm thành hai lớp, bọc hậu Ngự Lâm Quân. Bị kèm kẹp giữa hai đối thủ, phía trước là quân Phòng Vệ Dinh Độc Lập của Đại Tá Vinh, phía sau là Cao Đài với Liên Minh, toán Ngự Lâm Quân thấy nguy, không dám mưu toan tấn công Dinh Độc Lập nữa, bèn lặng lẽ rút lui.

Sự thất thế của Ngự Lâm Quân đã phản ảnh qua thái độ mỗi lúc một thêm bi quan của Tướng Nguyễn Văn Vỹ. Ông này không còn trông đợi vào đâu nữa, nên cuối cùng đã chính thức chấp nhận đầu hàng Cách Mạng. Tới mãi lúc 3 giờ khuya, ông mới xin cho đem giấy bút để ông viết một bản Tuyên ngôn ngắn, tự nguyện từ bỏ hết mọi quyền hành chức chưởng do Bảo Đại ban cho, và tự nguyện gia nhập hàng ngũ cách mạng. Nắm được bản Tuyên Ngôn ấy, tôi vẫn chưa tin lòng Tướng Vỹ. Nếu thả ông ra về với Tướng Lê Văn Tỵ, thế nào ông cũng làm phản một lần nữa. Nhưng chả nhẽ cứ vì ông mà cầm chân mãi Tướng Lê Văn Tỵ thì sao tiện? Túng cùng, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, Tướng Lê Văn Tỵ và tôi, đã miễn cưởng đi đến một thỏa hiệp khá lỏng lẻo buồn cười. Tướng Lê Văn Tỵ nhân danh Tham Mưu Trưởng (vô hình chung, nhờ Cách Mạng ông này đương nhiên lấy lại quyền hành) bảo đảm với Thủ Tướng Ngô Đình Diệm là "Ông Vỹ sẽ không làm phản". Đến lượt Thủ Tướng Ngô Đình Diệm lại quay sang bảo đảm với tôi rằng ''Chính phủ sẽ xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu ông Vỹ làm phản". Xong cái việc lủng củng này, tôi bèn quyết định phục chức lại cho ông Nguyễn Văn Vỹ mà suốt mấy tiếng đồng hồ điều đình, tôi vẫn chỉ gọi bằng "ông". Tướng Vỹ đứng lên, tôi cầm mấy ngôi sao do Hồ Hán Sơn trao sang, đặt lên vai ông. Tội nghiệp thay, Hồ Hán Sơn kiếm mãi chỉ thấy có mỗi một chiếc ga lông mà thôi, nên hoảng hốt kêu lên "Chết cha rồi!" tôi cũng đâm luống cuống trước tình thế mỉa mai này. Tướng Vỹ thật là dở khóc dở cười. May sao, Hồ Hán Sơn chợt tìm thấy chiếc ga lông thứ hai nhét trong túi quần, bèn hớn hở cầm trao tôi để tôi làm cho xong công việc.

Chúng tôi ra khỏi phòng ngủ của Thủ Tướng Diệm thì đúng3 giờ rưỡi khuya. Phụ Tá Quốc Phòng Trần Trung Dung ghé tai tôi nói nhỏ là đã có triệu tập một cuộc họp báo quốc tế tại phòng Khánh Tiết trên lầu. Nói là "triệu tập báo chí", nhưng thật ra báo chí quốc tế đã đánh hơi biết có "đại biến" từ lúc đầu hôm, nên sẵn sàng ngồi đợi kết quả. Tướng Vỹ được đưa ra trước mặt họ. Mặc dù bị tôi canh chừng sát nút, ông ta cũng đã khôn lanh "xì" ra một câu bằng tiếng Pháp với phóng viên hãng AFP: "Je suis pris" (tôi bị bắt). Tôi ngồi cạnh ông, ngay trên thành ghế, trao bản Tuyên Ngôn cho ông tự mình công bố. Ông tự biết thân phận mình, nên chỉ trả lời một số câu hỏi liên quan tới nội dung bản Tuyên Ngôn kia mà thôi.

Chúng tôi được Thủ Tướng Diệm mời dùng cơm khuya rồi mới ra về, đầu óc hãy còn căng thẳng. Tôi nhớ lại, hồi đầu hôm, khi Thủ Tướng Diệm còn giữ riêng Tướng Vỹ trong phòng để an ủi vỗ về, thì ông Cố Vấn Nhu đứng tì tay trên lan can nhìn ra con đường Hồng Thập Tự, nhẹ nhàng bảo tôi: "Anh nóng quá, anh làm to chuyện. Cụ thật khó giải quyết!" Tôi trả lời là tôi sẵn sàng hy sinh mạng sống như thế để làm sáng tỏ lập trường hợp tác của Liên Minh. Nếu Tướng Vỹ quật ngược được tình thế, thì tôi là người đầu tiên bị họ băm thây, chứ Chính phủ chẳng việc gì! Câu nói làm cho ông Nhu quay lại nhìn tôi, nở một nụ cười thật huynh đệ. Cả Hồ Hán Sơn cũng thế, cứ luôn miệng than thở: "Chết cha rồi", khiến tôi bực mình gắt với anh: "Hãy im đi, đừng làm rối trí!" Quả thật là tôi khá rối trí vì sự can thiệp bất ngờ của Thủ Tướng Diệm. Có người đặt dấu hỏi là tại sao Thủ Tướng Diệm lại đi che chở cho một phần tử chống lại mình? Tôi không thấy có gì khó hiểu. Chẳng qua Thủ Tướng thấy rỏ ngay trong chốc lát rằng khi mà Tướng Vỹ đã phải dơ tay đầu hàng trước mũi súng của tôi, thì ắt là thế lực và uy tín cá nhân của ông ta chẳng còn gì. Bộ hạ ông ta không dám làm càn, bởi không muốn ông ta bị hạ sát ngay. Do đó mà Thủ Tướng tạm đóng vai quân tử đối với kẻ thù, để có thì giờ tìm một giải pháp êm đẹp, không gây ra đổ máu tại Dinh Độc Lập. Trong lúc ngồi điều đình, tôi thấy Thủ Tướng luôn luôn ngả theo các ý kiến của tôi, và cứ trông đợi nơi tôi một thái độ ít cứng rắn hơn. Thủ Tướng cũng không thể không nhận chân sự phản bội trắng trợn của Tướng Lê Văn Tỵ. Lẽ thường thì ông nên cách chức con người ấy đi, nhưng trong hoàn cảnh hiện tại, ông không làm như thế được, vì chẳng gì Tướng Tỵ cũng đã được quân binh mến mộ. Vả chăng, không có tướng lĩnh nào khác đáng được cử ra thay thế. Tướng Trình Minh Thế chăng? Lại càng không được nốt, vì Tướng Thế mới ở rừng về hãy còn xa lạ, không thể nhất đán cầm đầu Quân Đội Quốc Gia còn nhiều dấu tích do Pháp để lại. Tôi biết rõ hoàn cảnh khó khăn của Thủ Tướng, nên ngay buổi sáng hôm sau, nhân bữa tiệc rượu mừng Chính phủ thoát vụ "Đảo chính hụt" của Nguyễn Văn Vỹ hồi gần sáng, tôi và Trình Minh Thế đã thưa riêng với Thủ Tướng Diệm và ông Cố vấn Nhu rằng trường hợp của Tướng Lê Văn Tỵ chỉ nên "thăng" chứ không nên "cách". Tôi viện lý lẽ rằng Tướng Tỵ chưa được hưởng ân huệ gì đặc biệt của Chính phủ, nay thế nào cũng ôm mối lo sợ vì thái độ phản nghịch quá lộ liễu trong đêm hôm trước. Đã không bị cách chức mà còn được thăng cấp, ông ta sẽ lầm tưởng rằng Chính phủ không trông thấy gì, và sẽ yên tâm mà phục vụ. Thủ Tướng nghe theo, và quả nhiên chỉ mấy hôm sau, Tướng Lê Văn Tỵ được vinh thăng Trung Tướng. Bên ngoài ai cũng tưởng ông ấy lập được nhiều công! Quân Đội Quốc Gia nhờ sự dàn xếp khôn ngoan đó mà tránh được một cơn khủng hoảng nội bộ.

Tôi cũng hơi lấy làm lạ rằng chỉ một khẩu súng nhỏ của tôi đã làm tê liệt cả Dinh Độc Lập. Lệnh "Cấm xuất nhập" được triệt để thi hành. Phía chính quyền biết tôi liều mình cứu họ, nên đã âm thầm hợp tác chặt chẽ. Phụ Tá Quốc Phòng Trần Trung Dung thân hành điều binh khiển tướng đâu ra đấy cả. Còn một điều lạ thứ hai là cánh Ngự Lâm Quân đã không bắt liên lạc được với cánh Bình Xuyên của Tướng Lê Văn Viễn. Nếu họ phối hợp được với nhau, thì chắc là tình thế càng gay go hon nhiều.

Chúng tôi về tới nhà, chưa kịp tìm giấc ngủ, thì chợt có điện thoại của Trung Tá Dương Văn Minh, cho hay "Nguyễn Văn Vỹ đã đảo chính rồi!" Chúng tôi toát mồ hôi lạnh. Tôi dẫm chân tức tối kêu lên: "Đã biết mà! Thả hổ về rừng, cái họa này tất nhiên phải có!" Tin tức cho hay Tướng Vỹ, sau khi ra khỏi Dinh Độc Lập, đã vờ lên giọng nghĩa nhân, mời tất cả các sĩ quan về tư dinh Tuớng Lê Văn Tỵ ở đường Hùng Vương để "uống một chén rượu mừng" ông ta thoát nạn. Nào ngờ khi tới nơi, Vỹ sai bộ hạ đóng ập các cửa lại, bắt nhốt tất cả mọi người, và rêu rao là Ngự Lâm Quân đang tiến chiếm các cơ quan trọng yếu tại đô thành Có người nhanh chân thoát được, lên tiếng báo động. May sao quân Cao Đài và Liên Minh hãy còn nằm nguyên vị trí cũ, nên đã tức thì ứng phó. Tướng Vỹ tỏ ra tức khí làm càn, chứ thực ra Ngự Lâm Quân chẳng chiếm giữ được cơ quan nào hết. Bị uy hiếp, Vỹ cuống cuồng kéo quân chạy về Dalat. Lên tới chợ Thủ Đức, đoàn xe Ngự Lâm Quân hấp tấp đâm sập cả một gốc chợ.

Tờ mờ sáng hôm sau, mồng 1 tháng 5, vào khoảng 6 giờ sáng Dinh Độc Lập đã chật ních những nhân vật quân chính tới chúc mừng Thủ Tướng Ngô Đình Diệm thoát nạn thoán nghịch của Nguyễn Văn Vỹ. Người ta bàn tán xôn xao về việc Vỹ bị bắt đêm trước, và về cái "trò trẻ con" của Vỹ khi uy hiếp các sĩ quan. Có kẻ thuật lại rằng khi Tướng Tỵ bị Vỹ uy hiếp, Tỵ đã tự mình lột lon và ném mũ xuống mà nói: "Đó, mày ăn đi cho hết!" Sau bữa tiệc rượu mừng Thủ Tướng, một cuộc họp bất thường mệnh danh là "Hội Nghị Liên Tịch" giữa Cách Mạng và Quân Đội đã diễn ra ngay tại chỗ. Đôi bên tuyên bố hợp tác chặt chẽ với nhau, và cùng triệt để ủng hộ chính quyền. Mọi người cùng đứng chụp chung một tấm hình kỷ niệm cuộc họp bất thường và ngắn ngủi ấy. Về phía Quân Đội, tôi nhận ra nhiều khuôn mặt đã theo Tướng Vỹ chiều hôm qua, và tôi tự hỏi không biết họ sẽ "trung thành" với Thủ Tướng Diệm tới mức độ nào?

Trong giòng lịch sử trôi qua, sau này có người nhắc lại chuyện tôi bắt Vỹ thuở xưa, và hỏi tại sao tôi lại quyết định làm việc ấy một cách quá nhanh chóng và quá liều lĩnh như thế? Họ cho rằng hồi đó Thủ Tướng Diệm chỉ còn gang tấc nữa là phải dơ tay đầu hàng các tổ chức võ trang đối lập, bằng vào việc Bình Xuyên đang nổ súng tại đô thành, Vỹ lại có thế lực trong tay, còn Nguyễn Văn Hinh thì thừa lệnh Bảo Đại bay từ Pháp về Calcutta, đang dừng chân tại đó đợi nghe Vỹ ca khúc khải hoàn. Thế lực đối phương mạnh mẽ như thế, mà tôi lại dám ra tay bắt Vỹ, thì quả là đã đi vào đường chết tới chín phần mười.

Sau đây là các lý lẽ của riêng tôi: Đồng ý là thế lực đối phương lúc bấy giờ rất đáng lo ngại, và khi tôi liều lĩnh đương đầu với họ, tôi cũng đã mặc nhiên lôi kéo cả tập thể Liên Minh theo tôi. Người Liên Minh chúng tôi sống 5 năm trong rùng núi, quen với cuộc đời đầu đội trời chân đạp đất, dù rằng gian nan chồng chất. Khi về thành, trông thấy bọn chân tay cũ của Pháp tung hoành, chúng tôi không tài nào chịu nổi. Tới lúc nghe thấy Tướng Vỹ toan làm chuyện đảo điên đất nước, lại thêm một Tướng lĩnh Quân Đội Quốc Gia như Lê Văn Tỵ đầu hàng đối phương vô điều kiện, riêng lòng tôi thật lấy làm căm giận. Dù rằng ý kiến bắt Vỹ nảy ra trong đầu óc tôi thật nhanh chóng, nhưng trong tôi, đã có sẵn những giải đáp nằm chờ đợi từ lâu, khiến ''tôi không hề ngần ngại, mà Tướng Trình Minh Thế cũng không ngần ngại, không cần suy nghĩ đắn đo, gật đầu ưng thuận ngay cho tôi thực hiện kế hoạch. Thoáng trong giây phút, tôi tự hỏi mình, nếu Nguyễn Văn Vỹ đã cướp quyền trong tay Lê Văn Tỵ, và nếu lát nữa đây, Vỹ lại cướp luôn quyền lãnh đạo chính phủ của Thủ Tướng Diệm, thì số phận đoàn quân Liên Minh của chúng tôi sẽ như thế nào đây?

Chúng tôi chỉ vì cảm phục Thủ Tướng Diệm, vì động lòng trước mối tình tri ngộ thắm thiết của ông, mà lìa bỏ chiến khu về thành. Nếu bây giờ Thủ Tướng Diệm bị đối phương áp đảo phải nhường quyền, rồi hoặc chết, hoặc ra đi với hai bàn tay trắng, thì anh em chúng tôi quả thật là những kẻ khờ dại, bỗng không biến thành "đứa con côi", bị ném vào giữa một đám người xa lạ đầy mưu cơ xảo quyệt, sớm muộn chúng tôi cũng sẽ chết. Việc ấy không thể để xảy ra được. Cần phải ra tay trước. Hơn nữa, xét theo hoàn cảnh buổi đương thời, đem một Ngô Đình Diệm ra so sánh với một Bảo Đại đầy tội lỗi với nước non, thử hỏi tôi nên chọn ai đây. Ngô Đình Diệm không làm tay sai cho Pháp, chưa hề phạm tội với giống nòi. Người ấy đang có sứ mạng đương đầu với hiểm họa cộng sản, đang lo định cư hàng triệu đồng bào Bắc Việt, thì có thể nào chúng tôi lại nở bỏ ông để xu phụ phe đối nghịch? Chúng tôi sở dĩ liều mình ủng hộ Ngô Đình Diệm là ủng hộ con người đạo đức ấy, còn những gì xảy ra trong 9 năm chấp chính, chẳng qua là do chứng bệnh tự kiêu tự mãn của một số nhân vật trong chính quyền và do bàn tay đạo diễn của ngoại nhân, chúng tôi hoàn toàn không có trách nhiệm, cũng như chúng tôi đã hoàn toàn không chia sớt quyền hành và hưởng thụ.

Vậy mà ngay sau khi Tổng Thống Diệm bị nhóm Dương Văn Minh hạ sát, có kẻ thuộc hàng trí giả đã có cái thái độ "dây máu ăn phần", hùng hổ chỉ mặt tôi mà bảo rằng: - Anh đắc tội với lịch sử! Tôi quắc mắt hỏi lại người ấy: -Tôi đắc tội ở chỗ nào? - vì cá nhân anh, vì đoàn thể anh triệt để ủng hộ ông Diệm hồi năm xưa, nên ông ấy mới trở nên Tổng Thống, mới khuynh đảo thiên hạ, để mang lấy cái hậu quả khốc liệt ngày nay. Nếu các anh không làm, thì đâu có đến nỗi! Tôi bèn bảo thẳng vào mặt kẻ đối thoại kia: - Các anh lầm rồi. Các anh đang bị xúc động vì sự đổi thay đột ngột trước mắt, nên mới tự cho mình là có lý và mới có luận điệu như trên. Tôi không biết các anh có dính líu gì vào sự thay bực đổi ngôi ngày nay chăng, mà xem chừng các anh quá lạc quan, xét việc một cách lầm lẫn. Thí dụ ông Diệm là người không xứng đáng khiến các anh chủ trương lật đổ, thì mai đây chẳng những các anh không tìm được "Minh quân thánh đế'', mà trái lại, các anh sẽ bắt gặp hàng chục "ông Diệm" khác, ghê gớm hơn! Nhưng tôi cam quyết với các anh chỉ trong vòng 5 năm trở lại đây thôi, hoặc chậm nhất là 10 năm, ông Diệm sẽ lại được suy tôn là anh hùng dân tộc. Các anh hãy cứ cho rằng tôi nói quấy đi, nhưng rồi các anh sẽ mở mắt ra mà xem những diễn tiến sắp tới.

Quả nhiên, tôi nào có nói sai? Chưa đầy 4 năm sau cái chết của ông Diệm, khi tên quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu - một đồng lõa đắc lực của bọn Dương Văn Minh trong cuộc hạ sát Diệm Nhu - chiếm ghế Chủ Tịch của cái gọi là "Uỷ Ban Lãnh Đạo Quốc Gia'', thì ngay giữa lòng thủ đô Saigon đã phát sinh phong trào ''Phục hồi danh dự cho Cố Tổng Thống Diệm". Khắp nơi tổ chức truy điệu, cầu hồn cho ông. Nhục nhã thay, chính bản thân tên Thiệu chẳng những không dám ra tay đàn áp phong trào ấy, mà hắn còn lén lút cho vợ hắn đi ngả sau, tham dự lễ cầu hồn ông Diệm, người mà hắn đã phản bội mấy năm trước.

Như vậy, tôi có đắc tội với lịch sử chăng? Thời cuộc và lòng người đã trả lời hộ cho tôi rồi vậy.

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG XVII
CÁI CHẾT CỦA TRÌNH MINH THẾ TỬ TRẬN?
HAY BỊ ÁM SÁT?

Sau Hội Nghị Bandung, Tướng Thế trở nên một nhân vật sáng giá. Hàng ngày ông tiếp kiến bao nhiêu chính khách vừa muốn làm quen, vừa muốn cậy dựa thế lực Liên Minh để bước chân vào chính quyền. Thủ Tướng Ngô Đình Diệm thương yêu ông ra mặt. Việc vào ra Dinh Độc Lập kể như cơm bữa. Tuy Thủ Tướng Diệm cứng rắn bác bỏ "Tối Hậu Thư'' của Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia đòi chính phủ phải cải tổ trước thời hạn mồng 2 tháng 5, nhưng bên trong, Thủ Tướng cũng đã dự bị cải tổ Nội Các cho hợp với hoàn cảnh mới. Ông không thể duy trì hình thức hợp tác lỏng lẻo của Cao Đài và Hòa Hảo với hai ông Quốc Vụ Khanh càng ngày càng chống báng chính quyền hơn là giúp đỡ chính quyền.

Đối với Liên Minh thì Thủ Tướng Diệm bảo thẳng cho Tướng Thế biết ông sẵn lòng "khoán trắng" cho Tướng Thế một phần ba Nội Các sắp tới. Ông kể rõ ra các bộ Thông Tin, Lao Động, Canh Nông, Cải Cách Điền Địa, rồi bảo rằng: "Anh em cứ tự tiện chọn người đưa vào, không cần phải hỏi ý kiến trước". Tướng Thế có đem ra bàn với anh em, và ông đã có ý định đẩy tôi vào chính quyền. Nhưng tôi thú thật tôi không mấy quan tâm tới vấn đề tham chính, mà tôi còn nghĩ tới nhiều chuyện khác quan trọng hơn. Tôi luôn luôn tâm niệm rằng chúng tôi về thành là mong có điều kiện khả đắc hơn để đương đầu với hiểm họa cộng sản, chứ không phải để chia nhau nắm giữ Bộ này, Bộ khác. Tướng Thế cũng nghĩ vậy, nên ông tỏ vẻ rất thờ ơ trong công cuộc chọn người lấp kín các cơ quan vừa kể.

Phần tôi, vừa rút chân ra khỏi Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia, thì lại vướng chân ngay vào ỦY BAN CÁCH MẠNG. Với tư cách đại diện toàn thể, tôi bị tối tăm mày mặt vì những công việc phải làm trong địa vị Tổng Thư Ký. ỦY BAN CÁCH MẠNG vừa ra mắt ngày 29 tháng 4, thì ngày hôm sau, 30/4, chúng tôi phải tiếp xúc ngay với quần chúng tại Tòa Đô Chính. Suốt đêm hôm ấy lại phải đương đầu với trường hợp Nguyễn Văn Vỹ. Sang ngày mồng 1 tháng 5, lại bận họp hành với Quân Đội, tiếp đó lại kéo về tư dinh Tướng Nguyễn Giác Ngộ ở đường Hiền Vương, cùng với các ông Nguyễn Bảo Toàn, Hồ Hán Sơn, Hoàng Cơ Thụy, Trần Thanh Hiệp, Phạm Việt Tuyền, Bùi Quang Nga, thảo bản Tuyên Ngôn chính thức cho Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng.

Tướng Thế thấy tôi quá bận bịu mệt mỏi, thì ân cần an ủi, bảo tôi cứ chịu khó đi, đừng lo chi tới "chuyện nhà". Nào ngờ chỉ cách hai hôm sau, tức là ngày mồng 3 tháng 5, Thủ Tướng Diệm lại với Tướng Thế vào Dinh Độc Lập, chỉ định Tướng Thế đứng ra cầm quân đánh lại Bình Xuyên. Tôi giật mình sửng sốt, thấy quả là một nhiệm vụ hết sức khó khăn đối với Thế, vì cái tình anh em cố cựu giữa Trình Minh Thế với Lê Văn Viễn là một trở ngại lớn. Tôi không biết có phải Thủ Tướng Diệm muốn thử lòng Trình Minh Thế mà giao cho công việc ấy chăng? Nếu Thế chẳng hết lòng mà để cho thất bại, thì mang tiếng "một dạ hai lòng" đối với Chính phủ. Còn nếu Thế quyết tình hạ thủ Bình Xuyên, thì còn mặt mũi nào nhìn Tướng Viễn nữa? Viễn mang tiếng với đời, nhưng Viễn chưa hề xử tệ với Thế. Lại cũng có dư luận cho rằng Thế cầm quân đánh Viễn là "đánh cụi" với nhau cho vui, vì Thế biết Viễn thế nào cũng sẽ thua, Thế sẽ được tiếng "trừ bạo Bình Xuyên", được Quân Đội kính nể, và sẽ chuẩn bị đoạt quyền Tham Mưu Trưởng của Tướng Lê Văn Tỵ.

Cả hai giả thuyết trên đây, sau khi tôi xét kỹ, đều hoàn toàn không đứng vững. Vì, một là Thủ Tướng Diệm còn "thiếu thốn" gì nữa mà phải thử lòng Thế? Thủ Tướng Diệm đích thân mời Thế về thành, chứ không phải Thế tự ý xin về để manh tâm phản trắc. Thủ Tướng Diệm quên sao được "món quà Phạm Hữu Chương" còn nóng hổi? Quên sao được thiện tâm của Thế khi đứng vào Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia để hóa giải bớt các kế hoạch chống phá chính quyền của phe đối lập? Quên sao được vai trò có tính cách quyết định tình hình của Thế trong đêm 30 tháng 4 tại Dinh Độc Lập? Không có Thế đem quân thiện chiến của mình bọc hậu Ngự Lâm Quân, thì tay chân Tướng Vỹ sợ gì mà không tấn công Dinh Độc Lập? Không có Thế tán thành công cuộc lật đổ Bảo Đại, thì làm gì có Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng đứng mũi chịu sào cho Thủ Tướng Diệm an tâm thanh toán lá bài Bảo Đại, thẳng đường tiến tới xây dựng nền Đệ Nhất Cộng Hòa?

Cho nên, cái mấu chốt của sự khai sinh ra nền Đệ Nhất Cộng Hòa là ở chỗ Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng xuất hiện đột ngột, xóa giùm cho Thủ Tướng Diệm cái trở ngại pháp lý lớn lao nhất là cá nhân Bảo Đại. Nếu không, chắc là Thủ Tướng Diệm vẫn hãy còn lúng túng "thọc tay vào bị", vẫn còn bị nền đạo đức đông phương cản trở khiến một mình ông, ông không muốn mang tiếng tham quyền cố vị, không muốn cho đời sau kết tội ông "thoán ngôi Thiên Tử". Bởi ông thấy khó lòng đối phó dứt khoát với Bảo Đại, nên ông mới phải hỏi ý kiến các đoàn thể và nhân sĩ. Thí dụ các đoàn thể và nhân sĩ, họp nhau tại Dinh Độc Lập hôm 29 tháng 4, không chủ trương làm cách mạng, mà chỉ nói là "Thủ Tướng không nên đi sang Pháp" thôi, thì ông sẽ phải xử trí sao đây? Lại còn cái nỗi khó khăn khác nữa là Thủ Tướng Diệm vốn là một tín đồ Công Giáo thuần thành, mà một lĩnh tụ Công Giáo uy tín buổi đương thời như Đức Cha Lê Hữu Từ lại có ý khuyên Thủ Tướng phải "nghe lệnh thượng cấp", tức là phải sang Pháp gặp Bảo Đại, quả thật là khó nghỉ. Đức Cha Lê Hữu Từ nhiệt liệt ủng hộ Bảo Đại, luôn luôn khuyên nhủ Thủ Tướng Diệm nên nghe theo lời Ngài mà ra đi. Cho mãi tới khi Bảo Đại đã bị Cách Mạng truất phế rồi, mà Ngài vẫn còn vào ra Dinh Độc Lập để làm áp lực. Tình cờ Ngài và tôi đã chạm trán nhau tại một phòng khách trên lầu Dinh Độc Lập, tôi đã không ngần ngại chống lại quan điểm của Ngài trong cuộc gặp gỡ đó.

Cái lẽ thứ hai khiến tôi bác bỏ các giả thuyết nêu trên, là Thủ Tướng Diệm lâu nay đón Thế về thành, nhưng chưa hề bổ nhiệm Thế vào một chức vụ nào chính thức cả. Đó là một khuyết điểm lớn về phía chính quyền, một khuyết điểm tâm lý đáng trách vậy. Cho nên, nhân vụ Bình Xuyên phản loạn, Thủ Tướng Diệm muốn chuộc lỗi mình, tạo cho Thế cái cơ hội công khai thi thố tài năng, chứng tỏ với dư luận Thế quả thực là một đấng anh hùng có thực tài đánh đông dẹp bắc. Chứ tuyệt nhiên Thủ Tướng Diệm không hề có ác ý đối với Thế.

Còn đối với nguồn tin cho là Thế "đánh cụi" Bình Xuyên, tôi nghĩ chỉ có những kẻ không ưa Thế mới đưa ra luận điệu ấy để chế diễu Thế. Chứ thực ra, Thế không hề "đánh cụi" và cũng không thể nào "đánh cụi" được. Bởi lẽ, Thế được chỉ định đi đánh Bình Xuyên, chứ Thế không tự tiện đem binh đi đánh Bình Xuyên để rồi muốn làm gì thì làm. Còn nếu muốn "đóng trò" với nhau ngoài mặt trận, thì ít nhất đôi bên cũng phải có sự thỏa hiệp từ đầu, có chỉ thị rõ ràng cho binh sĩ đôi bên hiểu biết để khỏi chém giết nhau. Trái lại, đằng này Thế được chỉ định đánh Bình Xuyên đột ngột, thì còn thì giờ đâu để thương thảo với Bình Xuyên. Có lẽ nào một mình Thế đơn phương "đánh cụi" trong lúc binh sĩ Bình Xuyên cứ nhắm mắt "đánh thật", thì có phải là Thế khờ dại chăng?

Vậy ta chỉ có thể hiểu rằng Thế có tình anh em với Bảy Viễn, nhưng Thế không xu phụ những lỗi lầm quá đáng của chân tay bộ hạ Bảy Viễn. Thế đánh là đánh cái "tinh thần phản loạn" của Bình Xuyên, đánh "lập trường thân Pháp" của Bình Xuyên, chứ Thế không đánh cá nhân Bảy Viễn. Sự thật đã rõ ràng như thế, không ai chối cãi được. Chỉ những người ác cảm Thủ Tướng Diệm mới bảo rằng Thế không nên đánh Viễn, chứ kẻ có công đều cho rằng Thế hành động chính đáng.

Nhận được lệnh chính phủ, Tướng Thế chuẩn bị ra quân ngay buổi sáng ngày mồng 3 tháng 5. Mỉa mai thay, Thế hoàn toàn xử dụng quân binh ruột thịt của mình để giúp chính phủ, mà chẳng hề đụng chạm tới một người lính nào của Quân Đội Quốc Gia cả, ngoại trừ mấy chiếc quân xa dùng tải binh ra mặt trận. Cùng theo ông ra chiến trường tại cầu Tân Thuận, có Đại Uý Tạ Thành Long, Tùy viên quân sự, Trung Tá Nguyễn Trung Thừa, Tư lệnh Trung Đoàn 60, và nhiều sĩ quan Liên Minh khác như Trung Tá Trần Minh Triết, Trung Tá Hà Văn Tình, Thiếu Tá Nguyễn Kim Bằng, Thiếu Tá Nguyễn Văn Của, Đại Úy Nguyễn Tấn Tước. Tất cả đều là những sĩ quan già dặn kinh nghiệm chiến đấu trong 5 năm ở chiến khu.

Thời gian Tướng Thế đứng chỉ huy ngoài mặt trận, thì phần tôi vẫn còn đang họp bàn việc Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng tại tư dinh Tướng Nguyễn Giác Ngộ ở đường Hiền Vương. Trưa hôm ấy, chúng tôi gặp mặt nhau trong bữa cơm. Tướng Thế thuật qua cho tôi nghe tình hình chiến sự, rồi dơ một bàn tay lên chỉ cho tôi xem một vết thương nhẹ do đạn địch bắn phải, ông lầm bầm trong miệng "chiều nay tôi sẽ trả thù". Ông không quên hỏi thăm tôi về công việc Hội Đồng Cách Mạng và nói: "Về mặt chính trị, anh cứ thay mặt đoàn thể mà lo toan, còn về mặt quân sự, thì đã có tôi!" Thấy gương mặt ông lộ nhiều nét buồn vô cớ, tôi đâm lo. Lâu nay tôi vốn bị ám ảnh vì nhiều triệu chứng bất tường, nên hôm nay tôi càng thấy bứt rứt hơn trong lòng, cứ nghĩ vẩn vơ mà không biết mình nghĩ gì. Chỉ mới một tuần lễ trước đây thôi, một nhà tướng số gần Nhà Thờ Huyện Sỹ đa gieo quẻ và nói với tôi: "Này lạ lắm, tôi thấy có một tổ ong bỗng nhiên như bị lạc bầy, bay cùng trời đất. Dường như con ong chúa bị giết hay bị ai bắt mất, khiến đàn ong hoảng hốt không còn trật tự!" Lúc đầu tôi cứ nghĩ là ông thầy tướng nói nhảm, nhưng sau tôi chợt nhớ tới đoàn thể, đem so sánh với tổ ong, tôi đâm hoang mang trong dạ, chả biết nên tin hay không nên tin lời tiên tri nọ. Lại nữa, mới buổi sáng hôm nay, Tướng Thế sai Đại Tá Văn Thành Cao về Đồng Tháp Mười mang thêm lên một số quân cho ông xử dụng. Đại Tá Cao thấy tình hình an ninh giọc đường bất ổn mà thượng cấp sai đi lại chẳng cấp cho một lực lượng hộ tống nào, nên cứ đứng chần chờ trước cửa. Tướng Thế thấy vậy bèn gắt lên: "Ô hay, sao đồng chí không đi gấp cho kịp, để còn về đây mà thay thế tôi?" Đại Tá Cao giật mình sửng sốt, bước ra ngoài lắc đầu, bảo với anh em: "Lạ quá, tại sao Ngài Thiếu Tướng lại nói một câu xui xẻo. Ngài bảo tôi đi gấp để về mà THAY THẾ Ngài? Thay là thay cái gì đây? "Than thở xong, Đại Tá Cao đành lên xe Jeep về Đồng Tháp Mười với một vài binh sĩ thân cận. Ông đâu có ngờ câu nói trên kia là câu trối trăn cuối cùng của Tướng Thế, và cuộc gặp gỡ ấy cũng là cuộc gặp gỡ cuối cùng giữa ông với Tướng Thế.

Các sự việc kể trên, tôi biết có đem ra nói hôm nay, thì Tướng Thế lại gạt đi mà bảo: "Anh chỉ hay dị đoan!" Nên tôi chỉ còn biết kín đáo khuyên ông hãy hết sức thận trọng nơi chiến trường, đừng có quá liều lĩnh. Việc binh cơ đã có các anh em đầy khả năng đảm trách cho rồi, người làm Tướng phải bảo trọng lấy thân cho vững lòng sĩ tốt Tôi nói thế là muốn ám chỉ cáỉ tính ông, hễ ra trận là luôn luôn đi đầu, quá gần với cái chết. Lần này ông không phản đối lời tôi khuyên giải, mà chỉ im lặng gật đầu.

Sau khi buông đũa, chợt ông đưa tay xem đồng hồ, rồi tỏ vẻ giận dữ, cầm máy điện thoại liên lạc với Trung Tá Quân Trấn Trưởng Dương Văn Minh. Tôi nghe ông hét trong máy:" Sao giờ này mà Trung Tá vẫn chưa cung cấp số quân xa theo lệnh tôi?" Thế rồi, ông và các sĩ quan tùy tùng lại xuất trận. Phần tôi, tôi lại lo ra mắt quần chúng trong một cuộc biểu tình được tổ chức trước Tòa Đô Chính. Chiều hôm ấy, trời vần vũ mây đen. Trước khi cất lời kêu gọi quần chúng trên bao lơn Tòa Đô Chính, tôi ngồi im một chỗ như kẻ không hồn. Phóng viên của một tờ báo Hoa-Anh ngữ bên Hồng Kông tiến lại gần, chụp hình và quay phim, tôi cũng để mặc. Từ trên bao lơn Tòa Đô Chính, tôi đưa mắt về phía cầu Tân Thuận, thấy có sấm chớp và nghe tiếng súng nổ dồn dập. Tan cuộc biểu tình, tôi về nhà, lại cũng ngồi im một chỗ, không buồn thay đổi áo quần. Tôi có những cảm giác rất lạ, lòng hồi hộp khác thường. Chợt ngoài đường có tiếng còi nhà binh rú lên, rồi một chiếc xe Hồng Thập Tự Quân Đội quặt vào cổng. Đại Uý Tạ Thành Long hấp tấp chạy vào, gặp tôi thì vừa khóc thút thít vừa báo cáo: Thưa Ngài, Ngài Thiếu Tướng đã mất rồi! Tôi tưởng như trời sập đất lở ngay trước mắt. Tôi hỏi lại: - Long nói sao? Long lập lại lời nói cũ, và thêm: - Hiện giờ ngoài mặt trận, Trung Tá Nguyễn Trung Thừa vẫn tiếp tục chỉ huy, nói là thừa lệnh Ngài Thiếu Tướng, chứ Trung Tá cũng không dám tiết lộ tin Ngài Thiếu Tướng đã tử trận.

Long bèn hỏi tôi bây giờ nên làm sao? Tôi bảo anh hãy đưa ngay thi hài người quá cố lên trên gác. Cả nhà vắng tanh. Gặp trường hợp đau khổ này, phải chi có các anh em như Văn Thành Cao, Hồ Đức Trung, Nguyễn Văn Đờn có mặt tại nhà, thì tôi cũng đỡ bối rối. Đằng này Đại Tá Cao còn đang ở dưới Đồng Tháp Mười, Thiếu Tá Trung bận đi công tác chưa về, còn Thiếu Tá Đờn thì vẫn ở trên Núi Bà Đen. Tôi bồng xác Tướng Thế trên tay, cái xác hãy còn mềm mại như người đang ngủ. Tôi thay đổi áo quần cho ông, rồi đặt nằm ngay ngắn trên giường, đầu quay ra cửa. Người tôi đầy những máu.

Tướng Thế mất đúng 7 giờ chiều ngày mồng 3 tháng 5 năm 1955. Ông bị một viên đạn Carbine duy nhất bắn vào lỗ tai bên phải xuyên thẳng qua mắt trái, tròng mắt bay mất. Khói đạn còn dính bên tai, chứng tỏ kẻ sát nhân phải đứng gần lắm nên mới chính xác như vậy. Một con mắt còn lại nhắm nghiền, hàm răng giả của ông cũng đã bay đi đâu mất. Theo lời Đại Uý Tạ Thành Long báo cáo, và chính tôi cũng đã được Long dẫn đi khám trận một thời gian sau đó, thì một vài phút trước khi Tướng Thế bị hạ sát, ông đang đứng cạnh một bức tường hoa đã đổ nát (ngay dưới chân cầu Tân Thuận, phía Saigon đi xuống, phải đi vòng theo một con đường nhỏ về phiá tay trái mới tới được nơi ấy), ông đưa tay chỉ trỏ, ra lệnh cho quân nhà bắn vào một chiếc Frégate đậu bên kia cầu mà ông nghi là của Pháp giả vờ nằm đó để làm hiệu cho đối phương bắn về phía ông. Cứ theo vị trí kể trên, thì viên đạn đi xéo từ bên phải ở phía sau, trúng ngay lỗ tai, mà người bắn ra viên đạn ấy không thể cách xa hơn 10 thước, và ắt đã núp dưới chân cầu, sau lưng mục tiêu. Tướng Thế chết gục tức khắc, không kịp thốt ra một lời nào. Giữa lúc ấy thì quân Liên Minh đang tiến qua cầu, một chiếc xe Jeep bị bắn hỏng, chết nằm giữa cầu, theo lời tường thuật của Đại Uý Nguyễn Tấn Tước.

Cả thành phố Saigon như lên cơn sốt. Tin Tướng Thế tử trận quả là một tiếng sét chính trị đối với cả chính quyền lẫn các đoàn thể quốc gia. Người đầu tiên được tôi báo tin là Trung Tướng Nguyễn Thành Phương. Ông này tức khắc chạy đến, ôm xác người em đồng đạo khóc như mưa như gió. Trông thấy ông, lòng tôi lại thêm tủi buồn. Tôi hét to lên: "Đây là một vụ ám sát! Tôi quyết phải tìm cho ra ánh sáng vụ này mới nghe!" Tướng Phương cũng thấy như thế, nhưng ông thân mật khuyên tôi: "Chú đừng có nói bậy không nên. Lúc này là lúc chú phải hết sức thận trọng, kẻo nguy lắm đấy!" Một lát sau, Thủ Tướng Diệm và ông Cố Vấn Nhu đều đòi ra thăm. Nhưng chúng tôi thành khẩn khuyên hai nhân vật quan trọng ấy là xin hãy đợi tới sáng hôm sau, chứ đừng đến giữa đêm khuya, vì thành phố Saigon đang có biến, an ninh không đuợc bảo đảm.

Thế là tờ mờ sáng hôm sau 4 /5 /55 điện đường chưa tắt, Thủ Tướng Diệm, Cố Vấn Nhu, cùng toàn bộ Nội Các và Bộ Tham Mưu (do Tướng Lê Văn Tỵ hướng dẫn), đều tề tựu đông đủ trên căn gác nhỏ ở đường Trương Minh Giảng. Thủ Tướng Diệm tức thì có một cử chỉ làm anh em chúng tôi vô cùng xúc động và còn nhớ mãi tới bây giờ. Ông đầm đìa nước mắt, cúi xuống ôm ghì lấy thi hài Tướng Thế, rồi hôn ngay trên mặt người chết. Tiếp đó, ông ngất xỉu luôn. Mọi người hốt hoảng, vội vàng tìm cách cứu chữa, mãi một lát sau ông mới tĩnh, và rồi lại khóc. Còn ông Nhu thì quỳ bên gường, vừa nắm tay người chết vừa kêu than "Anh Thế ơi" với một giọng ai oán đầy nước mắt. Chúng tôi thật không ngờ Thủ Tướng Diệm lại đau khổ tới mức ấy. Ông như mất một người ruột thịt yêu quý nhất trên đời.

Mãi tới 4 giờ khuya, bà Trình Minh Thế mới về tới nơi. Bà như người mê sảng, ôm xác chồng ngất lên ngất xuống, nỗi đau đớn tuyệt vọng của bà thật không có gì sánh nổi. Bà nhắc nhở ngay tới việc chồng bà trước đây hai tháng bỗng nhiên cởi bỏ chiếc nhẫn cưới và trao lại cho bà. Quả là một cử chỉ từ biệt do tâm linh sai bảo, bây giờ mới biết thì đã muộn.


Tướng Trình Minh Thế

Thủ Tướng Diệm liền truy phong chức Trung Tướng cho người quá cố và hạ lệnh quốc táng. Linh cữu Tướng Thế được quàn tại Tòa Đô Chính trên phủ lá Quốc Kỳ, suốt ngày đêm có 4 sĩ quan cấp Tá đứng hầu bên cạnh. Lại một lần nữa, tôi thay mặt gia đình bà quả phụ Nguyễn Thị Kim, đứng chủ tang, đáp lễ đồng bào và thân hào nhân sĩ tới chia buồn. Người quen cũng như kẻ lạ đều khóc nức nở, tỏ bụng thành thực tiếc thương một chiến sĩ anh hùng mệnh bạc. Ngày mồng 5 tháng 5, tôi lại phải tạm rời chiếc quan tài, đi dự một cuộc họp quần chúng tại rạp hát Nguyễn Văn Hảo. Với tấm lòng nát tan, tôi không còn thiết gì tới các hoạt động của Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng nữa. Tiếc thay một số cán bộ chính quyền nói đúng hơn là chân tay của Trần Chánh Thành và Nguyễn Ngọc Lễ (Tổng Giám đốc Cảnh sát Công an) lầm tưởng cái chết của Trình Minh Thế là cơ hội tốt cho họ tiến lên, khuynh đảo Cách Mạng. Họ đặt ra nhiều yêu sách, như thay đổi danh xưng của Ủy Ban Cách Mạng, bầu thêm người vào Ủy Ban, v.v... Thậm chí có người đã lăn ra "nằm vạ" trước bàn Chủ Tọa để làm áp lực. Nếu chúng tôi không cứng rán, thì cuộc họp hôm ấy đã tan rã mất. Chúng tôi không khỏi ngạc nhiên trước thái độ quái gở của mấy người cán bộ kể trên. Đã gọi là "Cách Mạng" thì làm gì có "Bổ khuyết"? Những người được "bổ khuyết" ấy có làm cách mạng chăng? Và họ thay mặt cho ai? Đây lại càng là một bằng cớ hùng hồn cho thấy Ủy Đan Cách Mạng không phải là sản phẩm của chính quyền. Hơn nữa, nếu Ủy Ban Cách Mạng do chính quyền giật giây, thì mọi hoạt động của Ủy Ban hẳn phải do chính quyền quyết định. Đằng này trái lại, chính ông Cố Vấn Nhu đã sai liên lạc yêu cầu chúng tôi "tạm hoãn" cuộc biểu tình ngày 5 /5 / 55, với lý do rằng "Cộng sản Bắc Việt đang lên án chính phủ Ngô Đình Diệm ngoan cố không chịu thi hành Hiệp Định Genève, nay thấy nhân dân Miền Nam biểu tình rầm rộ, chúng có thể cho rằng chính quyền có nhúng tay vào". Nhưng chúng tôi trả lời Ông Nhu rằng chúng tôi đã lỡ tổ chức rồi, không thể hủy bỏ được. Hồ Hán Sơn đã được phái ra Trung chủ tọa một cuộc biểu tình tương tụ tại Phu Văn Lâu.

Ngày mồng 6 tháng 5 được ấn định là ngày cử hành tang lễ cho Cố Trung Tướng Trình Minh Thế. Đúng 9 giờ sáng hôm ấy, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đích thân điếu văn trước linh cữu bấy giờ đã được chuyển ra ngoài công trường Tòa Đô Chính. Tiếng nức nở của Thủ Tướng Diệm lại vang lên trong máy vi âm. Sau đó, quan tài được đặt trên một chiếc xe thiết giáp phủ Quốc Kỳ, lìa khỏi Saigòn, tiến theo con đường lên Tây Ninh. Thủ Tướng Diệm tiễn theo linh cữu tới gần chợ Saigon mới quay trở lại.

Đoàn xe tang, do Quân Cảnh hướng dẫn, kéo dài hơn 3 cây số. Giọc đường, qua các trạm canh gác và các căn cứ quân sự, anh em cảnh sát và quân nhân bất chấp luật lệ phải quay mặt ra phía lề đường, thì họ lại ngảnh mặt về phía xe tang gào lên những lời tiếc thương nghe thật thảm thiết. Tôi còn nhớ rõ một bà cụ mới di cư vào Nam, đã chạy ra đường, đón đoàn xe tang mà kêu lên rằng "ông Thế ơi, ông nỡ bỏ chúng tôi sao?"

Tới đây, tôi muốn nói rõ một điều. Số là chúng tôi dự định, trước khi vào Núi Bà Đen, đoàn xe tang sẽ rẽ vào Tòa Thánh Cao Đài, ngừng lại làm lễ, rồi mới theo con đường Bình Dương Đạo vào núi. Nhưng tiếc thay, Tòa Thánh đã chẳng cho phép, mặc dù cả gia đình Tướng Thế đều là tín đồ Cao Đài chính thống, và mặc dù nhà riêng của Tướng Thế ở tại cửa số 5, cạnh chu vi Tòa Thánh. Sự việc lạ lùng kia đã gây đau buồn thắc mắc trong lòng các chiến sĩ Liên Minh cho mãi tới ngày nay. Nhân đây, tôi cũng muốn nói thêm cho rõ là Quân Đội Quốc Gia Liên Minh, tức là lực lượng võ trang của Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến, không có mối liên hệ nào với Quân Đội Cao Đài, dù rằng phần đông binh sĩ Liên Minh đều xuất thân từ Cao Đài mà ra. Danh nghĩa Liên Minh quả thực đã vượt lên trên giới hạn của một giáo phái để chuẩn bị đóng một vai trò rộng lớn hơn. Phải chăng vì thế mà Tòa Thánh đã tỏ vẻ lạnh nhạt, khiến cho đoàn xe tang phải đổi lộ trình, đi thẳng vào Tỉnh Lị Tây Ninh, rồi theo con đường đất đỏ, vào núi? Xét vấn đề một cách vô tư, tôi thấy Tòa Thánh có chỗ hẹp lượng. Giả dụ thuở bình sinh, Trình Minh Thế có phạm lỗi lầm gì chăng nữa, thì "nghiã tử vẫn là nghĩa tận", hẹp hòi gì một chút lễ nghi hình thức với người đã nằm xuống? Tòa Thánh đã bỏ mất đi một cơ hội để làm nhẹ bớt đi tội ác của Nguyễn Văn Thành đối với Trình Minh Thế trong mấy năm qua. Tôi nghĩ thật đáng tiếc.

Tướng Thế được an táng tại "Nghĩa Trang Liên Minh", tọa lạc nơi chân núi Bà Đen. Nghĩa trang này, như tôi đã thuật trong một đoạn trước, do chính Tướng Thế chọn lựa thành lập chừng một vài tháng trước khi về thành. Chúng tôi muốn cho "người anh cả" của Liên Minh lại về nằm chung với các "đứa em" đã ngã gục trước ông. Núi Bà đã che chở ông trong những ngày lận đận gió sương, thì nay Núi Bà lại đem hồn thiêng ông về chỗ cũ để ngàn thu bầu bạn với chim kêu vượn hót. Ông về thành hợp tác với chính quyền, nhưng ông chưa hề biết tới cái gọi là "Mùi hưởng thụ'' trong cuộc đời mới. Chính quyền chưa để lại dấu vết gì của "Vinh hoa phú quý" trên con người ông. Nhà vẫn là nhà ở của Liên Minh. Chiếc xe khiêm tốn dùng xê dịch hàng ngày vẫn là vật sở hữu của Liên Minh. Đoàn quân xuất trận với ông bên cầu Tân Thuận vẫn là quân Liên Minh, ông chỉ "ghé chơi" Saigon một thời gian, tuy ngắn ngủi, nhưng cũng quá đủ để quốc dân đồng bào thấy rõ tài năng "xuất quỷ nhập thần" của ông, rồi lại về Núi Bà nằm chung với đàn em yêu dấu ngày nào. Ông không có gì hổ thẹn với đàn em ấy cả. Chúng tôi quyết định đưa xác ông về Núi Bà với tất cả sự hãnh diện, hãnh diện cho một lãnh tụ kháng chiến bình sinh nêu cao ngọn cờ "chống cộng, đả thực, bài phong", và khi nhắm mắt buông tay cũng vẫn trên danh nghĩa sáng rực ấy. Hãnh diện cho cả bản thân chúng tôi đã không uổng phí tuổi hoa niên kết nghĩa đồng tâm đồng chí với con người hiếm hoi ấy.

Một thời gian sau khi Tướng Thế mất, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm muốn bày tỏ lòng tiếc thương bằng cách định thuê thợ đúc tượng đồng cho Tướng Thế. Thủ Tướng có đề nghị với chúng tôi là xin để chính phủ đài thọ chi phí về việc ấy với giá ước lường đương thời là nửa triệu bạc.

Nhưng chúng tôi không nhận, và chính đoàn thể chúng tôi đã đúc bức tượng đồng đặt ngay nơi mộ để làm kỷ niệm. Dưới bức tượng ấy, có khắc ghi 4 câu thơ do tôi sáng tác khoảng 3 năm trước, khi còn ở trong rừng. Đó là một bài thơ dài đã được nhạc sĩ Trần Ngọc phổ thành một bài ca riêng cho anh em Liên Minh. Bài ca này rất được anh em ngưỡng mộ, thường hát mỗi ngày khi chào cờ. Và sau khi Tướng Thế qua đời, đài Phát Thanh Quân Đội, cũng đã có trình tấu nhiều lần. Bốn câu thơ được trích ra khắc vào bức tượng đồng như sau:

Trình Minh Thế, đấng anh hùng cứu quốc,
Đã tung cờ chính khí giữa non sông.
Cùng hào kiệt đổi trao lời nguyện ước,
Thề hy sinh để cứu vãn giống giòng!

Gẫm tính lại, Trình Minh Thế có mặt tại Saigon vừa đúng 80 ngày tất cả. Thời gian ấy ngắn ngủi thật, nhưng đã xảy ra biết bao nhiêu biến cố lịch sử còn ghi dấu tích của họ Trình. Có người đặt dấu hỏi là nếu Trình Minh Thế không về với Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, thì liệu ông có phải thiệt thòi tính mạng một cách oan uổng như thế không? Tôi thấy khó mà trả lời câu hỏi này. Bởi lẽ Trình Minh Thế là một chiến sĩ thực thụ, chống 3 kẻ thù dân tộc bằng súng bằng gươm, chứ không bằng lý thuyết, bằng lời bàn suông, thì sự tử sinh sớm muộn cũng sẽ có, biết đâu mà lường được. Lại có người thắc mắc, Trình Minh Thế tử trận? Hay bị ám sát? Bằng vào các chi tiết như tôi đã diễn tả trên, thì Trình Minh Thế không tử trận, mà thật sự là ông bị ám sát ngay giữa chiến trường. Ai đã ám sát ông? Cá nhân hay tổ chức? Đã gần 30 năm qua, tôi cố tìm ra sự thật chung quanh một số các giả thuyết.

Trước hết, các thành phần không ưa Cố Tổng Thống Diệm cho rằng ông Diệm hoặc ông Nhu đã nhúng tay vào máu, trừ khử trước một người tuy có công với chính quyền, nhưng lại "rất nguy hiểm" cho chính quyền. Thú thật, ngay buổi đầu, lòng tôi cũng đã có sự nghi ngờ ấy. Nhưng rồi tôi lại tự bác bỏ ngay. Xét về mặt lý thuyết, Cố Tổng Thống Diệm không dại gì vội vàng chặt đứt chân tay mình bằng cái chết của Trình Minh Thế, ngay giữa lúc đối phương đang triệt để lũng đoạn tình hình, khuynh đảo chính quyền. Dù quả thật Trình Minh Thế có "nguy hiểm" chăng nữa, thì cũng vẫn chưa phải lúc để ra tay. Uy danh Trình Minh Thế còn đang rất hữu ích đối với chính quyền, lá bài hợp tác còn cần được khai thác. Bảo rằng Trình Minh Thế chủ trương "đánh cụi" Bình Xuyên ư? Nhưng "đánh cụi" để được cái lợi gì cho Thế? Để cướp quyền Tham Mưu Trưởng của Lê Văn Tỵ rồi thừa thắng xông lên, lật đổ chính phủ chăng? Việc này không dễ gì đạt được một sớm một chiều, huống chi Trình Minh Thế không bao giờ có ý tưởng ấy. Nếu muốn lật đổ chính phủ, thì trong đêm 30 tháng 4 tại Dinh Độc Lập, hoàn toàn bị tê liệt, chúng tôi có thể uy hiếp mạng sống của Cố Tổng Thống Diệm ngay trong phòng ngủ của ông, bắt ông tuyên bố nhường quyền, thì toán quân yếu ớt Phòng Vệ Dinh Độc Lập lúc ấy cũng không làm gì được. Họ đành phải bỏ tay, cũng như toán Ngự Lâm Quân đã phải bó tay khi chủ soái của họ đang đứng trước họng súng của tôi.

Xét về mặt tình cảm, lại càng khó lên án hai anh em Cố Tổng Thống Diệm. Người ta không quên một ông Thủ Tướng háo hức vào chiến khu thăm Trình Minh Thế, đòi hỏi Trình Minh Thế phải về gấp trong vòng hai tuần lễ. Người ta không quên một ông Thủ Tướng công khai ca tụng Trình Minh Thế trước mặt nhân viên Nội Các. Người ta cũng không quên một ông cố vấn lặn lội vào ra Núi Bà Đen năn nỉ đón cho được Trình Minh Thế về với anh mình, quý trọng Thế cho đến nỗi Thế đòi hỏi gì cũng ưng thuận hết. Huống chi một người đã ôm xác Thế khóc rồi ngất đi, và một người đã quỳ bên giường Thế kêu than thảm thiết, không thể là một "Tào Tháo gian hùng" giết bạn, rồi vờ khóc bạn để che mắt thế gian. Phải chi chính quyền đang ở thế mạnh, bình tĩnh bày gian kế, thì cũng còn nghe được. Đằng này, chính quyền đang rối như tơ vò, một mặt chưa biết đối phó với Bình Xuyên ra làm sao, mặt khác lại bị Nguyễn Văn Vỹ lăm le đảo chính, thì hỏi còn lòng nào cho một con người đạo đức như Ngô Đình Diệm quay ngược lại sát hại anh em đồng chí? Và dù một Cố Vấn Ngô Đình Nhu có kỳ mưu dị kiến tới đâu chăng nữa, cũng không thể khờ dại lén lút giết Thế để làm hại ngay cả anh mình.

Giả thuyết thứ hai cho rằng ông Tướng Edward Lansdale có thể đã dính líu vào nội vụ, lý luận rằng ông này vốn triệt để ủng hộ Thủ Tướng Diệm, mà Trình Minh Thế thì lại phá Thủ Tướng Diệm bằng việc tham gia Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia. Tôi không đồng ý. Phải biết rằng ông Edward Lansdale là một nhà Tướng, bao giờ cũng có cảm tình với nhà Tướng khác. Đặc biệt Trình Minh Thế lại là một nhà Tướng trẻ tuổi, anh hùng, ngay lúc sơ ngộ đã khiến Lansdale hết sức kính nể. Việc Trình Minh Thế tham gia Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia đã có cho Thủ Tướng Diệm lẫn ông Lansdale biết trước, thì còn nghi hoặc chỗ nào nữa? Huống chi, nếu Tướng Lansdale chủ trương giết Thế, thì không bao giờ ông còn giữ được mối liên lạc thân hữu với anh em Liên Minh cho mãi tới ngày nay. Không bao giờ ông phải khổ công "đóng kịch" bằng cách tự nguyện đứng ra làm "chủ hôn" cho con trai Tướng Thế là Trình Minh Nhựt. Không bao giờ ông thèm "chơi"; với Văn Thành Cao là người kế vị Tướng Thế cả. Tôi thấy Tướng Lansdale, nay đã ngoài 75 tuổi, vẫn luôn luôn thương tiếc nhắc nhở tới Tướng Thế, luôn luôn ca tụng con người tài hoa ấy. Thậm chí trong nhà ông, hiện giờ vẫn còn giữ hình ảnh của Tướng Thế làm kỷ niệm.

Giả thuyết thứ ba cho rằng Trình Minh Thế bị ám sát bởi tay bọn sĩ quan tôi tớ cũ của Pháp. Thủ phạm chính thì hành vụ ám sát kia là cựu Tướng M.H.X., người mà 8 năm sau đã thay mặt bọn Dương Văn Minh hạ sát cả hai anh em Diệm Nhu buổi sáng ngày mồng 2 tháng 11 năm 1963, trước rạp hát Kim Chung ở đường Hồng Thập Tự.

Tôi hoàn toàn đồng ý với giả thuyết này. Bởi các lẽ:

1. Pháp hết sức căm thù Trình Minh Thế và đã công khai lên án tử hình khiếm diện hồi 1951, khi Trình Minh Thế vừa ra khu. Việc này thật dễ hiểu, vì chẳng những Trình Minh Thế lập chiến khu chống Pháp công khai, mà trước đó không bao lâu, chính Trình Minh Thế đã chủ trương vụ ám sát Tướng Chanson và Thái Lập Thành, giao cho thuộc hạ thân tín lúc bấy giờ là Đại Uý Văn Thành Cao, Chỉ Huy Trưởng Quân Đội Cao Đài tại Sađéc, thi hành công tác mạo hiểm này.

2. Một Thiếu Tá phi công Pháp bị Trình Minh Thế bắn chết, khi viên phi công này bay thám thính trên chiến khu Bù Lu.

3. Hai quả bom khiêu chiến của Liên Minh tại Saigon ngày mồng 9 tháng 1 năm 1952 là một cái tát đau đớn vào mặt nhà cầm quyền Pháp, báo hiệu cho Pháp biết Trình Minh Thế là một địch thủ lợi hại, cần phải trừ khử bất cứ lúc nào.

4. Hai tên chủ đồn điền Pháp tại Tây Ninh bị Trung Tá Nguyễn Trung Thừa bắt được và hạ sát hồi cuối năm 1954. Pháp vô cùng phẫn uất, nhờ cả Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc can thiệp, đòi hỏi Trình Minh Thế phải đền bồi này nọ.

5. Pháp sợ uy danh Trình Minh Thế cho đến nỗi, trong các cuộc biểu tình ngày 30/4, ngày 3/5, ngày 5/5 và ngày 20/ 7/ 55 tại Saigon (khi Thế đã mất rồi), tất cả quân binh Pháp đều bị cấm trại 100%.

M.H.X. là một nhân viên tình báo nổi tiếng phục vụ cho quyền lợi Pháp ở Việt Nam. Tên này chưa hề ra trận mạc bao giờ, mà vẫn lên tới cấp Tướng của Pháp, đủ biết hắn ta được lòng tin cậy của Pháp như thế nào. Các tin tức thu lượm được cho hay M.H.X. đã tổ chức sai người theo dõi Trình Minh Thế từ khi Thế mới về thành, và khi biết Thế thân hành ra chỉ huy mặt trận tại Cầu Tân Thuận, thì M.H.X. sai bộ hạ phục sẵn dưới cầu, thừa lúc chiến sự đang sôi nổi hỗn loạn, bắn ngay một phát súng Carbine từ đằng sau tới, rồi biến vào nhà dân ở gần đó.

Và câu kết luận của tôi là Trình Minh Thế đã bỏ mình vì thực dân Pháp chứ chẳng phải ai khác. Đáng hận là cái chết ấy lại xảy ra khi "lịch sử tái chiếm Việt Nam của Pháp" chỉ còn mấy tháng nữa là cáo chung. Trình Minh Thế chết vì khinh địch, vì cái tinh thần dũng cảm của con nhà Tướng luôn luôn sẵn sàng hứng chịu lằn tên mũi đạn. Sau hết, vì chưa lường nổi một âm mưu thâm độc xảy ra quá sớm.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG XVIII
‘‘CHIẾN DỊCH TỐ CỘNG’’ TRÌNH MINH THẾ

Thú thực là sau khi Trình Minh Thế mất, lòng tôi kể như đã chết theo ông. Tôi chán nản rụng rời, chẳng còn muốn hoạt động gì nữa cả. Vì chẳng những tôi thiệt mất một người đồng chí mà tôi kính trọng về mọi phương diện, mà cái chết đột ngột và oan ức của người ấy cũng đã làm tiêu tan bao nhiêu kỳ vọng của anh em Liên Minh chúng tôi về một cuộc đại thắng cộng sản trong tương lai. Buổi sinh tiền, Thế coi như không có Hiệp Định Genève, không có cuộc phân ly đất nước tại sông Bến Hải. Thế tin tưởng Miền Nam nhất định sẽ có ngày đứng lên, hành quân chinh phạt những kẻ mắc tội chia đôi sơn hà vì quyền lợi, vì chủ nghĩa.

Tôi đã mất khá nhiều nước mắt. Tôi khóc khi ôm xác Thế vào lòng. Tôi khóc bên cạnh quan tài của Thế đặt nơi Tòa Đô Chính Saigon. Tôi khóc theo tiếng nức nở của đồng bào tới đặt tràng hoa phúng điều, và theo những lời lẽ bi ai của Thủ Tướng Diệm trong bài điếu văn tiễn biệt hôm cử hành tang lễ. Trở về phía nội bộ đoàn thể, tôi đề nghị với Đại Tá Văn Thành Cao hạ lệnh cho tất cả anh em Liên Minh để tang đúng 100 ngày.

Ấy vậy mà hoàn cảnh, tôi vẫn phải cố gượng tham dự các buổi họp bàn của Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng. Ban Thường Vụ quyến định tổ chức biểu tình vào ngày 5 tháng 5. Chủ tịch Nguyễn Bảo Toàn vì lẽ gì không rõ, đã im lặng lánh mặt. Phó Chủ Tịch Hồ Hán Sơn được cử ra Trung chủ tọa cuộc biểu tình trước Phu Văn Lâu ? Còn tôi thì chịu trách nhiệm về cuộc biểu tình được coi là rầm rộ nhất tại Saigon. Chắc là đồng bào quá phẫn uất vì cái chết của Tướng Thế, nên đã dành cho tôi khá nhiều thiện cảm. Đồng bào yêu cầu tôi lên tận nóc nhà hàng Hòa Bình đối diện với Bùng Binh chợ Bến Thành để ra mắt họ. Rồi sau đó, lại nhất thiết đòi hỏi tôi phải xuất hiện trên từng cao chót vót của Rạp Hát Nguyễn Văn Hảo cho ai nấy hoan hô chào mừng.

Bầu không khí chính trị tại Saigon hết sức căng thẳng. Anh em thanh niên, sinh viên, dưới quyền lãnh đạo của các anh Nguyễn Trọng Nho, Lê Hữu Bôi, kéo nhau qua các phố phường, giật sập các tấm bảng hiệu bằng tiếng Pháp, phá hủy các tấm biển chỉ đường bằng tiếng Pháp, và còn yêu cầu tôi ra lệnh cho anh em biểu tình ''nằm vạ'' luôn đôi ba ngày trước trụ sở Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến tại đường Cống Quỳnh. Tinh thần quá khích của lớp người trẻ yêu nước kia đã làm cho Pháp hoảng sợ, phải ban lệnh cấm trại binh lính của họ. Thấy tình hình có thể đi đến chỗ tràn ngập, rối ren, Dinh Độc Lập kín đáo khuyên tôi nên mở một cuộc họp báo quốc tế nhằm trấn an dư luận. Tôi liền triệu tập cuộc họp báo ấy tại Trụ sở Cách Mạng, số 25 đường Phùng Khắc Khoan. Cùng ra mắt bên cạnh tôi trong dịp ấy có Cha Phạm Như Phiên, Chủ Tịch Ủy Ban Cách Mạng Nam Việt, có Bác Sĩ Phan Quang Đán, cựu Bộ Trưởng Thông Tin trong chính phủ Nguyễn Văn Xuân hồi 1948. Bác Sĩ Đán vừa ở ngoại quốc về, và nhiệt tình ủng hộ Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng. Báo chí chất vấn tôi về lập trường đối nội, đối ngoại, của Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng, và muốn biết về thái độ dứt khoát của riêng tôi đối với chính phủ đương thời, để xem tôi ủng hộ hay chống báng, vì họ không hiểu sao Trụ sở của Cách Mạng lại bị cảnh sát bao vây như tôi đã thuật trong một đọan trước.

Tôi trả lời bằng cách viện dẫn ngay sự cam kết của Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến qua bài diễn văn của Tướng Thế trong buổi lễ hợp tác hôm 13 tháng 2 vừa qua. Nghĩa là tôi vẫn một lòng ủng hộ Thủ Tướng Diệm, không gì thay đổi. Ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu liền cho tôi hay ông khá yên tâm.

Tiếc thay, giữa lúc ấy thì bộ ba Trần Chánh Thành (Bộ Trưởng Thông Tin), Nguyễn Ngọc Lễ (Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia) và Trần Bá Thành (Giám Đốc Cảnh Sát Nam Việt), lại âm mưu với nhau gây ra một màn rắc rối trầm trọng giữa cá nhân tôi với chính phủ. Bất thình tình, tôi bị một toán cảnh sát võ trang dừng cả xe hơi lẫn xe gắn máy đón bắt ngay trước cổng Trụ Sở Cách Mạng, khi tôi vừa lái xe ra cổng. Cùng đi trên xe tôi, có một số anh em thân cận (kể cả người em kết nghĩa là Lê Triết, hiện nay là Tổng Thư Ký Tòa soạn Tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong). Tôi bị cưỡng bức phải lái xe theo toán cảnh sát kia về bót Cảnh Sát Trung Ương Catinat vào lúc 9 giờ sáng. Tới nơi, tôi tức khắc phản đối kịch liệt việc bắt giữ vô lý này trước mặt một viên Đại úy tại Nha Hình Cảnh Lưu Động. Tôi thẳng thắn tuyên bố rằng, nếu nhà cầm quyền vô cớ xúc phạm tới an ninh cá nhân tôi mà không giải thích được lý do, thì hãy cho tôi mượn điện thoại liên lạc với đoàn thể của tôi, yêu cầu tất cả anh em Liên Minh "hãy bỏ súng xuống, rủ nhau về nhà cày ruộng, không thèm hợp tác với chính quyền này nữa".

Tôi mắng thẳng vào mặt viên Đại Úy kia: "Các ông là những kẻ phản bội, vô ơn. Các ông đối xử bạc bẽo với tôi như thế này sao? Chúng tôi đã xả thân ra ủng hộ chính quyền này, chúng tôi đang hoạt động, đang tiếp tục giúp đỡ các ông giữ vững địa vị mình. Tại sao lại dùng quyền lực đưa tôi về đây? Các ông hãy nói cho rõ, các ông muốn làm nhục tôi đây là làm nhục một cá nhân, hay là muốn triệt hạ vai trò của tôi trong Ủy Ban Cách Mạng?"

Lạ thay, viên Đại Uý kia bị mắng nhiếc như thế mà không tỏ phản ứng. Với dáng điệu lúng túng rõ rệt, ông ta nhỏ nhẹ bảo tôi: "Xin ông đừng vội nóng giận. Chúng tôi đang đợi lệnh thượng cấp". Thấy thái độ bất minh kia, tôi càng nổi giận, đưa tay chỉ mấy người anh em cùng bị bắt với tôi, mà nói: "Nếu các ông muốn bắt thì hãy bắt một mình tôi thôi. Mấy người anh em này vô tội, tình cờ cùng ngồi một xe với tôi, hãy tha cho họ về." Viên Đại Úy vẫn không trả lời, lễ phép mời chúng tôi ngồi nơi phòng khách, rồi bỏ lên trên gác. Tôi linh cảm có cái gì bất thường trong vụ này và tôi sợ mình sẽ bị kín đáo thủ tiêu. Viên Đại Uý kia nói là "đợi lệnh thượng cấp", song chẳng thấy lệnh nào ban ra cả. Ông ta ngồi đó, và chúng tôi ngồi đây. Bất đồ, giữa lúc tôi đang nghĩ cách tự mình giải thoát, thì một viên Đại Úy Cao Đài tên là Trần Ngọc bỗng đâu lù lù bước vào phòng khách, tôi bèn nhanh nhẹn hất chân, bảo khẽ anh ta là hãy về ngay tức khắc, cho Trung Tướng Phương biết tôi đang bị cảnh sát giam hãm. Anh ta hết sức ngạc nhiên, song cũng kịp hiểu là tôi không nói đùa, bèn vội vàng quay gót ngay, trước thái độ chới với của viên Đại Úy cảnh sát.

Thế là bỗng chốc bên ngoài nổi một cơn sóng gió. Trung Tướng Phương được báo cáo, thì lập tức liên lạc với Tướng Văn Thành Cao, rồi lại gọi ngay vào Dinh Độc Lập, chất vấn Thủ Tướng Diệm và ông Cố Vấn Nhu xem có ra lệnh cho cảnh sát đón đường bắt giữ tôi không? Lại đến lượt Dinh Độc Lập lấy làm kinh ngạc. Thủ Tướng Diệm - theo lời báo cáo của viên Phụ Tá Tham Mưu Biệt Bộ, Thiếu Tá Tạ Thành Long, thuật lại sau này - hôm ấy đã nổi trận lôi đình, sai đòi ngay Bộ Trưởng Nội Vụ Bùi Văn Thinh vào Dinh chất vấn. Bùi Văn Thinh ngỡ ngàng, không hay biết gì hết, bèn quay ra hỏi Tổng Giám Đốc Nguyễn Ngọc Lễ. Ông Tướng này không ngờ âm mưu bị đổ bể, thấu tới tai chính phủ, nên sợ tội chối phăng, rồi không ngần ngại đổ trút hết trách nhiệm lên đầu Giám Đốc Nam Việt Trần Bá Thành.

Cùng lúc Tướng Phương liên lạc bằng điện thoại với Dinh Độc Lập, thì phần Tướng Cao cũng hấp tấp xin vào yết kiến Thủ Tướng Diệm, đồng thời sai Thiếu Tá Hồ Đức Trung chạy tới Tổng Nha Cảnh Sát để can thiệp. Hồ Đức Trung bắt gặp cả ba ông Bùi Văn Thinh, Nguyễn Ngọc Lễ và Trần Bá Thành đang hội họp, tìm cách gỡ rối. Trung tỏ sự bất bình riêng với Trần Bá Thành mà nói: "Khốn nạn, các anh chẳng hại ai lại nhè hại anh em chúng tôi, chẳng hiểu các anh sẽ trả lời dư luận sao đây?" Rút cục, Trần Bá Thành ở vai thấp kém, nên đành gánh hết hậu quả. Vào khoảng quá trưa, sau khi đã bàn bạc kỹ với nhau về cách thức phải buông tôi ra làm sao cho Cảnh Sát khỏi bị nhục, Trần Bá Thành cay cú bước vào gặp tôi. Đang có sự bất mẫn trong lòng, tôi chẳng buồn ngó mặt Thành, đợi cho Thành tự mình giới thiệu tên tuổi chức tước, rồi nói: "Chúng tôi hết sức ân hận về việc này. Chẳng qua vì cấp dưới không biết, nhận lầm ông với một người khác. Lại rủi gặp lúc các vị thượng cấp của chúng tôi đều vắng mặt, nên phải đợi chỉ thị rồi mới giải quyết được. Xin ông đừng phiền, và bây giờ xin cho tôi được đưa xe tiễn ông về nhà!" Rõ ràng là Thành đã nói láo, vì thượng cấp của ông ngồi cả trên gác, cách tôi chỉ mấy bực thang, chứ đi đâu mà vắng mặt? Tôi mát mẻ bảo Thành: "Quý vị lầm sao được vì quý vị đã đón bắt tôi ngay trước Văn Phòng của tôi. Dù mà quả thật quý vị có lầm chăng nữa, thì đây cũng là một hành động tai hại, làm nản lòng những ai đang muốn giúp đở chính quyền này." Thành cúi mặt, nhận tiếng "cám ơn" nhạt nhẽo của tôi, và tôi khước từ không chịu để Thành tiễn đưa như ông đã ngỏ ý.

Tôi đã định bày tỏ nỗi bất bình riêng với Thủ Tướng Diệm và ông Cố Vấn Nhu. Nhưng sau khi được biết Dinh Độc Lập hoàn toàn không dính líu vào vụ rắc rối, lại nhanh chóng giải quyết trong huynh đệ, tôi không nói gì nữa, và coi đó là âm mưu không mấy tốt đẹp của Bộ Thông Tin với Tổng Nha Cảnh Sát. Ngày 13 tháng 2 năm 1956, đoàn thể chúng tôi thết tiệc trà kỷ niệm đúng một năm tròn ngày về hợp tác với chính phủ. Cả bộ ba Trần Chánh Thành, Nguyễn Ngọc Lễ và Trần Bá Thành đều có tới dự, gián tiếp mong tôi xoá bỏ đi cái lỗi lầm của họ ngày xưa. Dịp ấy, Tướng Lễ còn nồng nhiệt bàn bạc với tôi về vấn đề "đoàn kết". Tôi cảm thấy chua xót trong lòng.

Tôi tưởng cũng nên nói sơ lược về lai lịch của Tướng Nguyễn Ngọc Lễ. Được biết ông này nguyên thuộc hàng ngũ "Lính Khố Xanh" ngày xưa. Chả biết đã lên tới cấp bực nào, nhưng khi Trần Văn Lý được Pháp chọn ra làm Thủ Hiến Trung kỳ hồi 1947, thì Trần Văn Lý phong cho Lễ chức Đại Úy và giao cho chỉ huy tổ chức quân sự tạm thời tới đó, gọi là Việt Binh Đoàn. Lễ dần hồi lên tới cấp Đại Tá. Tới khi thành lập Chính phủ Ngô Đình Diệm, Lễ không xu phụ theo nhóm Nguyễn Văn Hinh chống Diệm, nên bị Hinh ghét bỏ. Một hôm, Lễ ra đường, bất ngờ bị đối phương đuổi bắt. Lễ hoảng sợ, lái xe Jeep chạy ngược đường Công Lý, tới ngang hàng rào Dinh Độc Lập, thì bỏ xe, phóng mình qua rào sắt vào bên trong Dinh Độc Lập. Vừa chạy vừa kêu: "Cụ Thủ Tướng ơi! Xin Cụ cứu con với, bọn thằng Hinh nó đuổi bắt con đây". Thế là câu chuyện đến tai Thủ Tướng Diệm, ông bèn dùng Lễ, phong ngay cho chức Thiếu Tướng, và bổ làm Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia. (Đây là lời thuật của ông Cố vấn Ngô Đình Nhu với tác giả).

Lại sắp tới ngày 20 tháng 7, ngày mà toàn dân không sao quên được cái tội của cộng sản với thực dân toa rập nhau chia đôi đất nước bằng Hiệp Định Genève. Thuở ấy báo chí chưa đặt tên cho ngày ấy là ngày gì, và phía chính quyền cũng không thấy có ý định làm gì nhầm đánh dấu cái năm đầu của vụ ký kết. Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng bèn quyết định hành động. Chúng tôi đặt tên là "Ngày Quốc Hận", đồng thời phóng ra một chiến dịch đấu tranh mệnh danh là "CHIẾN DỊCH TỐ CỘNG TRÌNH MINH THẾ" với một cuộc biểu tình toàn quốc vĩ đại tổ chức đúng vào ngày 20 tháng 7 năm 1955.

Dân chúng Saigon hưởng ứng nhiệt liệt. Một diễn đàn đuợc thiết lập tại công trường Lê Lợi cho các từng Iớp nhân dân lên phát biểu ý kiến. Tôi muốn nói thêm rằng, truớc khi tổ chức cuộc biểu tình kia, Hồ Hán Sơn và tôi đã có chủ đích lợi dụng cuộc tập họp quốc dân để tặng tên cộng sản Văn Tiến Dũng một trận đòn ác liệt. Nên nhớ là hồi đó Văn Tiến Dũng thay mặt ngụy quyền Hà Nội trong cái tổ chức gọi là "Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến" với những thành viên như Ba Lan, Ấn Độ luôn luôn bênh vực cộng sản. Được biết Văn Tiến Dũng chẳng những không bị đuổi khỏi Miền Nam, lại được cho trú ngụ tại khách sạn Majestic đối diện bến Bạch Đằng, và ngày ngày lại còn đuợc nhân viên công lực bảo vệ an ninh, hộ tống cho tên ấy đi đi về về giữa thủ đô Saigon. Chúng tôi quyết sẽ trị tên này mội phen thất điên bát đảo. Hồ Hán Sơn phụ trách viết truyền đơn, nhắc nhở đồng bào về những điều "ngứa mắt kể trên, và kêu gọi ai nấy hãy đón bắt cho được tên cộng sản Văn Tiến Dũng để trị tội.

Bất đồ, một thanh niên - sau được biết là một cán bộ thông tin của Trần Chánh Thành - đột ngột lên cướp diễn đàn, định hướng cuộc biểu tình theo một hướng nào đó chưa ai biết. Được ban tổ chức cho hay, chúng tôi liền đích thân can thiệp, đuổi thanh niên kia ra khỏi chỗ. Thế rồi, trong lúc đám đông định kéo đi tuần hành về phiá đường Lê Lợi, thì một đám đông khác gồm nhiều sinh viên học sinh được ban tổ chức kín đáo hướng dẫn xuống mạn bờ sông, đoạn bất thình tình ùa nhau tới tấn công khách sạn Majestic, nhằm bắt sống tên Văn Tiến Dũng. Nhà hàng Majestic phút chốc biến thành một bãi chiến trường. Các anh em sinh viên lục tìm khắp nơi, đập vỡ các cửa kính, phá hủy một số đồ đạc bên trong, rồi rủ nhau khiêng những chiếc ghế bành to tướng ném từ mấy từng lầu cao xuống mặt đường. Nhân có một chiếc xe sơn màu trắng mang dấu hiệu Ủy Hội Quốc Tế đậu trước cửa nhà hàng, đám biểu tình bèn đập vỡ thùng xăng rồi phóng hỏa. Lửa bốc cao ngùn ngụt, giữa những tiếng súng bắn chỉ thiên của cảnh sát. Cùng một số phận với nhà hàng Majestic, khách sạn thứ hai mang tên Galliéni tại đường Trần Hưng Đạo cũng bị đám biểu tình đốt phá, vì được tin là một số cán bộ cộng sản được chứa chấp tại đó.

Tiếc thay, tên Văn Tiến Dũng đã kịp thoát thân. Hắn được một người bồi khách sạn Majestic, gốc Trung Hoa (hẳn là do cộng sản gài vào) cõng hắn chạy băng qua trước mặt đám anh em sinh viên, nhưng vì anh em không biết mặt, nên đã vô tình để hắn thoát thân. Vụ vây bắt tên này đã gây thiệt hại khá lớn cho nhà hàng Majestic, lên tới 5 triệu bạc Việt Nam buổi đương thời. Thủ Tướng Diệm phải nhận chịu bồi thường. Ông có nhắn lời trách cứ tôi, nhưng tôi vẫn vui vẻ nhận chịu, vì tôi thấy dù kết quả không được như ý muốn, song ít nhất cũng đã cho tập đoàn cộng sản một bài học. Từ ngày đó, Văn Tiến Dũng trốn đi đâu mất. Chỉ có điều đáng buồn là một số sinh viên học sinh, khoảng 50 người, bị cảnh sát bắt về giam. Đại diện của họ báo tin cho tôi hay, yêu cầu can thiệp. Tôi không liên lạc với cảnh sát mà lại gọi điện thoại thẳng cho ông Trần Chánh Thành, Bộ Trưởng Thông Tin. Tôi nói rằng các anh em kia chỉ vì lòng yêu nước, vì tinh thần chống cộng tích cực, mà hành động, chứ họ chẳng có tội gì. Bắt giam họ chỉ làm thất nhân tâm mà thôi. Ngay sau đó, tất cả mọi người đều được trả tự do.

Thế là "Chiến Dịch Tố Cộng Trình Minh Thế'' ngay từ lúc mở màn đã gây được tiếng vang to rộng trong quần chúng- Tên tuổi Trình Minh Thế xuất hiện khắp mọi nơi. Con đường Khánh Hội đổi là Đại Lộ Trình Minh Thế, bao nhiêu thành phố khác cũng bắt chước theo. Ngoài Đà Nẵng, chiếc cầu quan trọng mang tên tướng Pháp Delattre

De Tassigny cũng đã đổi danh mà được gọi là "Cầu Trình Minh Thế''.

Ít lâu sau, cũng trong một chiều hướng đấu tranh như trên, chính quyền có mở ra một chiến dịch mệnh danh là "TỐ CỘNG" mà thôi, chứ không dùng tới tên của Trình Minh Thế nữa. Chúng tôi quả tình không hiểu chiến dịch này có phải là hậu thân của "Chiến Dịch Trình Minh Thế" đó chăng?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG XIX
DƯ ÂM TRÌNH MINH THẾ

Thuở xưa, đọc truyện Tam Quốc, tới hồi Quan Vân Trường bị Đông Ngô ám hại, Trương Dục Đức nóng lòng báo thù cho anh mà chết, và Chiêu Liệt Hoàng Đế quá xót thương hai em cũng đã nhắm mắt tại Cổ Thành, tôi chỉ muốn vứt sách cho xong. Ngày nay đối với Trình Minh Thế cũng vậy. Chép tới cái chết đau thương của họ Trình, tôi thấy rã rời chân tay, không còn muốn viết tiếp nữa.

Tuy nhiên, dù Trình Minh Thế mất rồi, nhưng "dư âm" vẫn còn bàng bạc qua một số sự việc liên quan tới lịch sử buổi đương thời, nên tôi lại phải cố gắng chép cho xong mấy giòng cuối cùng.

Quay lại vấn đề nội bộ Liên Minh. Sau khi Tướng Thế mất, đoàn thể Liên Minh trải qua một cơn khủng hoảng tinh thần trầm trọng. Dù muốn dù không, anh em cũng phải chọn người đưa lên thay thế vai trò lãnh đạo quân sự.

Một cuộc họp cao cấp được triệu tập tại số 55 Trương Minh Giảng. Chọn ai bây giờ? Theo nguyên tắc, Đại Tá Văn Thành Cao, nguyên là Phó Tổng Tư Lệnh Quân Đội Liên Minh, đương nhiên phải được bầu lên. Nhưng xét theo tâm lý từng người, thì Trung Tá Tham Mưu Trưởng Trương Lương Thiện, Thiếu Tá Nguyễn Văn Đờn, cùng các cựu Tiểu Đoàn Trưởng như Trung Tá Nguyễn Trung Thừa, Trung Tá Nguyễn Tấn Mạnh, Trung Tá Hà Văn Tình, đều tỏ dạ bất phục đối với Văn Thành Cao. Họ đang âm mưu một cuộc "đảo chính nội bộ" nhằm đánh đổ Văn Thành Cao và tín nhiệm Trương Lương Thiện. Việc này lại được Tướng Nguyễn Thành Phương ở ngoài tiếp tay nữa, mới thật tai hại. Tướng Phương không ưa Văn Thành Cao, muốn ủng hộ Trương Lương Thiện lên cầm quyền, để dễ bề sát nhập Liên Minh vào với Cao Đài thành một mối, dưới sự thống lĩnh của Phương. Tôi thấy tình hình khá nguy hiểm. Nếu vạn nhất kế hoạch khuynh đảo kia thành công, thì chắc chắn kỷ cương lâu nay sẽ chẳng còn gì, và Liên Minh sẽ tan rã mất. Văn Thành Cao ý thức sự thất bại trước mắt, nên nhờ tôi can thiệp.

Trước mặt tất cả mọi người, tôi nghiêm nghị nói:

- Buổi sinh tiền, Cố Trung Tướng Thế có nói với tôi một câu mà hôm nay tôi thấy có bổn phận thuật lại rõ ràng cho anh em biết. Ngài bảo rằng "Nếu rủi sau này tôi có làm sao, thì chỉ có ông Cao là người có đủ khả năng thay thế tôi mà thôi." Ngài nói ra câu ấy giữa lúc quân Pháp đang uy hiếp Núi Bà. Nay theo nguyên tắc kỷ cương trong gia đình Liên Minh chúng ta, hễ anh cả mất thì em thứ lên. Chúng ta không những phải tuân theo lời di huấn của Cố Trung Tướng, mà chúng ta còn có sứ mạng giữ gìn làm sao cho anh em binh sĩ không thấy có sự tranh chấp, chia rẽ, nứt rạn trong nội bộ. Vậy với tư cách huynh đệ, hồi còn ở trong khu cũng như bây giờ, tôi vẫn một lòng thành khẩn và vô tư mong xây dựng cho uy tín chung của chúng ta, tôi yêu cầu tất cả quý Ngài có mặt tại đây hãy đồng lòng tấn phong cho Ngài Đại Tá Văn Thành Cao lên địa vị Tổng Chỉ Huy Lực Lượng Liên Minh (danh xưng mới). Quý vị nào không đồng ý, xin dơ tay cho biết.

Nói xong, tôi đưa mắt thấy ai nấy im lặng cúi đầu. Tôi mừng thầm rằng lời nói của tôi đã có hiệu lực. Đến lượt các ông Trần Minh Triết, Hồ Đức Trung, cùng lên tiếng phụ họa theo. Không một người nào dám dơ tay phản đối cả. Thế là Đại Tá Văn Thành Cao nghiễm nhiên chiếm địa vị của Cố Trung Tướng Thế ngày xưa. Ông Cao yêu cầu thư ký buổi họp ghi chép đủ lời phát biểu của mọi người và kết quả cuộc bầu cử vào biên bản.

Thủ Tướng Diệm nghe tin Văn Thành Cao được đoàn thể tấn phong, thì mặc dù chưa biết mặt mũi Cao là ai, ông cũng tức khắc thăng Cao lên cấp Thiếu Tướng Quân Đội Quốc Gia, rồi tổ chức một buổi lễ trước thềm Dinh Độc Lập, để giới thiệu ''Tân Thiếu Tướng" Văn Thành Cao với các cấp. Mỉa mai thay, Thủ Tướng Diệm quyết định phong chức Thiếu Tướng cho Văn Thành Cao, mà lại không biết ông này vẫn theo thủ tục nội bộ xưa nay, yên chí ngồi đợi Thủ Tướng tự tay ban cấp hiệu và mũ nón cho mình, nên khi vào trình diện vẫn cứ mang cấp hiệu Đại Tá cũ của Liên Minh. Tới khi vỡ nhẽ, Thủ Tướng giật mình, vội giật ngay mấy ngôi sao trên vai áo của Tướng Nguyễn Ngọc Lễ đem gắn lên vai Cao, rồi lại "mượn tạm" chiếc mũ to tướng của Trần Văn Đôn (vì Cao hãy còn đội mũ chào mào Liên Minh) chụp vội lên đầu Cao, khiến ông này tối tăm mày mặt, không còn trông thấy gì nữa cả.

Văn Thành Cao được phong Tướng ít lâu, thì nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến Việt Nam (ngày 20 tháng 8 Dương lịch), Trung Tá Trương Lương Thiện cũng được chính quyền thăng cấp Đại Tá trong một buổi lễ trọng thể tổ chức tại chân Núi Bà Đen, do chính ông Phụ Tá Quốc Phòng Trần Trung Dung đích thân lên tận nơi, ban cấp hiệu. Trước sau, trong đoàn thể

Liên Minh, chỉ có Văn Thành Cao, Trương Lương Thiện, và Hồ Đức Trung là chính thức mang cấp hiệu của chính phủ. Còn tất cả các sĩ quan, binh sĩ khác đều không được hưởng ân huệ gì. Trong những năm cuối cùng của chính quyền Diệm, Bộ Quốc Phòng và Bộ Tham Mưu mặc tình thao túng, ghét bỏ anh em Liên Minh ra mặt. Trái với lời cam kết của Thủ Tướng Diệm khi mời Liên Minh về hợp tác, là binh sĩ Liên Minh được quyền giữ nguyên các cấp bực của họ, bây giờ trái lại, họ bị phủ nhận và bị giáng cấp một cách phũ phàng, nhục nhã. Đã thế, 2 Trung Đoàn 60 và 61 (Trung Đoàn 61 mới thành lập sau) của Liên Minh cũng đều bị giải tán âm thầm. Sĩ quan bị thuyên chuyển đi nơi khác, còn binh sĩ các đơn vị thì bị chia cắt ra, "nhét" vào giữa các đơn vị không cùng một gốc tích với họ. Quá chán nản, tất cả số anh em ấy đều cởi bỏ áo mão, rút lui về sống cuộc đời dân sự. Trạng huống trên đây chứng tỏ ngay như Thủ Tướng Diệm cũng có lúc chóng quên lời hứa danh dự của mình. Hoặc giả lúc bấy giờ, ông đa đoan chuyện chính quyền mà vô tình để cho kẻ thuộc hạ ngược đãi những người bạn đồng minh thành tín. Không ngờ cái chết của Trình Minh Thế lại chóng đưa đến cái nông nỗi "dậu đổ bìm leo".

Về phần Văn Thành Cao, sau khi được phong Tướng, thì liền rời bỏ Hành Dinh cũ ở đường Trương Minh Giảng, dọn về số 105 đường Công Lý là công thự của chính phủ.

Căn nhà này vốn thuộc quyền sở hữu của Bộ Thông Tin, nhưng lại đem cấp cho Huỳnh Hữu Nghĩa, khi Nghĩa được bổ nhiệm chức Bộ Trưởng Lao Động. Tướng Cao bèn thương lượng với Nghĩa, bắt buộc Nghĩa phải nhường ngôi nhà ấy cho mình, còn phần Nghĩa thì nhận công thự khác trên mạn Dakao.

Nhắc lại, Huỳnh Hữu Nghĩa cũng như Lê Văn Đồng đều đã có công lớn với chính quyền trong cuộc vận động mời Tướng Thế về thành. Nên trong Nội Các cải tổ tới tháng 5 năm 1955, cả Huỳnh Hữu Nghĩa lẫn Lê Văn Đồng đều được trọng dụng, đều có chân trong Nội Các.

Ngày Tướng Thế còn sống, Thủ Tướng Diệm đã "khoán trắng" một phần Nội Các cho Liên Minh, để mặc Liên Minh tự ý kén chọn người đưa vào. Nhưng khi Tướng Thế mất rồi, thì người chính thức của Liên Minh không một ai tham chính cả. Trớ trêu thay, cá nhân Văn Thành Cao lại âm thầm thỏa hiệp riêng với Huỳnh Hữu Nghĩa, mặc nhiên coi Nghĩa là "người của Liên Minh" tham chính, trong khi ai nấy đều biết cá nhân Nghĩa chẳng có công lao, chẳng có liên hệ gì với Liên Minh cả, ngoài việc may mắn quen biết Tướng Thế thuở xưa nên mới được ông Nhu nhờ đứng làm trung gian buổi đầu. Việc này khiến nhiều anh em Liên Minh đã từng vào sinh ra tử với nhau hết sức bất bình, nhất là Trung Tá Nguyễn Trung Thừa, Trung Tá Cảm Văn Tỵ, Trung Tá Trần Minh Triết đều phàn nàn với tôi là tại sao lại để xảy ra một chuyện vô lý làm buồn lòng anh em chiến sĩ Liên Minh như thế. Tôi bèn chất vấn thẳng Thiếu Tướng Cao. Và một hôm, trong bữa cơm trưa có mặt Nghĩa, tôi nổi giận kịch liệt chỉ trích Nghĩa trước mặt Tướng Cao và Hồ Đức Trung. Tôi đã toan rút súng bắn Nghĩa ngay tại chỗ, nếu Cao không kịp ngăn cản.

Tôi bắt đầu để mắt tới cung cách của Tướng Cao kể từ ngày đó. Ông ta dần dần sống cách biệt, không hề một lần bàn tính tới việc trả thù cho Tướng Thế. Bao nhiêu vinh dự, bao nhiêu ân huệ của chính phủ đáng lẽ dành cho Trình Minh Thế, thì nay Cao đều hưởng cả một mìnhChẳng những Cao được cấp cho nhà ở, lại được cấp cả xe đi, là những điều mà xưa kia Trình Minh Thế chưa hề biết tới. Sự thể ấy càng khiến anh em Liên Minh thêm nhớ tưởng người lãnh tụ họ Trình và thấy ngậm ngùi. Ngày 15 tháng 2 năm 1956, Cao được chính phủ chỉ định làm Tư Lệnh Chiến Dịch Bình Định Miền Đông, với Đại Tá Nguyễn Hữu Có làm phó. Cao chính thức mời tôi làm Cố Vấn cho ông trong Chiến dịch ấy. Nhưng sau khi lên Tây Ninh quan sát tình hình, tôi từ chối lời mời, và quyết định bỏ nước ra đi. Bởi tôi thấy mình không thể nào tham gia vào một Chiến dịch nói là "Bình Định Miền Đông", nhưng thực sự là nhằm giết chết cuộc đời của Tướng Nguyễn Thành Phương. Chẳng gì Phương với Liên Minh cũng là chỗ anh em thân thiết, Phương đã từng giúp đỡ Liên Minh khi còn ở Núi Bà. Nay "gà nhà bôi mặt đá nhau", sao cho đành dạ. Sau đó, Cao được bổ nhậm vào Bộ Tổng Tham Mưu, đứng đầu một cơ quan mệnh danh là "Phòng Nghiên Cứu Du Kích Chiến". Ngày mồng 6 Tết năm Tân Sửu, ngay sau vụ "Đảo Chính 11/ 11 /60", Cao lại được bổ nhiệm chức Đại Biểu Chính Phủ Miền Đông, một chức vụ mà những ai biết rõ khả năng trình độ của Cao đều lấy làm lo ngại giùm cho ông.

Thành thực mà nói, tôi rất buồn cho tư cách của Văn Thành Cao sau khi ông về thành. Hồi còn ở trong khu, tôi thấy Cao có phong độ quả cảm, có tài chiến đấu. Vì vậy mà tôi đã hai lần nâng đở ông, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đặt lên vai ông cấp hiệu Đại Tá rồi Thiếu Tướng. Nếu tôi xu phụ theo nhóm anh em Trương Lương Thiện, không tấn phong cho Cao lên thay thế địa vị của Tướng Thế, thì Thủ Tướng Diệm nào có biết Cao là ai? Tôi không ngờ ông càng hủ hóa trước cái bả vinh hoa phú quý. Thậm chí ông đã mù quáng chôn vùi cả sự nghiệp Cách Mạng Liên Minh, bằng lòng làm tay chân cho tên đại gian Nguyễn Văn Thiệu trong cái tổ chức gọi là Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia. Ông sống quá ích kỷ, không còn nghỉ gì tới bao nhiêu anh em cũ, những người đã từng đem xương máu ra gây dựng cho địa vị cá nhân ông bây giờ. Ngay cả với tôi, Cao cũng ra mặt tránh né, sợ bị liên lụy trong bước đường công danh. Các chiến sĩ Liên Minh có mặt trong hai Trung Đoàn 60 và 61 dần dần bỏ hàng ngũ, rút về sống âm thầm, vì quá buồn lòng trước sự bạc đãi của chính phủ mà Cao không hề bênh vực. Thậm chí, hơn một lần tôi đi Taxi, lúc trả tiền xe, tôi gọi bao nhiêu lần người tài xế cũng không chịu ngảnh mặt lại lấy tiền. Thì ra người ấy là một chiến sĩ Liên Minh, một bộ hạ trực tiếp của tôi, tên Nguyễn Văn Phước. Phước nhận ra tôi ngay phút đầu mà tôi thì vô tình không biết. Anh đầm đìa nước mắt, cùng tôi ngồi lại trên xe, kể lể chuyện xưa, than thở về nỗi bị Văn Thành Cao bỏ rơi, nên chán nản rút về làm nghề lái xe đưa khách độ nhật.

Cũng vì bất mãn Văn Thành Cao, thêm nỗi căm hận trước cái chết của Trình Minh Thế, mà nhóm Trương Lương Thiện, Nguyễn Văn Đờn, Lê Phước An, Nguyễn Văn Phương, rút số quân còn lại trong Núi Bà Đen, ra lập chiến khu mới chống lại chính phủ vào hồi đầu tháng 9 năm 1955. Tôi rất thông cảm cho thái độ của nhóm anh em này, nhưng tôi không tán thành cái nỗ lực "tái diễn" một Phong Trào Trình Minh Thế thứ hai trong cái hoàn cảnh gần như tuyệt vọng. Bao nhiêu lần Đờn sai liên lạc về mời tôi đi theo, bảo rằng "trong rừng núi này, bao nhiêu anh em đang đợi chờ anh, họ vẫn nhớ thương anh." Thậm chí Đờn nhờ cả Phu nhân Cố Trung Tướng Thế tổ chức một bữa cơm tại nhà bà trên Tây Ninh, định sẽ thừa cơ hội "bắt cóc" tôi mang đi, Bà Cố Trung Tướng biết rõ âm mưu ấy, nên đã thú thật cho tôi biết. Tôi có nhắn bảo Đờn rằng: "Đời nay họa hoằn chỉ có một Trình Minh Thế chứ không thể có hai. Anh em có thể rút kinh nghiệm cũ để tổ chức chiến khu, nhưng anh em không có cái uy tín, cái tài năng lãnh đạo phi thường, cái óc chiến lược xuất chúng như Trinh Minh Thế, để duy trì hàng ngũ và nuôi sống phong trào. Tôi e cho anh em sẽ không đứng vững được bao lâu".

Quả nhiên, sau vài lần tiếp xúc với viên đại diện chính phủ là Nguyễn Ngọc Thơ, các anh em Trương Lương Thiện, Nguyễn Văn Đờn thấy tình thế không xong, bèn giải tán quân binh rồi chạy qua Cao Miên tị nạn chính trị. Riêng Nguyễn Văn Phương thì bí mật trở lại Saigon, sau được Văn Thành Cao nâng đỡ đưa vào Quốc Hội.

Khi Dương Văn Minh lên cầm quyền, Trương Lương Thiện, Nguyễn Văn Đờn cùng về nước hoạt động chung với một số đoàn thể. Đờn chạy ngay tới tìm tôi, hùng hổ đặt vấn đề "phải xử tội" Văn Thành Cao, vì ông này, theo như lời Đờn nói, đã tự tiện phát mãi 11 mẫu đất vốn là tài sản chung của Liên Minh tọa lạc tại Ngã Tư Bảy Hiền.

Nguyên từ lúc Tướng Thế hãy còn sống, Liên Minh có dành dụm mua được mảnh đất kia do một địa chủ có cảm tình với Liên Minh bán lại với giá rẻ. Tướng Cao âm thầm dàn xếp bán đi mà không cho ai biết cả, số tiền thu được bao nhiêu cũng vẫn là một sự bí mật. Đờn lấy làm phẫn uất nên đe dọa xử tội Văn Thành Cao. Tôi bèn nghiêm nét mặt bảo Đờn:

- Chú không biết gì cả, chú đừng có hấp tấp làm to chuyện mà hại lấy thân. Chú không thấy sao? ông Cao ngày nay có quyền hành trong tay, có thế lực chính phủ còn phần chú thì hoàn toàn trắng tay. Dẫu chú có đem vấn đề ra bàn cãi trước mặt một số anh em, thì cũng chẳng đến đâu, không chừng lại còn rước lấy họa. Tôi khuyên chú hãy dẹp đi cái ý định ngông cuồng ấy. Hãy cứ nghe tôi, coi như của ấy là của phù vân, ai làm nên tội người ấy sẽ phải trả. Đờn cứng cổ cãi lại:

- Nhưng anh nghĩ xem, tài sản này do xương máu anh em Liên Minh góp lại, không ai có quyền được hưởng một mình. Thà đem biếu không cho thiên hạ, chứ ông Cao làm như thế sao được?

Tôi biết Đờn nông nổi mà không sao khuyên giải được. Câu chuyện đã trở thành đề tài sôi nổi trên cửa miệng những người Liên Minh còn sống sót. Chẳng bao lâu, tôi kêu "Trời" một tiếng khi nghe tin Đờn bị ám sát ngay trước cửa nhà mình trên Tòa Thánh Tây Ninh. Đờn bị giết khi sắp sửa lên xe, thủ phạm tỏ ra là một tay cảm tử thiện xạ, bắn vỡ ngay óc Đờn rồi trốn mất. Chẳng hề nghe nói tìm ra tông tích. Cả gia đình Đờn lên án Văn Thành Cao. Con gái Đờn xuống tận Saigon, khóc lóc nguyền rủa thậm tệ, yêu cầu "Các chú, các bác hãy thương cho Ba cháu mà làm sáng tỏ vụ này!" Tôi biết nói sao bây giờ? Tôi không dám thẳng thắn kết tội Văn Thành Cao, nhưng tôi buộc lòng phải nghi rằng Cao đã gây ra vụ "nồi da xáo thịt", vì lúc bấy giờ, người đi sát cánh với Cao là Hồ Đức Trung, bấy giờ đã lên tới cấp Đại Tá và đương làm Tỉnh Trưởng Tây Ninh, có nhiệm vụ bảo vệ an ninh nơi Thánh Địa. Tại sao vụ ám sát Đờn lại không được điều tra? Đờn bị cộng sản giết chăng? Điều ấy không thể tin được, vì Tòa Thánh được tiếng là rất có an ninh trật tự. Đờn chết một cách oan uổng, có lẽ chết bởi ngay những người xưa kia cùng nằm gai nếm mật trong núi rừng Tây Ninh. Lúc Văn Thành Cao được Thủ Tướng Diệm phong chức Thiếu Tướng là lúc "ngôi sao" Nguyễn Thành Phương bắt đầu lu mờ. Phương khinh và ghét Cao ra mặt, bởi lẽ khi Phương lên tới cấp Tướng Cao Đài, thì Cao hãy còn là Đại Uý, không tên tuổi gì. Phương đã định "truất phế'' Cao mà không được. Phương bèn trắng trợn tới Tổng Hành Dinh Liên Minh đặt vấn đề "đón tôi về với Cao Đài". Hôm ấy, Văn Thành Cao, Hồ Đức Trung và tôi, nghe nói Phương muốn lại thăm, thì vội vàng tổ chức một bữa rượu đãi nhau. Ngà ngà say, Phương nói:

Nay chú Thế đã mất rồi, mà bên Liên Minh thì không có việc gì nhiều. Vậy tôi xin chú Cao hãy cho tôi đón chú N.L. Về bên tôi để cùng nhau hoạt động. Chú nghĩ sao? Tướng Cao giật mình, suy nghĩ một hồi lâu mới đáp:

- Thưa Ngài Trung Tướng, từ ngày Cố Trung Tướng Thế sống, anh N.L. đây là Cố Vấn của đoàn thể Liên Minh. Bây giờ anh em chúng tôi vẫn tuân theo lệ cũ, không dám có sự gì thay đổi. Anh em chúng tôi thật không dám nghe theo lời Trung Tướng được! Tướng Phương lại nói tiếp:

- Thì bên này với bên tôi cùng là một, chớ có xa lạ gì đâu!

Văn Thành Cao với Hồ Đức Trung vẫn khăng khăng từ chối. Tôi thấy mặt Phương lộ vẻ căm tức, và tôi đâm lo ngại cho cá nhân mình, bỗng không biến thành mục tiêu cho một cuộc tranh chấp có hứa hẹn đưa tới súng đạn. Vì là một cuộc tranh chấp ảnh hưởng giữa hai đoàn thể võ trang, giữa hai Tướng lĩnh vốn đã không có cảm tình với nhau. Tôi thấy sự đòi hỏi của Phương thật vô lý và ngạo mạn, mặc dù sự đòi hỏi ấy chứng tỏ lòng Phương mến yêu tôi.

Phương vẫn còn nuôi cái ý tưởng xem Liên Minh là "của Cao Đài", một ý tưởng sai lầm tai hại. Thực ra, hai bên đã hoàn toàn cách biệt nhau kể từ giờ phút Tướng Thế rút quân ra khu hồi năm xưa. Mỗi bên có một tổ chức riêng, một nếp sống riêng, điều này ai cũng thấy rõ. Phương đã một thời niềm nở đón tiếp Hồ Hán Sơn, giao cho Sơn bao nhiêu trách vụ nặng nề. Rồi Phương lại hất hủi Sơn, rút Sơn ra khỏi Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng, xử tội Sơn vì một lỗi lầm nhỏ nhặt, để cho Sơn phải chết oan uổng bởi tay một tên bộ hạ ỷ thế thần. Bây giờ Phương lại định đón tôi về với ông, liệu rồi tôi có thoát khỏi cái cảnh thăng trầm kia chăng? Không đón được tôi, rất cố thể Phương sẽ quay ra trừ khử tôi để cô lập Văn Thành Cao. Mặt khác, Văn Thành Cao cũng có thể tưởng lầm rằng tôi muốn bỏ Liên Minh để về với Cao Đài, nên mới kín đáo xúi Phương bầy ra trò "vay mượn người" như vừa kể. Do đó, Cao lại cũng sẽ tìm cách thanh toán tôi để trừ hậu họa theo như Cao tuởng tượng. Rút cục, đằng nào tôi cũng sẽ bị lâm nguy cả.

Chính vì sự tranh chấp gay go kia, chính vì tôi đã trông thấy số phận Hồ Hán Sơn, chính vì Văn Thành Cao mời tôi làm Cố Vấn cho ''Chiến dịch Bình Định Miền Đông nhằm triệt hạ Nguyễn Thành Phương'', nên tôi đã phải quyết định bỏ nước ra đi ngay tức khắc nhằm tránh một cái chết thê thảm. Ngoài ra, cũng còn một vài lý do khác khiến tôi xét thấy dẫu có chần chờ ở lại cũng không thể nào thể hiện cái tinh thần hợp tác với chính quyền Diệm đúng như đôi bên đã thề bồi cam kết tại Lò Gò ngày 31 tháng 1 năm 1955 được nữa. Là vì ngày nay Trình Minh Thế đã tử nạn, Văn Thành Cao được giao phó sinh mệnh của Liên Minh nhưng không làm được như Thế, để cho tinh thần Liên Minh mỗi ngày một sa sút. Riêng đối với tôi, thì thái độ bất thân thiện của một vài phần tử trong chính quyền cũng đã làm cho tôi chán nản. Nhất là khi mà tôi không hề có tham vọng chiếm đoạt quyền hành địa vị của ai, mà những người như Trần Chánh Thành, Nguyễn Ngọc Lễ lại cứ lầm tưởng tôi là mối nguy cho họ, nên ra tay phá phách, toan làm hại cả tính mạng tôi nữa, như việc bao vây trụ sở Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng, như vụ đón đường bắt tôi chẳng hạn. Tôi tự hỏi mình, liệu rằng các ý kiến của tôi có được chính quyền nghe theo nữa chăng, hay là thói đời vẫn "phủ bênh phủ, huyện bênh huyện?" Vậy nên lánh mặt là hơn. Chứ tựu trung mối giao hảo giữa tôi với toàn thể gia đình nhà Ngô vẫn hoàn toàn tốt đẹp. Thậm chí ông Cố vấn Ngô Đình Nhu, mãi lâu không thấy tôi vào thăm, đã gọi điện thoại bảo tôi: "Cửa Dinh Độc Lập lúc nào củng mở sẵn đón anh, sao anh lại không đến?" Trong một dịp khác, ông tiếp tôi tại căn phòng làm việc khiêm tốn và nhỏ hẹp nép dưới cầu thang Dinh Độc Lập, và ông thẳng thắn nhìn tôi, nói: "Anh cần gì thì xin cho biết, để chính phủ lo cho anh!" Ôi thôi, một câu nói thốt ra từ cửa miệng một nhân vật đang có quyền thế, hứa hẹn biết bao nhiêu điều tốt đẹp tươi sáng cho cuộc đời. Nhưng tôi đã mỉm cười đáp lại "Thưa ông Cố Vấn, tôi chẳng cần gì hết. Đời sống hàng ngày đã có đoàn thể lo cho ngày hai bữa. Tôi thật không dám làm phiền chính phủ."

Tôi biết ông Nhu muốn gián tiếp đền đáp tình tri ngộ và Thủ Tướng Diệm cũng cùng một ý ấy. Cả ông Ngô Đình Cẩn cũng thế. Ông Cẩn mến tôi cho đến nỗi hôm tôi ra thăm ông, lúc trở về ông còn tin cậy trao cả một xấp thư riêng, nhờ tôi chuyển lại cho người trong gia đình tại đường Nguyễn Tráng. Thời kỳ tôi ở nước ngoài, ông sai liên lạc tới điều đình mời tôi bí mật về nước bằng con đường Ai Lao, để làm Cố vấn cho ông. Nhưng tôi đã lể phép từ chối vì thấy trước vai trò nguy hiểm kia sẽ chỉ đưa đến thiệt thân mà thôi.

Một hôm tôi vào Dinh Độc Lập thăm ông Nhu, bất ngờ Thủ tướng Diệm đang ngồi làm việc chợt trông thấy tôi, liền niềm nở mời tôi ngồi lại nói chuyện. Hôm ấy, Thủ tướng Diệm say sưa kể cho tôi nghe những thành quả tốt đẹp của chính phủ. Thấy đôi má ông hơi nám đen chứ không đỏ đẹp như mọi ngày, tôi liền hỏi: "Thưa Cụ, dường như Cụ đang có điều gì lo nghĩ, nên trông sắc diện không được bình thường?" Thủ Tướng không ngần ngại đáp ngay: "Vâng, quả thật tôi đang tính kế hoạch bình định Miền Tây!" Tôi hơi giật mình trước sự tính toán mà tôi cho là liều lỉnh của vị Nguyên Thủ. Vì hồi ấy, Miền Tây là thành trì kiên cố của Phật Giáo Hòa Hảo, không dễ gì thọc tay vào đó được. Ngay cả phiá người Mỹ, theo tôi biết, cũng không dám đề nghị một kế hoạch nào cả. Vậy mà nay Thủ Tướng Diệm lại đang nuôi ý định chinh phục, khiến tôi coi là một điều đáng ngại. Thủ Tướng say mê chuyện trò cho đến nỗi quên cả chương trình tiếp khách ngoại quốc đang ngồi đợi. Đổng Lý Văn Phòng Quách Tòng Đức hai lần vào trao mảnh giấy nhỏ, lễ phép nhắc nhở. Nhưng Thủ Tướng Diệm chỉ khẽ liếc qua, rồi lại vò nát bỏ trong cái gạt tàn thuốc lá, xong lại cứ tiếp tục nói chuyện về tình hình Miền Tây. Tôi e cá nhân mình sẽ gây một trở ngại ngoại giao cho chính phủ, nên vội vàng xin phép rút lui. Bấy giờ Thủ Tướng Diệm mới chợt nhớ ra là tôi tới thăm ông Nhu, bèn tươi cười bảo: "Vâng, tôi chắc chú ấy đang có mặt trong phòng làm việc!"

Thủ Tướng Diệm là con người quá đức độ khiêm tốn, cái đức độ khiêm tốn đã chinh phục lòng tôi. Là một vị Nguyên Thủ với quyền hành bao trùm thiên hạ, lại xét về mặt tuổi tác, thì Thủ tướng đáng bực thúc phụ của tôi. Vậy mà trước sau con người đạo đức ấy vẫn một hai gọi tôi bằng "Ngài", đối đãi một cách trọng hậu, làm cho tôi thấy bứt rứt trong lòng, nhưng chẳng dám đường đột xin ông bỏ cho cái tiếng "Ngài" kia đi. Đã thế, lúc ngồi đàm đạo với nhau, bao giờ Thủ Tướng cũng giữ thế ngồi nghiêm cẩn, không hề gác chân nọ lên chân kia, mà hai cánh tay thì đặt trên đùi hai bàn tay chắp lại nhau với mười ngón tay đều đặn ở trước mặt mình. Khi mời tôi dùng thuốc lá, Thủ Tướng có cử chỉ rất lạ, là dùng hai tay nâng cả khay thuốc lên, để mặc tôi chọn lựa thứ thuốc thích hợp, chứ không hề trịch thượng cất một tiếng "mời" suông, rồi mặc khách muốn hút hay không tùy ý. Về phần ông, khi hút thuốc thì dùng quẹt diêm, và dùng những loại thuốc sản xuất trong nước như "Grand Prix" hoặc "Cotab". Đặc biệt là khi ông gặp sự gì kích thích hoặc giận dữ trong lòng, thì mỗi điếu thuốc chỉ hút chừng vài ba hơi rồi dụi ngay vào cái gạt tàn, xong lại đốt ngay điếu khác, rồi lại cũng dụi bỏ nửa chừng như thế. Hơn một lần, tôi vào Dinh Độc Lập không báo trước, vào lúc giữa trưa. Lính cận vệ trong Dinh cho hay Thủ Tướng đang dùng cơm trưa với một số nhân viên Nội Các. Tôi lại được dẫn ngay tới đó. Tức thì Thủ Tướng Diệm niềm nở sai đem thêm bát đũa và mời tôi cùng ngồi vào bàn một cách hết sức thân tình.

Nói về cách thức ăn uống của Thủ Tướng Diệm, tôi thấy quả thật là đạm bạc. Chẳng hạn như bữa cơm nguội lạnh đãi khách lúc 3 giờ khuya đêm 30/ 4/ 55 sau khi Tướng Vỹ đầu hàng, tôi bắt gặp hai món canh bầu và chả trứng, chứ cũng chả có gì là cao lương mỹ vị. Tôi thật không ngờ. Tôi lại được biết là Thủ Tướng Diệm bình sinh thích dùng điểm tâm bằng cháo đậu xanh với đường cát. Thế mà đầu bếp đã "đãi" ông cái món bình dân ấy suốt 3 tháng trời không thay đổi.

Năm 1970, bấy giờ cựu Bộ Trưởng Trần Chánh Thành đã là một thành viên của "Ủy Ban Phối Hợp Hành Động Các Chính Đảng". Sau khi tôi với Thành đã uống chén rượu "cảm thông" nhau, Thành và ông Vũ Quốc Thông thân hành hướng dẫn tôi vào Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi viếng thăm hai ngôi mộ của Cố Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu. Đứng nhìn hai tấm bê tông lạnh lẽo, tà tà trên mặt đất, che đậy tàn cốt của hai nhân vật lãnh đạo thuở xưa, rồi lại nhìn tới ngôi tháp mộ đồ sộ, cao chót vót của Tướng Lê Văn Tỵ đối diện ngay nơi ấy, tôi cảm thấy mỉa mai khôn xiết kể, và tôi không biết nói sao cho hết nỗi chua xót trong lòng. Cả bọn chúng tôi đều ứa nước mắt. Ai là thầy? Ai là tớ? Ai trên? Ai dưới? Ai công hầu? Ai khanh tướng đây? Tại sao lịch sử lại cố ý tạo ra một cảnh tượng diễu cợt quá đáng dường này?

Từ ngày Tướng Thế mất đi, Nguyễn Thành Phương chống chính quyền ra mặt, Phương đã mất chức Quốc Vụ Khanh, lại còn bị Đức Hộ Pháp đe dọa truất quyền Tổng Tư Lệnh Cao Đài, nên Phương cuống cuồng làm nhiều chuyện đáng tiếc. Phương luôn luôn tổ chức tiệc tùng, mời cả quan khách chính quyền tới dự. Rồi với ly rượu mạnh trên tay, Phương công khai kích bác chính phủ, nói với giọng tự tin rằng ông ta sẽ quật ngược tình thế. Tôi lấy tư cách anh em khuyên nhủ Phương hãy nên thận trọng, nhưng Phương vẫn tính nào tật ấy, không chừa. Thậm chí có một hôm ông Cố Vấn Nhu phải công khai tỏ nỗi bất bình, mà bảo riêng với tôi rằng: "Anh Phương làm nhiều điều quái gở không thể chấp nhận được. Hàng tháng, anh ấy nhận tiền chính phủ trợ cấp cho Quân Đội Cao Đài, không dùng tiền nuôi lính, mà lại đem tổ chức tiệc tùng, huyênh hoang tuyên bố chống lại chính phủ. Cụ hết sức bất bình. Vậy nhờ anh có dịp thì nói lại cho anh Phương biết để anh ấy xử sự sao cho hợp lẽ!"

Khi tôi thuật lại lời ông Nhu, thì Tướng Phương lại cãi chày cãi cối rằng: "Tôi đâu có chống chính phủ, tôi nói xây dựng đó chớ!".

Tôi biết Phương tự xe giây buộc mình, nên tôi sẵn sàng chờ đợi sự rủi ro đến với ông. Một bên thì chính phủ nghi ngò, một bên thì Đức Hộ Pháp lăm le truất bỏ, Phương nhắm mắt bước thêm một bước xuống hố sâu. Ngày 31 tháng 3 năm 1955, bỗng nhiên Phương đem toàn bộ Quân Đội Cao Đài giao cho chính phủ, trước sự kinh ngạc của Thủ Tướng Diệm. Tướng Phương mời tôi tới tư dinh ổng, bảo thật cho tôi biết rằng sở dĩ ông quyết định "Quốc gia hóa" Quân Đội Cao Đài là nhằm đặt Đức Hộ Pháp trước sự đã rồi, để Đức Ngài không còn lực lượng võ trang riêng nữa mà tính chuyện truất phế ông và đưa người khác lên thay. Tôi quá sợ hãi hỏi ông: "Như vậy có phải là Ngài định thoát hẳn ra ngoài quyền hạn của Đức Hộ Pháp chăng?" Ông không trả lời, nhưng thái độ của ông cho thấy ông định đi vào con đường ấy. Một buổi lễ "Quốc gia hóa" được tổ chức vội vàng tại Dinh Độc Lập, bài diễn văn do cựu Bộ Trưởng Phạm Xuân Thái thảo ra, Thái lắc đầu than thở với tôi, mà chẳng dám hé môi trước mặt Tướng Phương. Tôi có cảm tưởng như đang tham dự một "đám cưới chạy tang". Tôi thật không hiểu nổi Trung Tướng Nguyễn Thành Phương, người mà tôi cứ tưởng là rất sáng suốt mưu lược.

Thủ Tướng Diệm ngạc nhiên là vì lâu nay chính phủ cũng muốn khống chế Quân Đội Cao Đài, nhưng chưa dám ra tay vì còn nể mặt Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc. Không ngờ Trung Tướng Nguyễn Thành Phương bỗng nhiên đem món quà quý trao tay, không cần phải thương lượng điều đình gì hết, khiến Thủ Tướng Diệm mừng thầm là phải.

Thủ Tướng bèn trả ơn bằng cách chính thức phong chức Trung Tướng cho ông Nguyễn Thành Phương, nghĩa là từ nay Trung Tướng Phương là người thụ phong chính phủ chứ không còn thuộc quyền Đức Hộ Pháp nữa.

Tuy nhiên, dù đã tự đặt mình dưới quyền Thủ Tướng Diệm, dù đã "Quốc gia hóa" lực lượng Cao Đài, Tướng Phương vẫn tiếp tục chống báng chính phủ bằng cách này hay cách khác, chống một cách tiêu cực và vô tổ chức. Đó mới là sự lạ. Lạ ở chỗ ông Phương không còn một đồng minh nào cả sau khi Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia tan rã âm thầm, và Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng cũng tự coi như đã hết nhiệm vụ sau khi Thủ Tướng Diệm tổ chức cuộc Trưng Cầu Dân Ý ngày 26 tháng 10, để trở thành vị Tổng Thống đầu tiên của nền Đệ Nhất Cộng Hòa. Tức nước vỡ bờ. Thủ Tướng Diệm bèn hạ lệnh mở Chiến Dịch Bình Định Miền Đông, và cắc cớ giao cho Tướng Văn Thành Cao cầm đầu chiến dịch. Dư luận hết sức ngạc nhiên, còn Tướng Phương thì như chết đứng giữa trời. Dù Văn Thành Cao có tình đồng đạo với ông chăng nữa, bây giờ Văn Thành Cao đã đứng địa vị chính quyền, thì "ăn cây nào, rào cây ấy", Cao không thể vì tình anh em cố cựu mà nương tay được. Huống chi, Cao vừa được lệnh, là lập tức lập Bộ Chỉ Huy Chiến Dịch ngay tại một khách sạn ở Tòa Thánh Tây Ninh, khách sạn này do ái nữ Đức Hộ Pháp làm chủ, không khác nào thọc ngay một mũi dao vào yết hầu của Tướng Phương vậy. Tôi cho rằng chính quyền đã hạ một ngón độc thủ vô tiền khoáng hậu, dùng người Cao Đài trị người Cao Đài. Tướng Phương khốn khổ đã đành, mà Tướng Cao cũng chẳng còn danh nghĩa gì nữa cả.

Trong cơn bối rối, Tướng Phương chẳng biết làm gì hơn, lại quay ngược về tấn công Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, một việc làm mà cả Thủ Tướng Diệm lẫn Cố Vấn Nhu đều thú nhận là không bao giờ họ dám nghĩ tới. Ông Nhu nói thật với tôi: "Cụ bảo là Cụ bàng hoàng trước hành động của anh Phương đối với Đức Hộ Pháp. Cá nhân Cụ bình nhật không dám có một lời thất thố đối với Ngài, chứ đừng nói là công khai nguyền rủa chống báng. Vậy mà anh Phương dám làm, thì còn ai hiểu nổi?"

Quả thật Tướng Phương đã làm một chuyện tày trời, chấn động lòng người Cao Đài ở khắp nơi. Ông mở cả một chiến dịch hạ bệ Đức Hộ Pháp, ông giao cho người bộ hạ là N.N.V. làm tất cả những gì có thể làm được để bôi nhọ uy danh Đức Hộ Pháp. N.N.V. tha hồ làm mưa làm gió, tuyên truyền nói xấu, thêu dệt ra hàng trăm hàng ngàn chuyện ngoài sức tưởng tượng về cuộc đời riêng của Đức Hộ Pháp, khiến đồng bào đạo hữu hết sức phẫn uất đau lòng, nhưng nào có dám phản ứng vì còn sợ "hung thần" N.N.V. Cuối cùng, Đức Hộ Pháp đành phải bỏ Thánh Địa, bỏ nước ra đi vào dịp Tết năm ấy, sang Nam Vang trú ngụ tại Thánh Thất Cao Đài ở gần cầu Saigon.

Nếu Tướng Phương muốn tìm "chiến thắng" đối với "Người Cha" lãnh đạo tinh thần, thì đó là chiến thắng hoàn toàn, nhưng là một chiến thắng làm tiêu tan cả cuộc đời quân sự lẫn chính trị của ông! Thủ Tướng Diệm khinh ông ra mặt, khinh một người phản đạo phản thầy tới cái mức "lưu xú vạn niên". Thủ Tướng Diệm là người đạo đức, triệt để tôn trọng luân thường, nên không thể tha thứ một người như Phương. Ông bèn quyết định cắt nguồn tài trợ hàng tháng cho Tướng Phương, khiến tình hình nội bộ Cao Đài khủng hoảng một cách trầm trọng. Thậm chí, cũng dịp Tết năm ấy, Đại Tá Nguyễn Thành Danh (anh ruột Tướng Phương, và là Tổng Thư Ký Việt Nam Phục Quốc Hội) đã phải hớt hải chạy tới tìm tôi, nhờ tôi mượn hộ cho 15 ngàn bạc để "anh em cán bộ ăn Tết!" Thảm thương biết chừng nào! Tiếp đó Tướng Phương bị đuổi ra khỏi tòa nhà chính phủ số 195 đường Công Lý, và bắt đầu nhận chịu một cuộc ''bao vây kinh tế'' rất là chặt chẽ, cho đến nỗi không còn phương tiện tối thiểu sinh sống hàng ngày.

Một người bộ hạ của tôi, anh N.T.D. (sau túng cùng, đi làm nghề đạp xích lô độ nhật), thấy hoàn cảnh ngặt nghèo của Tướng Phương thì lấy làm đau xót, bèn cố gắng ngày ngày dành dụm chút ít tiền kiếm được, mua rau mua mắm ngoài chợ Saigon, rồi lợi dụng lúc tối trời, lẻn vào nhà riêng của Tướng Phương tại đường Yên Đổ, trao cho ông mấy món thực phẩm rẻ tiền. Tướng Phương đã phải trả giá quá mắc về cách cư xử vụng về của ông đối với chính quyền buổi đương thời. Hòa chẳng ra hòa, chống không ra chống, chỉ tổ gieo trong đầu óc ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu bao nhiêu ý nghĩ bực dọc, biến dần thành một chính sách nghiệt ngã.

Thuở ấy, chính phủ Phi Luật Tân, theo lời đề nghị của Tướng Edward Lansdale và được sự tiếp tay đắc lực của Tùy viên Quân Sự Phi là Đại Tá Benzon, có mở một chiến dịch gọi là "Brotherhood" nhằm giúp đồng bào di cư về mặt y tế. Một đoàn bác sĩ Phi được gửi sang Việt Nam, trong số có 5 người trẻ tuổi và gồm một nữ bác sĩ được Saigon phái lên Tây Ninh hoạt động. Chẳng may một hôm, mấy vị bác sĩ kia dùng thuyền máy đi chơi trên sông Vàm Cỏ Đông, thuyền bị lật úp, có 3 người tử nạn. Tướng Phương phải chịu trách nhiệm. Và riêng tôi, vì tình liên đới, cũng phải ghé vai chia sẻ một số công việc, phải lo tẩn liệm các thi hài, lo tống tiễn các cỗ quan tài lên sân bay để đưa về xứ. Tưởng thế là xong, không ngờ Tướng Phưong lại bày vẽ thiết lập đài Kỷ Niệm trên bờ sông Vàm Cỏ, ngang Bến Kéo. Hôm khánh thành đài Kỷ Niệm ấy, ông Cố vấn Ngô Đình Nhu cũng có tới dự. Nhưng khi xong cuộc, ông Nhu nói riêng với tôi bằng giọng bất mãn:

- Anh Phương đã qua mặt chính phủ, làm một việc ngoài quyền hạn của anh ấy. Mấy người bác sĩ kia tuy hoạt động tại Tây Ninh, nhưng họ giúp đỡ chính quyền chứ không giúp đỡ riêng cho Cao Đài. Vậy lý do gì anh Phương tự tiện xây đài Kỷ Niệm? Cụ hết sức bất bình.

Nghe ông Nhu nói, tôi thốt giật mình, và tôi cũng phải nhìn nhận là ông nói có lý. Tướng Phương vô tình tiếp tục gây đụng chạm, cho tới khi ông đứng chung liên danh ứng cử Tổng Thống với Nguyễn Đình Quát, công khai chống lại Tổng Thống Diệm, thì kể như tình nghĩa giữa ông với chính quyền hoàn toàn chấm dứt. Cái họa ông phải gánh lấy.

Tôi rất quý mến Tướng Phương. Dù sao ông cũng là ân nhân của Liên Minh trong những ngày lận đận nơi Núi Bà Đen. Ông thật sáng giá khi có quyền trong tay. Chỉ tiếc là ông thiếu hẳn một bộ óc chiến lược của con nhà quân sự, nên đã phạm khá nhiều lỗi lầm trong vai trò lãnh đạo Quân Đội Cao Đài và Việt Nam Phục Quốc Hội. Tôi đau buồn hộ ông, nhưng tôi không làm sao giúp ông gìn giữ sự nghiệp cá nhân kể từ lúc ông bất thần "Quốc gia hóa" Quân Đội Cao Đài một cách thiếu tính toán. Kiểm điểm lại thành tích, người ta thấy ông đã vô tình hoặc cố ý để cho một chiến sĩ tài ba như Hồ Hán Sơn phải mai một, ông đã làm tiêu tan Quân Đội Cao Đài, đã hủy diệt Việt Nam Phục Quốc Hội, và đã đưa Đức Hộ Pháp tới bước đường cùng, phải lưu vong và thất lộc nơi hải ngoại.

Nói về Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, theo tôi thấy, nếu không có Nguyễn Thành Phương làm chuyện phản nghịch, thì suốt đời Ngài vẫn có thể an thân nơi Thánh Địa Tây Ninh, vì Tổng Thống Diệm rất kính nể Ngài, dù Ngài có chống báng chính quyền cũng không sao cả. Tiếc rằng vì Phương, Ngài phải làm một chính khách lưu vong nơi xứ Chùa Tháp. Thoạt tiên, Quốc Trưởng Norodom Sihanouk rất có lòng biệt đãi Ngài, tôn kính Ngài như một bực Thần Thánh, thậm chí lúc nào Sihanouk cũng gọi Ngài là "Sa Sainteté Le Pape" (Đức Thánh Cha). Có lẽ Ngài đã suy diễn sai sự tôn kính ấy, nên đã hoạt động hơi quá mức khiến Sihanouk dần dần đổi thái độ và quay lại đối xử với Ngài không được tốt đẹp như trước.

Số là khi mới tới Phnom Penh, Ngài công bố lập trường trung lập về vấn đề Việt Nam. Ngài gửi thư tới khắp các Phái Bộ Ngoại Giao tại Cao Miên, kể cả các nước cộng sản như Nga Sô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Trung Cộng...v..v, cho biết là Ngài muốn đóng vai trò ''Tối cao hòa giải" giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam. Ngài được sự tiếp tay đắc lực của Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa, ông này luôn luôn dẫn giắt một số đạo hữu địa phương tham dự các cuộc biểu tình tuần hành của dân chúng Cao Miên ủng hộ chính quyền Sihanouk. Ông tỏ ra "trung lập" hơn cả Đức Hộ Pháp. Như vậy mà sao Sihanouk lại chẳng bằng lòng? Âý chỉ vì ít lâu sau, Đức Hộ Pháp ban lệnh xây cất một Thánh Thất Cao Đài thật đồ sộ tại Nam Vang, với lối kiến trúc quy mô tốn kém gần như là "anh em" với Tòa Thánh Tây Ninh. Ngân phí nghe nói hơn 5 triệu bạc Miên lúc bấy giờ. Đức Hộ Pháp lại sai đón thợ giỏi từ Tây Ninh lên trông coi việc kiến trúc. Xứ Cao Miên là một xứ coi Phật Giáo Tiểu Thừa là quốc đạo. Sihanouk có lẽ đã lo ngại trước sự bành trướng của Cao Đài ở ngay trong nước, lo ngại trước ảnh hưởng cá nhân của Đức Hộ Pháp, nên đã bất thần ra lệnh cấm chỉ việc xây cất Thánh Thất kể trên, tọa lạc tại một khu đất rộng ở gần "Bệnh Viện Nga", một bệnh viện tối tân nhất do Nga Sô viện trợ cho chính quyền Sihanouk. Thế là cả một công trình kiến trúc to tát đã gần xong lại đành bỏ dở. Được biết là Đức Hộ Pháp rất đau buồn về chuyện ấy. Ngài lâm bệnh rồi mất vào năm 1959. Ngài được tẩn liệm theo nghi thức Tôn Giáo Cao Đài, ở cái thế ngồi trên ngai, rồi được an táng ngay bên cạnh Thánh Thất bị bỏ dở kia. Tôi có đến viếng thánh thể Ngài khi Ngài vừa lâm chung, và dự tang lễ được tổ chức rất trọng thể.

Trở lại vấn đề của Liên Minh, tôi muốn nhấn mạnh là cá nhân Trình Minh thế đã ảnh hưởng khá mạnh vào cuộc cờ quốc gia trong "thập niên 50". Nếu không có Trình Minh Thế góp mặt để xoay chuyển thời cuộc buổi đương thời, chắc hẳn nền Đệ Nhất Cộng Hòa đã không thể khai sinh được. Và nếu Trình Minh Thế còn sống sót, thì với trí óc ấy, tài năng ấy, Thế sẽ không để cho nhóm Dương Văn Minh sát hại cả gia đình nhà Ngô mà đưa đến sự suy sụp toàn bộ Miền Nam. Thế cũng sẽ không cho phép Nguyễn Thành Phương tạo phản theo ý Phương muốn, và đương nhiên là uy danh tôn giáo Cao Đài vẫn còn nguyên vẹn, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc không việc gì phải bỏ nước ra đi để ôm hận về chốn suối vàng.

Nếu Thế còn sống sót, sẽ không bao giờ có một Văn Thành Cao làm nhơ bợn uy tín Liên Minh. Anh em chiến sĩ Liên Minh sẽ vẫn quanh quẩn chung quanh người "Anh Cả" anh hùng của họ, và sẽ là một lực lượng đấu tranh đáng kể, khả dĩ xoay ngược thời cuộc trước âm mưu xâm chiếm Miền Nam của tập đoàn cộng sản Hà Nội. Thế sẽ không bao giờ đành dạ bỏ rơi anh em để thụ hưởng một mình theo cung cách Văn Thành Cao. Nếu quả thật chính quyền Ngô Đình Diệm nỡ lòng bạc đãi anh em, vi phạm lời thề danh dự ngày 31/01/ 55 tại Lò Gò giữa Thế và Diệm, thì Thế sẽ chẳng ngần ngại gì kéo đám anh em kết nghĩa máu xương, lại rút về rừng núi cùng sống chết với nhau trong danh dự.

Trên đây tôi vừa nói là nếu Trình Minh Thế còn sống sót với lực lượng Liên Minh của ông, thì ông rất có thể xoay ngược thời cuộc trước âm mưu xâm chiếm Miền Nam của tập đoàn cộng sản Hà Nội. Tôi nói điều này ra với sự tin tưởng chắc chắn, vì trước hết, Thế đã ở trong Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, mà thấy cộng sản lăm le diễn trò "Giải phóng" của chúng, tất nhiên ông không chịu ngồi yên, mà ông sẽ đề nghị "du kích hóa" toàn thể Quân Đội nhằm chống lại du kích, theo cái chính sách ông vẫn thường nói rằng: "Dẫm phải gai, phải lấy gai mà lể''. Lại nữa, nếu cộng sản Hà Nội đã công khai xâm chiếm Miền Nam, thì phần ông, sớm muộn ông cũng sẽ phóng ngay ra chiến dịch "Mày đốt nhà tao, tao sợ gì chẳng đốt nhà mày?" bằng cách xử dụng một số quân du kích thiện chiến, vượt qua Bến Hải, chiếm ngay hai tỉnh địa đầu của Bắc Việt làm cái thế quân bình. Cộng sản Hà Nội vừa bị "trả đũa" ngay tận gốc, lại vừa mất con đường liên lạc tiếp tế qua Vĩ Tuyến 17, tất nhiên phải gấp rút quay về thế thủ, lo đối phó với cái họa bên trong trước đã.

Phải biết rằng khi hai tính địa đầu Bắc Việt bị đặt dưới gót chân du kích Miền Nam, thì toàn bộ cơ cấu Bắc Việt sẽ bị rúng động, dân chúng đất Bắc không thể nào không hưởng ứng. Đó là mối lo sọ to tát nhất của tập đoàn Hồ Chí Minh. Chủ trương của Thế không khác nào chủ trương của Tướng Mac Arthur trong cuộc chiến tranh Cao Ly, khi ông này cứng cỏi toan vượt quyền Tổng Thống Mỹ xua quân sang sông áp lực, đánh thẳng vào địa giới Trung Cộng là cái kho tiếp liệu người và vũ khí cho bọn cộng sản Bắc Hàn lúc bấy giờ. Tiếc thay Tướng Mac Arthur đã bị một ông Tổng Thống ươn hèn cách chức, cũng như Trình Minh Thế đã không may tử nạn, mà bỏ mất thời cơ.

Tôi lại nhấn mạnh rằng, chỉ một mình Trình Minh Thế mới dám ra tay như trên mà thôi, chứ các Tướng lĩnh Việt Nam thuộc lò đào tạo của Pháp không thể nào làm được. Vì Thế không cần danh vọng, không quý trọng địa vị cá nhân, thấy nguy cơ nước nhà thì sẵn sàng hy sinh để cứu vãn lại. Người Mỹ không đồng ý ư? Thế sẽ bất chấp. Chính quyền cản trở chăng? Thế cũng sẽ thừa sức thực hiện chủ trương tấn công đất Bắc mà chính quyền vẫn không biết trước được, thừa sức tích trữ đạn dược vũ khí, thừa một lực lượng dũng mãnh can trường theo ông ra đất Bắc, tung hoành quấy phá khiến bọn cộng sản Bắc Việt phải quên ăn mất ngủ, thì còn lòng dạ nào âm mưu xâm chiếm Miền Nam nữa?

Tại sao lại chỉ chiếm giữ hai tỉnh địa đầu của Bắc Việt thôi?

Đó là chủ trương của Liên Minh, một chủ trương đã được nghiên cứu kỹ càng từ thuỏ còn ở trong Núi Bà Đen, và về sau có đem trình bày sơ lược với Thủ Tướng Diệm và Cố Vấn Nhu. Liên Minh không đặt vấn đề "chiếm đóng", mà chỉ "chiếm phá" trong trường hợp bất đắc dĩ bị cộng sản mở màn "Giải Phóng" trước tiên. Trong lĩnh thổ Miền Nam, ta dùng du kích đối chọi với du kích. Trên lĩnh thổ Miền Bắc, ta lại dùng du kích tung phá sự an ninh của địch, thì cho dù các chiến lược gia Mỹ buổi đầu có bất đồng ý kiến đi nữa, thì sau cũng sẽ phải hoan nghênh hưởng ứng công cuộc chiến đấu hữu hiệu của ta.

Chép tới đây, tôi lại thấy vô cùng xót xa đau đớn trong lòng. Ân hận thay, một chiến lược nhiệm mầu như thế đó, mà bao nhiêu tướng tá Miền Nam, quan to súng dài, mũ cao áo rộng, chẳng có cá nhân nào nhìn được cái nhìn của Thế, mượn được trí óc thông minh và cái tài dũng lược của Thế để thực hiện giùm giấc mộng cho người đã nằm xuống. Ngược lại, chỉ những Nguyễn Khánh chuyên lo khuynh đảo chính trường. Chỉ những Trần Thiện Khiêm bất tài vô tướng chăm lo "ngồi nhà mát ăn bát vàng". Chỉ những Dương Văn Minh khờ dại làm tay sai cho địch, ham mê cái bả công danh thối tha ở những phút cuối cùng, để rước lấy cái nhục đầu hàng giặc.

Tóm lại, cả cuộc đời Thế, Thế chỉ biết hy sinh, chỉ biết phục vụ giống nòi, chỉ muốn trông thấy một nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, một nước Việt Nam không cộng sản. Dù Thế bị yểu vong, nửa chừng bỏ dở sự nghiệp, nhưng tên tuổi Thế tôi chắc vẫn còn sống mãi với đời. Thế quả là một đấng anh hùng đáng được thờ phụng nơi Nghĩa Miếu, nơi Đền Trung Liệt, để vạn cổ hưởng khói hương của đàn hậu tiến.

Sau khi Thế mất, chính quyền có hỏi thăm ý kiến anh em Liên Minh nên chọn con đường nào để đặt tên Thế tại Thủ đô Saigon. Chúng tôi có đề nghị trước hết là con đường Trương Minh Giảng, nơi Thế đã đặt Tổng Hành Dinh và trú ngụ đúng 80 ngày. Hoặc con đường Khánh Hội đưa xuống cầu Tân Thuận, nơi Thế đã tử vong. Riêng cá nhân tôi có bàn bạc với anh em Liên Minh là nên thiết lập một ngôi Miếu thờ Trình Minh Thế ngay tại chân cầu Tân Thuận. Nhưng Văn Thành Cao chỉ ơ hò, rồi bỏ quên luôn. Tại Nha Trang, Tướng Đỗ Mậu - thuở ấy hãy còn là Trung Tá - có mời tôi tới thăm Văn phòng, và chỉ cho tôi xem bức chân dung Trình Minh Thế trên mặt bàn viết, rồi nói bằng một giọng ai oán: "Anh xem, tôi mến mộ và tiếc thương Tướng Trình Minh Thế cho đến nỗi tôi chỉ đặt hình ảnh của ông tại đây, mà không có hình Cụ Ngô". Hành động kia của Tướng Đỗ Mậu một phần nào - cũng đã nói lên nỗi lòng bùi ngùi của toàn dân Việt. Và tôi nghĩ, đó cũng là điều an ủi linh hồn Thế, an ủi riêng anh em Liên Minh là những người đã chịu một sự mất mát thật to lớn...

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG XX
THAY CHO LỜI KẾT

Nhân một chuyến viếng thăm Đà Nẵng trong thời kỳ Nguyễn Văn Thiệu đang lừa gạt dư luận để cướp ngôi Tổng Thống, khi tới chiếc cầu mang tên Trình Minh Thế, tôi bỗng yêu cầu người lái xe dừng lại. Tôi bước xuống xe, buồn bã đặt bước qua cầu, mà lòng xót đau khôn xiết kể. Mới ngày nào Thế và tôi còn chia xẻ với nhau miếng cơm nguội, khúc lươn kho lạnh nhạt. Mới ngày nào còn bàn bạc với nhau câu chuyện đội đá vá trời, tiếng cười ngạo nghễ của ai kia còn nghe văng vẳng bên tai. Mà giờ đây, người thì chết để tên lại trên cầu, kẻ còn sống sót đang lang thang đặt bước qua cầu, có khác nào dẫm chân lên xác bạn cũ. Ôi! Cuộc đời sao lại tang thương đến nhẽ ấy. Sự tử sinh sinh tử nào có nghĩa lý gì đâu? Chết như Thế chưa hẳn đã là rủi. Sống như tôi chưa hẳn đã là may.

"Cố Đồng chí Trình Minh Thế ơi! Tôi đang khóc người đây. Người đã chứng tỏ với thế gian "Mỹ nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạch đầu". Thà thác như người để ngàn thu một giấc ngủ yên, còn hơn sống sót như tôi để phải chứng kiến những trò dâu bể nát tan từng khúc ruột". Nước mắt tôi nhỏ giọt xuống cầu, trôi theo giòng nước...

° ° °

Thay cho lời kết thiên "Lịch sử Ký sự" này, tôi lại xin chép ra đây lần nữa, mấy vần thơ đã đăng nơi trang đầu cuốn sách, mấy vần thơ cảm tác khi đứng trước ngôi mộ đìu hiu của người đồng chí mệnh bạc họ Trình, nhân một lần viếng mộ cuối cùng hồi mùa đông năm 1963, năm đánh dấu sự suy sụp của nền Đệ Nhất Cộng Hòa. Thực ra, tôi chẳng muốn làm một thi nhân, mà chính là lòng tôi, tự nó, đã bật lên tiếng khóc cho cố nhân, cho chính mình, cho cả dân tộc, cho cái công nghiệp của những ai từng hò hét trước mặt quân thù, mà ngày nay chẳng còn trông thấy bóng hình đâu nữa cả.

Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu!
Anh hùng một tiếng để ngàn thu.
Núi Bà, hẹn đuổi quân xâm lược,
Tân Thuận, nào hay cuộc bể dâu?
"Kháng Chiến" này ư? Dăm phiến đá!
"Liên Minh" bao thủa? Mấy hàng lau!
Mưa rừng, gió núi, sinh như tử,
Há thẹn đời trai đất Bến Cầu?
NHỊ LANG

20the

HẾT.

 

Bản copy ngày 18-02-2026 từ link:

https://vietmessenger.com/books/?title=phong%20trao%20khang%20chien%20trinh%20minh%20the

2026-02-18 (Mùng hai Tết Bính Ngọ).