PHÂN BIỆT GIÁO SƯ THÁI GẤM THANH
& CHÍ THIỆN BÙI VĂN GẤM.
Tưởng nhớ hương hồn hiền tỷ Nguyên
Thủy.
Nữ soạn giả Nguyên Thủy (Nguyễn Lệ
Thủy) viết rất nhiều sách về Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, đó là điều hết sức quý giá
và rất đáng trân trọng.
Trong quá trình biên soạn có đôi
lúc sơ xuất cũng là điều thường tình, không vì lẽ đó mà giảm lòng kính trọng với
người đi trước. Hậu học đọc sách ĐỀ ÁN NẠN PHÁP, chương III: Thời Pháp Nạn của
Đức Hộ Pháp do hiền tỷ biên soạn, (1).
Xét thấy có chỗ chưa chính xác về
Ngài Giáo Sư Thái Gấm Thanh (thế danh Thái Văn Gấm) nên góp phần làm cho chính
xác. Hiền tỷ viết:
*Đức Hộ-Pháp có lời phê về cái
chết của ông Giáo sư Thái Gấm-Thanh:
Trong lời phê năm Tân Sửu, Đức Ngài viết: "Qua
đã biết trước thế nào trong mấy em cũng có đứa ngồi ngục. Gấm bị trước vì
Phối Thánh Thoại muốn cho nó trả quả đối với Thánh lúc ở phàm. Đáng kiếp, Gấm
đã đụng đầu xe lửa, cũng như mẹ con Út Giáp đụng đầu xe lửa Màng (là Phối Thánh
Màng) buổi trước vậy. Mấy em ráng cẩn thận coi chừng đừng ăn hiếp mấy ông Thánh
ẩn thân bất ngờ, phải ngồi cửa Phong Đô mà khóc đa nghe! (2)
Nhận xét:
1/- Hiền tỷ viết lời phê năm Tân Sửu
(1961), nhưng Đức Hộ Pháp triều thiên năm 1959 (Kỷ Hợi), do vậy không thể là năm
Tân Sửu.
2/- Ngài Gấm trong lời phê của Đức
Hộ Pháp là Chí Thiện Bùi Văn Gấm, không phải Giáo Sư Thái Gấm Thanh (thế danh
Thái Văn Gấm) Quản lý Công Viện, đã bị Pháp bắt năm 1941 và bị đày sang
Madagascar với Đức Hộ Pháp.
3/- Hiền tỷ đã trích đúng Lời phê của
Đức Hộ Pháp, nhưng không đầy đủ và có thể do chính khoản thiếu nầy mà Hiền tỷ
không phát hiện lời phê của Đức Hộ Pháp liên quan đến Ngài Chí Thiện Bùi Văn Gấm,
không liên quan đến Ngài Thái Gấm Thanh.
Dưới đây là 02 lời phê của Đức Hộ
Pháp (cả hai đều không ghi lại ngày tháng).
LỜI PHÊ
ĐỨC HỘ PHÁP:
Gấm có tật hay độc tài. Từ trước Bần
Đạo quảng đại để rộng quyền cho mỗi đứa tự do, tự chủ lấy mình. Dầu cho chưởng
quản gia nghiệp chung họ cũng đủ quyền làm chủ riêng của họ mấy em đều biết. Còn
nay thì Hội Thánh Phước Thiện đã thành lập, Đạo Cao Đài thành Quốc Đạo thì
khuôn luật buộc ràng không còn như trước nữa đặng.
Cả Chức Sắc Cửu Trùng Đài hay Phước
Thiện cũng là một vị quan lại của Chánh Trị Đạo, hể phạm tội thì án luật định
hình không ai tránh khỏi đặng.
Như thế mới trừ đặng cái hại: Mượn
danh đạo tạo danh mình, nương bóng đạo đức lợi cho mình. Qua đã biết trước thế
nào trong mấy em cũng có đứa ngồi ngục. Gấm bị trước vì Phối Thánh Thoại muốn
cho nó trả quả đối với Phối Thánh còn ở phàm. Đáng kiếp Gấm đã đụng đầu xe lửa
cũng như mẹ con Út Giáp đụng đầu xe lửa Màng buổi trước vậy. Mấy em ráng cẩn thận
coi chừng đừng ăn hiếp mấy ông Thánh ẩn thân bất ngờ mà phải ngồi cửa Phong đô
mà khóc đa nghe.
HỘ PHÁP
(Ấn Ký)
Chí Thiện Gấm xin tội.
LỜI PHÊ
ĐỨC HỘ PHÁP:
Tư cho Hội Thánh Phước Thiện dâng sớ
cầu xin nơi Phối Thánh Thoại hể thấy Gấm bớt khùng khiệu tham tàn gian xão là
Phối Thánh đã tha.
Còn như còn tánh nết cũ là phương
thế đưa Gấm đi vào cửa a tỳ.
Thấy và hiểu rằng Phối Thánh không
tha đều rất dễ hiểu.
HỘ PHÁP
(Ấn Ký)
Phụ lục 1: Ngài Phối Thánh Bùi Ái Thoại.
Ngài Bùi Ái Thoại sinh năm 1913 tại
làng Hậu Thành, quận Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho. Gia đình theo Đạo Nho, Phụ Mẫu sanh
nhiều anh chị trước Ngài nhưng không nuôi được, do vậy chỉ còn lại một mình Ngài
trong gia đình. Chẳng bao lâu thì song thân cũng lần lược tạ thế.
Ngài có năng khiếu về mỹ thuật; lập
gia đình và có một người con, nhưng chẳng may một thời gian ngắn thì cả vợ và
con đều qua đời.
Ngài Thoại nhập môn năm 1935, và
vào lập công quả nơi sở Lương Điền Công Nghệ tại Cái Bè. Sau đó Ngài về lập công
nơi Tòa Thánh và đắc phong Tá lý Sở Đấp Vẽ. Ngài tạo tác nhiều tượng và phù điêu
ở Tòa Thánh cũng như Báo Ân Từ.
Năm 1941 Đức Hộ Pháp bị bắt, công
quả bị đuổi ra khỏi Tòa Thánh.
Sau khi Nhật đảo chánh Pháp (09-3-1945)
thì Nhật giao trả Tòa Thánh Tây Ninh lại cho Đạo Cao Đài. Ngài trở về Tòa Thánh
tiếp tục công quả và liễu đạo ngày 29-01-Bính Tuất (02-3-1946)
Như vậy Ngài Thoại liễu đạo trước
khi Đức Hộ Pháp trở về Tòa Thánh (30-8-1946).
Đức Hộ Pháp về tới Tòa Thánh ngày
30-8-1946. Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa, Ngài Ngọc Trọng Thanh và Thái Phấn
Thanh cùng về; nhưng Ngài Thái Gấm Thanh và Ngài Sĩ Tải Đỗ Quang Hiển đã tử đạo
ở Madagascar. (3)
Nên lời phê phải sau ngày 30-8-1946.
Trong lời phê có nói rõ Ngài Chí
Thiện Bùi Văn Gấm còn sống, (trong khi đó Ngài Thái Gấm Thanh đã mãn phần.
Phụ
lục 2: Đức Hộ Pháp bị đày đi Madagascar.
Ngày
04-6- Tân Tỵ (28-6-1941) lúc 8 giờ sáng Chủ Quận và mật thám vào Nội Ô Toà
Thánh bắt Đức Hộ Pháp.
Ngày17-6-Tân
Tỵ (11-7-1941), mật thám lại vào Tòa Thánh bắt thêm 3 vị Chức sắc nữa
là Phối Sư Ngọc Trọng Thanh Quyền Ngọc Chánh Phối Sư (Nguyễn Văn Trọng),
Giáo Sư Thái Gấm Thanh Quản Lý Công Viện (Thái Văn Gấm), Sĩ Tải Đỗ quang Hiển.
Pháp
cũng bắt thêm: Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa (Sài Gòn); Giáo Sư Thái Phấn Thanh
(Trần Văn Phấn) ở Thánh Thất Kiêm Biên.
Ngày
04- 6 nhuận- Tân Tỵ (27-7-1941) Đức Hộ Pháp, Ngài Khai Pháp, Phối Sư Ngọc
Trọng Thanh, Giáo Sư Thái Gấm Thanh, Giáo Sư Thái Phấn Thanh, Sĩ Tải Đỗ quang
Hiển cùng với một số Chức Sắc bị lưu đày sang đảo Madagascar ở Phi Châu.
Sau
đó, Chánh quyền Pháp ra lệnh đóng cửa Tòa Thánh cùng các cơ quan trong Nội Ô,
giải tán công quả ở Tòa Thánh Tây Ninh. Pháp đưa Quân đội chiếm đóng Tòa Thánh
và Nội-Ô Thánh Địa để làm trại đóng quân. Trại binh Pháp có tên là Compagnie de
Camp n.3 viết tắt là C.C.3.
Thời
cuộc biến thiên nên năm 1942 các chức sắc hợp tác với Nhựt lập ra Nội Ứng Nghĩa
Binh.
Ngày
09-3-1945 Nội Ứng Nghĩa Binh hợp tác với Nhật đảo chính Pháp.
Nhật
ra công văn giao trả Tòa Thánh Tây Ninh cho Đạo Cao Đài. (4)
Nhật
trao trả độc lập cho Hoàng Đế Bảo Đại để lập ra Đế Quốc Việt Nam (Bắc Kỳ và
Trung Kỳ). Riêng Nam Kỳ là xứ trực trị của Pháp nên Nhật giữ lại dưới chế độ
Quân quản.
Đến tháng 8‑1945, Nhật đầu hàng Đồng
Minh.
Việt Minh lần lượt cướp chính quyền
ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ; Bảo Đại giao ấn kiếm cho Việt Minh ngày 30-8-1945. Nam Kỳ
rơi vào tình trạng hỗn loạn đặc biệt: quân Nhật đầu hàng, nhưng vẫn còn vũ khí,
Việt Minh nổi dậy cướp chính quyền nhiều nơi.
Trong bối cảnh rối ren ấy, ngày 23‑9‑1945,
quân Pháp theo chân quân Anh trở lại và nổ súng tái chiếm Sài Gòn, mở đầu cho một
thời kỳ xung đột ba chiều:
Pháp muốn khôi phục thuộc địa.
Việt Minh phát động kháng chiến.
Và
các lực lượng Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên.
Nội
Ứng Nghĩa Binh hợp tác với Việt Minh để chống Pháp; nhưng Việt Minh lại muốn
sát hai cấp lãnh đạo Nội Ứng Nghĩa Binh để nắm quyền chỉ huy. Nên bắt Ngài Giáo
Sư đại biểu Trần Quang Vinh. Sau đó Ngài Vinh và các vị bị bắt phá khám trốn
thoát về Sài Gòn.
Pháp
lại bắt Ngài Trần Quang Vinh, vì đã hợp tác với Nhật đảo chính Pháp và nhiều vị
khác tra tấn rất tàn bạo. Sau đó Pháp tính kế lợi hại nên đưa ra đề nghị hợp
tác với Nội Ứng Nghĩa Binh. Hai bên ký Thỏa Hiêp ngày 09-6-1946.
Thỏa
hiệp ngày 09-6-1946
giữa Đại diện Cao Đài và Đại diện Pháp
Thỏa
hiệp chính thức vào ngày 9 tháng 6 năm 1946.
1/-
Đối với Pháp: Quân
đội Cao Đài ngưng chiến và giải giới tất cả các bộ đội kháng chiến, súng đem về
giao cho Bộ Tham Mưu Giám binh Pháp
2/-
Đối với Đạo Cao Đài.
a)
Quân đội Pháp ngưng các cuộc tấn công khủng bố, không bắt bớ Chức sắc và Đạo hữu.
b)
Trả lại tự do liền cho đoàn bổn bộ.
c)
Trả lại Tòa Thánh và các Thánh Thất được tự do thờ phượng cúng kiến trong phạm
vi tôn giáo.
d)
Đem Đức Hộ Pháp và Chư Thiên Phong trở về tổ quốc và trả lại quyền tự do công
dân.
e)-
Đạo được lập đội tự vệ tại Tòa Thánh không quá 30 người do Tỉnh cấp vũ khí.
Kèm
theo Thỏa hiệp này có bản phụ đính.
Việc
nội trị Nội ô Tòa Thánh, Pháp không can dự vào.
Trường
hợp Đạo Cao Đài bị tấn công bất cứ từ đâu đến, Bộ Tham Mưu Pháp hoàn lại vũ khí
hoặc là cấp số khí giới khác cho người Cao Đài chống đỡ.
Hai
bên cam kết giữ đúng theo thỏa hiệp.
Thay
mặt Đạo Cao Đài Thay mặt Giám binh Pháp tại Nam Kỳ
Trần
Quang Vinh
Général De la Tour
Đức
Hộ Pháp về Sài Gòn: 26-7- Bính Tuất (22-8-46).
Về Toà Thánh: 04-8-Bính Tuất
(30-8-46).
Lời tự sự:
Hiền tỷ Nguyên Thủy khi sinh tiền vốn
có cảm tình rất thâm hậu với gia đình Tôi. Gia đình Hiền tỷ đã cùng chúng tôi chia
sẻ nhũng vui buồn, ưu tư về đạo nghiệp. Hiền tỷ có ước nguyện dấn thân hành đạo
nhưng thời thế không thuận lợi nên chưa thỏa nguyện.
Trước năm 1997 Hiền tỷ cũng có 02 công
quả lưu đời:
Thứ nhất: đến Nam Thành Thánh Thất,
đường Nguyễn Cư Trinh nhiều tháng (cùng với con gái là hiền muội Phượng) hướng
dẫn nghi lễ theo Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ. Đó là thời gian mà ông Đồng Tân lui tới
Thánh Thất và ông đã không hiểu đúng nên ghi nhận sai lệch.
Thứ hai: Thánh Thất Chơn Thành khi đó
vách ván còn đầy vết đạn, hiền tỷ khăn gói đến công quả lo sửa lại Thuyền Bát
Nhã, tu bổ Thánh Thất, nấu ăn cho công thợ, hướng dẫn nghi lễ …
Nay Hiền tỷ đã sạch nợ trần, Tôi đọc
lại sách thấy có điều cần thưa lại để công quả của Hiền tỷ được vẹn toàn. Sự mất
cũng như sự còn, nó cũng giống như chúng tôi vẫn trò chuyện với nhau khi Hiền tỷ
còn tại thế.
Nay kính.
Ngày 14-04-2026 (27-02-Bính Ngọ)
Dương Xuân Lương.
Chú thích:
1/- https://daotam.info/booksv/DichLyCaoDai/NguyenThuy/thoiphapnan/thoiphapnan-II.htm
2/-
3/- https://khoinhonsanh2014.blogspot.com/2026/03/6383-hoi-thanh-va-toan-ao-nghinh-tiep.html#more
4/-
https://khoinhonsanh2014.blogspot.com/2025/10/6085-chau-tri-159-ngay-22-5-1945-chinh.html#more