BBT tìm thấy ảnh Hội Thánh và Toàn Đạo nghinh tiếp Đức Hộ Pháp về Tòa Thánh Tây Ninh 30-8-1946 (04-8-Bính Tuất) sau hơn 05 năm bị lưu đày ở Madagascar.
BBT kết hợp với quyển Lược Sử Quân Đội Cao Đài của Ngài Lê Thành Dân (viết tay năm 1962) tại trang 60, 61, 62 để cùng nhau hiểu thêm và lưu lại một trang sử rất cảm động. Theo đó an ninh năm 1946 rất nguy hiểm nên từ SaiGon về Tây Ninh phải có xe thiết giáp đưa về. Rất nhiều vị đấu tranh cho độc lập của dân tộc (không theo cộng sản) bị sát hại khi đi trên đường, nhà báo Diệp Văn Kỳ (viết Tiểu Sử Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt) bị giết ở Củ Chi là một ví dụ.
Trang 60.
...
* Rước
Đức Hộ Pháp về Tổ Đình “Tòa Thánh”
Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc và các Chức sắc bị
đày ra đảo Madagascar Phi Châu đã 5 năm hơn. Nay do theo thỏa ước nói trên, chỉ
còn điều này là xong tất cả.
Ngày
16 tháng 8 năm 1946, ông Trần Quang Vinh đến nhắc nhà cầm quyền Pháp. (Đó là
ông Cédille Ủy viên Cộng Hòa Nam Kỳ và ông Frémolle Đổng lý văn phòng) việc rước
Đức Hộ Pháp. Được hai vị này quan tâm nhiều. hai ông Cédille và Frémolle hứa để
các ông lo và cho hay. ban đầu có tin lệch lạc không chính xác. Nhưng cuối cùng
cho biết vào chiều ngày 21 tháng 8 năm 1946, Đức Hộ Pháp về trên chiếc tàu Ile
de France đã cập bến Cấp Saint - Jacques.
Ngày
22 tháng 8 năm 1946, ông Trần Quang Vinh ngồi phi cơ cùng ba đại diện Pháp là
ông Cédille và Frémolle cùng cò Bazin đặc cách C.T Mật thám đến Cấp Saint
Jacques đón rước
Chiếc
phi cơ cất cánh tại phi trường Tân Sơn Nhất hồi 9:20, đến nơi chiếc phi cơ lượn
trên chiếc tàu Ile de France ba vòng mới vào sân hạ cánh xuống phi trường, nơi
đây có viên Chủ tỉnh M. Ropion tiếp rước. Sau khi phái đoàn chào hỏi cùng nhau
rồi, cả thảy đều đi xe nhỏ xuống bến tàu và nhờ tàu nhỏ đưa ra chiếc tàu Ile de
France đậu ngoài xa, vì tàu nầy lớn quá không cập sát bờ được.
Khi
gặp Đức Hộ Pháp cả thảy đồng vui mừng bắt tay riêng ông Frémolle ôm Đức Hộ Pháp
tỏ tình quyến luyến, bởi ông này đã biết Đức Hộ Pháp trước ở ngoài đảo
Madagascar. Sau đó gặp vị Quan tư Pháp tên Désanges và phu nhân; người có phận
sự đưa Đức Hộ Pháp từ Madagascar về Sài Gòn, đôi bên bắt tay chào mừng và chuyện
vãn xong.
Ông
Chủ tỉnh M. Ropion rước phái đoàn và Đức Hộ Pháp về tỉnh dùng cơm và nghỉ ngơi.
Nhơn lúc nghỉ ngơi xong, Giáo sư Đại biểu mời Đức Hộ Pháp xem bảng báo cáo
trong Giai đoạn Phục quốc (1941 đến 1946) mà ông tóm tắt trình bày những biến cố
lúc Đức Ngài vắng mặt. Đức Ngài cũng có xem bản Hiệp ước ngày 09-6-1946 của Giáo
Sư Đại Biểu ký kết với nhà cầm quyền Pháp trong vòng một tiếng đồng hồ. Ngài
xem xong tất cả nhưng không
Trang
61.
có
nói lời nào với ông Đại biểu.
Lúc
4:00 chiều, ông Chánh chủ Tỉnh M. Ropion đưa Đức Hộ Pháp và Phái đoàn ra phi
trường về Sài Gòn hồi 4:30. Đáp xuống Tân Sơn Nhất là 5:00. Ông Frémolle có xe
riêng đưa Đức ngài về tại nhà Sĩ Tải Nguyễn Văn Hợi; Đức Hộ Pháp còn lưu lại
Sài Gòn một tuần lễ để lo thủ tục và viếng thân nhân bạn bè.
Ngày
30 tháng 8 năm 1946 (1), toàn thể bổn bộ ở Sài Gòn hiệp cùng chính quyền Pháp
đưa Đức Hộ Pháp về Tòa Thánh. Đoàn xe đưa rước gồm có 17 chiếc, xe của Đạo 05 chiếc,
xe của nhà cầm quyền 12 chiếc, gồm có thiết giáp hộ tống. Đoàn xe chạy gần tới
Tây Ninh có quan chủ Tỉnh đón tiếp về tỉnh thăm viếng chuyện vãng đôi điều. Rồi
quan chủ tỉnh Minage và cả quan khách cùng theo đoàn xe đưa Đức ngài vào Tòa
Thánh là đúng 12:00 trưa. Nơi đây có chức sắc Hiệp Thiên Đài Cửu Trùng Đài và Đạo
hữu nam-nữ sắp hàng nghinh tiếp rất long trọng.
Bước
xuống xe gặp toàn Đạo chực chờ Đức Hộ Pháp, Ngài cảm động quá không ngăn được
đôi dòng lệ chảy; còn toàn thể chức sắc và tín đồ cũng không cầm được dòng châu
sa. Một cảnh tưng bừng náo nhiệt mừng mừng tủi tủi hòa lẫn với tiếng chuông tiếp
rước vang rền ở Nội Ô Tòa Thánh.
Đức
Ngài vào làm lễ Đức Chí Tôn tại Báo Ân Từ qua Giáo Tông Đường làm lễ Người Anh Cả
xong xuống phòng khách dự chứng Lễ nghinh tiếp. Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước Đại
diện Hiệp Thiên Đài đọc diễn văn chào mừng (đầy vẻ ai bi mừng tủi, thống thiết
lúc chia ly hồi sum họp).
Giáo
sư Đại biểu Trần Quang Vinh Đại diện Cửu Trùng Đài đọc diễn văn đón rước, nguyên
văn như sau:
Kính
thưa Đức Hộ Pháp
Sau
5 năm, 2 tháng 3 ngày, bị đồ lưu nơi hải ngoại vì chủ nghĩa thương đời; ngày
nay một ngày đáng kể vào sử đạo, Ngài đã để chơn về Tổ đình.
Tiểu
chức, xin thay mặt cho Hội Thánh Cửu Trùng Đài và Toàn đạo nam-nữ để tỏ ít lời
chúc tụng mừng rỡ Ngài. Luôn dịp để dâng cho Ngài ý nguyện chung của toàn sinh
chúng; nhứt là trong buổi đời biến đổi, tình thế phân vân do cuộc tang thương
hiện tại.
Kính
Ngài.
Tiếng
nói của tâm hồn nó có thật chăng là khi trí não bị kích thích một cách quá ư mạnh
mẽ, do sự biến động của cơ hữu hình; hay là nói trái lại khi xác thịt phải chịu
đọa đày quá lẽ trong cảnh điêu linh sầu khổ!
Về
mặt đạo, sự khổ này lại là phần hơn; bởi thế nên trong khi vắng mặt Ngài.
(1):
Dương lịch ngày 30 tháng 8 năm 1946, âm lịch ngày 04-tháng 8 năm, Bính Tuất.
Trang
62.
trong
Đạo không một ai là không buồn thảm! Bất luận già trẻ, lớn nhỏ, nam-nữ khi gặp
nhau nhắc nhở đến Ngài và các bạn xa quê thì trên khuôn mặt âu sầu đôi dòng lệ chỉ
nhìn nhau, từ từ rơi xuống khóe miệng để thế cho lời nói, điểm tô thêm thảm trạng
ấy; cảnh điêu linh kẻ còn người mất!
Nhưng
đó là thảm trạng ngày đã qua. Chiếc thuyền từ của Đức Thích Ca há chẳng pha
tuông trên bể khổ, chứa đầy nước mắt mới độ đặng chúng sanh. Nhìn tạn mặt Ngài
nơi đây, Tiểu chức tưởng tượng dường như thấy đặng chiếc “Bình Bát Du” của Đức
Thích Ca trôi ngược dòng nước Ma Ha một cách huyền linh rực rỡ khi người lập
thành đạo Phật.
Vậy
Tiểu chức dâng lên Ngài bỏ hoa tươi nở này, nó là biểu hiện cho triệu quả tim của
con cái Đức Chí Tôn càng đang tươi nở của cõi lòng để hiến cho Ngài mối tình
thân ái yêu đương vô giá của Đức Chí Tôn đã đào tạo trong bao nhiêu năm khổ hạnh.
Kính
Ngài.
Cái
vui mừng của toàn đạo đối với ngày tràn trề, nương dựa nơi sự vui mừng ấy là một
tiếng kêu đau thương tha thiết của tâm linh; nó làm cho chúng tôi ái ngại xốn
xang. Đó là tiếng kêu đau thảm của mặt đời vì hoàn cảnh hiện đại, tiếng kêu đau
thảm ấy, có khi làm cho lay động lòng Ngài giữa trời Nam. Ước mong chiếc thuyền
từ của Ngài sẽ vẹt lối nguy nan làm cho nhân sanh bớt khổ thì Hội Thánh Cửu
Trùng Đài cả nam-nữ nguyện đồng tâm hiệp lực cùng Ngài theo Ngài từ bước một đặng
đạt mục đích cao thượng của Đạo là: “Cởi thân ra mảnh áo tơi, Che mưa đỡ nắng
cho đời nguy nan”. Thì dầu phải quên vết thương lòng chúng tôi nguyện không
hề thối bước.
Giáo Sư Trần Quang Vinh
Sau
ngày Lễ tiếp rước Đức Hộ Pháp về an ngự tại Hộ Pháp Đường anh Nguyễn Thành
Phương cho hai người theo hộ vệ cho Đức Ngài. Đó là Trần Thanh Dẫn và Nguyễn Ngọc
Vui, bất cứ Đức Ngài đi đến nơi nào cũng có mặt hai anh và thêm bốn vệ sĩ nữa
cùng đi theo.
…
(BBT sẽ cố gắng tìm bài diến văn của Ngài Bảo Thế để cùng nhau hiểu được trang sử rất cảm động)