Trang

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2026

6352. Luật Khoa Tạp Chí: Đánh tráo pháp lý nhân vật & Tôn giáo.

Luật Khoa Tạp Chí: Đánh tráo pháp lý nhân vật & Tôn giáo.


… Vậy các con khi nghe nói Cao Đài nơi nầy, Cao Đài nơi kia đừng vội tin mà lầm mưu Tà-Mị… (Phổ Cáo Chúng Sanh, trang 06).

Dương Xuân Lương.

Cái tên báo Luật Khoa Tạp Chí (LKTC) cùng tuyên bố “làm báo trung thực” dễ tạo ấn tượng rằng nội dung báo của họ nghiêm túc và có căn cứ pháp lý. Nhưng video: Ba nhân vật quyền lực của đạo Cao Đài trong chiến tranh Đông Dương do LKTC xuất bản đã cho thấy điều ngược lại: LKTC đã hành xử trái với chuẩn mực pháp lý, thậm chí là đã chơi bài tráo. (1)

Bản PDF.
https://drive.google.com/file/d/1CCOqcEG88VmOmlPO1odLP8DlmywczrBI/view

Bài viết làm rõ: Đức Cao Đài Thượng Đế chỉ lập ra có MỘT Đạo Cao Đài vào năm 1926. Bất cứ nơi nào khác xưng danh Cao Đài thì đó không phải là Đạo Cao Đài do Đức Thượng Đế lập. Nó cũng như có một Tề Thiên thật nhưng có nhiều Tề Thiên giả. Từ tiền đề pháp lý đó chứng minh rằng:

 LKTC đã đưa hai nhân vật không thuộc Đạo Cao Đài 1926 là ông Cao Triều Phát và ông Trần Văn Quế gán vào Đạo và trao cho họ quyền lực tôn giáo. Đây là hành vi đánh tráo nhân sự.

LKTC đã trộn lẫn Đạo Cao Đài do Thượng Đế lập năm 1926 với các tổ chức Cao Đài không do Thượng Đế lập vào một hệ pháp lý chung. Đây là hành vi đánh tráo pháp lý tôn giáo.

LKTC đã làm sai lệch bản chất và chính danh của QUỐC ĐẠO Cao Đài.

1/- Tính chất QUỐC ĐẠO: Chỉ có MỘT Đạo Cao Đài 1926.

Đức Chí Tôn lập Đạo Cao Đài theo triết lý QUỐC ĐẠO nên chỉ có MỘT Đạo Cao Đài do Thượng Đế lập năm 1926; và có bộ máy chính quyền duy nhất để thực thi pháp luật. Bài viết trình chánh tiền đề cơ bản; pháp luật và giáo lý căn bản để làm rõ QUỐC ĐẠO Cao Đài chỉ có một.

1.1/- Lời Minh Thệ.

Muốn trở thành Tín đồ Cao Đài phải Nhập môn cầu đạo, phải đọc Lời Minh Thệ: Tên gì? ... Họ gì? ... Thề rằng: Từ đây biết MỘT Đạo Cao-Đài Ngọc-Đế, chẳng đổi dạ đổi lòng, hiệp đồng Chư Môn-Đệ, gìn luật lệ Cao-Đài, như sau có lòng hai thì Thiên-tru, Địa-lục.” (TNHT Q1, trang 15, 1972).

Chữ MỘT là số ít tuyệt đối.

HẾT TRANG 01

Nghĩa là chỉ có MỘT Đạo Cao Đài do Ngọc Đế lập năm 1926.

Hễ xuất hiện “Đạo Cao Đài thứ hai” thì biết ngay không phải của Thượng Đế. Cũng như chỉ có MỘT Tề Thiên thật, còn lại là Tề Thiên giả.

... chẳng đổi dạ đổi lòng, hiệp đồng Chư Môn-Đệ, gìn luật lệ Cao-Đài  Luật lệ Cao Đài là những văn bản Hội Thánh Cao Đài đã ban hành như Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, các Đạo Nghị Định, Đạo Luật, Chương trình hiến pháp …

Tại sao phải Minh Thệ?

Bởi vì Thầy cho phép Quỉ vương mạo nhận danh của Thầy để lập nên Tả Đạo, mạo nhận danh hiệu Cao Đài để lập ra những tổ chức cũng mang danh Cao Đài ở các nơi khác, các thời điểm khác.

Thầy dạy ngày 22-8-1926:

...Buổi Bạch-Ngọc-Kinh và Lôi-Âm-Tự lập pháp "Tam-Kỳ-Phổ-Độ", Quỉ vương đã khởi phá quấy chơn Đạo. Đến DANH ta nó còn mượn, duy NGAI Ta nó chẳng dám ngồi mà thôi.

Lại còn hiểu rõ rằng Ta đến với huyền diệu nầy mượn cơ mầu-nhiệm, hiệp Tam-Thập-Lục-Động đổi gọi Tam-Thập-Lục-Thiên. Các tên chư Thần, Thánh, Tiên, Phật bị MẠO NHẬN mà lập nên Tả Đạo ... (TNHT Q1 trang 35; 1972)

1.2/- Thượng Đế dạy coi chừng lầm mưu tà mị.

Ngày 14-8-1926: … Vậy các con khi nghe nói Cao Đài nơi nầy, Cao Đài nơi kia đừng vội tin mà lầm mưu Tà-Mị … (Phổ Cáo Chúng Sanh trang 6, bản in ngày 13-10-1926)

Lời dạy trên xác định rất rõ Thượng Đế lập MỘT Đạo Cao Đài duy nhất vào năm 1926 tại Chùa Gò Kén, và sau đó dời về Tòa Thánh Tây Ninh. Những Đạo Cao Đài nào có trước hay sau năm 1926 không phải của Thượng Đế, nếu tin là mắc mưu của Tà-Mị. Mọi hình thức tự xưng “Cao Đài” ngoài Tòa Thánh Tây Ninh đều là âm mưu của Tà-Mị.

(Lưu ý đặc biệt: Năm 1983 Hội Thánh Cao Đài bị nhà nước Việt Nam xóa bỏ. Chi phái 1997 đang chiếm Tòa Thánh Tây Ninh và ăn cắp căn cước của ĐĐTKPĐ để xưng danh Hội Thánh Cao Đài cũng là mưu kế của tà quái.) (2)

1.3/- Chương trình Hiến pháp (28-8-1928).

Ðiều thứ 22: -Nghiêm cấm trong Ðạo không ai đặng lấy danh Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ và dùng THIÊN ÂN, THIÊN NHÃN mà đề vào bìa Kinh sách, Bố cáo, vân vân... hay là in Thánh Tượng, Kinh sách (bán hoặc phát không) nếu Kinh sách và Thánh Tượng ấy không có trình ban kiểm duyệt xem xét trước và đóng con dấu kiểm duyệt.

Ðiều thứ 24: -Kể từ ngày ban hành "Chương Trình Hiến Pháp" duy có một mình Hội Thánh "Cửu Trùng Ðài" được quyền in Kinh sách, Tượng để hiệu "Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ".

HẾT TRANG 02

Điều 22 và 24 của Chương trình Hiến pháp 1928 xác lập chủ quyền pháp lý và tính duy nhất của Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ (ĐĐTKPĐ) nói tắt là Đạo Cao Đài.

1.4/- Đạo Nghị Định số 3 (22-11-1930).

Ðiều thứ hai: - Chức sắc hành chánh các nơi, chia quyền theo đẳng cấp như vầy: Phối Sư phải ở tại Tòa Thánh.

Theo đó từ phẩm Phối Sư trở lên phải hành đạo tại Tòa Thánh Tây Ninh. Bất cứ vị nào xưng danh từ Phối Sư trở lên mà ra khỏi Tòa Thánh Tây Ninh để hành đạo là sai. Đây cũng là một trong những phép thử rất quan trọng.

1.5/- Đạo Nghị Định số 5 (22-11-1930).

Ðiều thứ nhứt: - Buộc cả Chức Sắc đã thọ phong phải phế Ðời hành Ðạo.

Ðiều thứ nhì: - Những Chức Sắc trọn hiến thân cho Ðạo mới đặng kể vào Hội Thánh, còn những kẻ ngoài vòng thì chẳng dự vào chánh trị của Ðạo.

Đạo Nghị Định số 5 xác lập rằng chỉ những Chức sắc đã phế đời và trọn hiến thân cho Đạo mới được kể vào Hội Thánh và tham gia chính trị Đạo. Đây là một phép thử để tránh sự xung đột lợi ích và trọn tâm lo cho đạo sự.

(Sau nầy mở rộng cho đến phẩm Chức việc cũng phải từ bỏ quyền đời; theo Đạo Luật Mậu Dần, năm 1938 tại Điều thứ 3, khoản số 7: Nếu như một ai còn đương quyền Đời mà muốn vào hàng phẩm Chức Việc, thì phải từ bỏ quyền Đời đặng để trọn tâm lo tròn trách nhậm Đạo.)  

1.6/- Đạo Nghị Định số 8 (25-8-1934).

Ðiều thứ nhứt: - Những Chi Phái nào do bởi Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ làm gốc lập thành mà không do nơi mạng lịnh Hội Thánh, thì cả chúng sanh chẳng đặng nhìn nhận là của Chí Tôn và phải định quyết là Bàng Môn Tả Ðạo.

Đạo Nghị Định số 8 xác lập tiêu chuẩn pháp lý duy nhất để nhận diện một tổ chức thuộc ĐĐTKPĐ: phải có mạng lịnh của Hội Thánh tại Tòa Thánh Tây Ninh. Bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào tự lập, tự xưng, tự phong mà không có mạng lịnh đều bị định quyết là Bàng Môn Tả Đạo. Đạo Nghị Định Thứ Tám không xét đến giáo lý, nghi lễ hay thờ phượng… Chi phái và Bàng Môn Tả Đạo đi đôi với nhau. (3)

Đây là bản sắc của QUỐC ĐẠO; là cơ sở pháp lý để bác bỏ mọi hành vi đánh tráo pháp lý như LKTC đã làm.

2/- Đức Hộ Pháp làm chính trị.

Sau khi Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt đăng tiên (1934); Đức Hộ Pháp được Hội Thánh công cử cầm quyền Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài Hiệp Thiên và Cửu Trùng. Sau đó được Quyền Vạn Linh tín nhiệm (1937).

Năm 1941, Pháp bắt Đức Hộ Pháp và 05 vị Chức sắc đày sang Madagascar (Phi Châu). Đóng cửa Đền Thánh, Báo Ân Từ, và nhiều Thánh Thất, Điện Thờ …. Đây là giai đoạn Đạo bị đàn áp trực tiếp, không có khả năng tự vệ.

Do vậy người Đạo đã lập ra Nội Ứng Nghĩa Binh (1943) và hợp tác với Nhật đảo chánh Pháp ngày 09-3-1945. Đến tháng 8-1945 Nhật bại trận và đầu hàng Đồng minh.

HẾT TRANG 03

Năm 1946, Đệ nhị thế chiến kết thúc; Pháp muốn trở lại Đông Dương, tình hình chính trị và xã hội rối rem. Pháp phải ký Thỏa hiệp với Nội Ứng Nghĩa Binh ngày 09-6-1946: … Pháp phải đưa Đức Hộ Pháp và các vị bị đày trở về Việt Nam và Nội Ứng Nghĩa Binh ngưng chống Pháp….

Thỏa hiệp có khoản phụ: khi Đạo Cao Đài bị tấn công bất cứ từ đâu đến, Bộ Tham Mưu Pháp hoàn lại vũ khí hoặc là cấp số khí giới khác cho người Cao Đài chống đỡ. (hết trích). (4)

Tháng 8-1946 Pháp đưa Đức Hộ Pháp về Việt Nam.

Đây là giai đoạn xã hội hỗn loạn, đồng bào và đồng đạo bị cả Pháp và Việt Minh tàn sát rất vô cớ, chính quyền miền Nam (Nam Kỳ Quốc), không bảo vệ được sinh mạng người dân.

2.1/- Pháp lý của Quân đội Cao Đài.

Đêm giao thừa năm Bính Tuất – Đinh Hợi, Việt Minh tấn công vào Nội Ô Tòa Thánh Tây Ninh từ hai phía: Cửa 12 (Góc Từ Bi) và Cửa 8 (Phước Đức Cù). Sáng ngày mùng 1 Tết Đinh Hợi, Hội Thánh đi quan sát từ cửa 8 đến cửa 12, Chức sắc, Chức việc Đạo hữu: 8 người chết và 16 cái nhà bị đốt cháy sạch 100%.

Cuộc tấn công của Việt Minh vào Tòa Thánh Tây Ninh đã kích hoạt điều khoản phụ của thỏa hiệp ngày 09-6-1946.

Do vậy mới có thỏa ước ngày 29-01-1947 (08-01-Đinh Hợi) giữa Thiếu tướng De la Tour và Trần Quang Vinh. (5)

Thỏa ước De la Tour 29‑01‑1947 là một văn kiện pháp lý song phương giữa Tư lệnh quân đội Pháp tại Nam Việt Nam De la Tour và Tổng tư lệnh Quân đội Cao Đài, Trần Quang Vinh; trong đó Pháp công nhận hợp pháp việc Đạo Cao Đài thành lập Quân đội tự vệ, “tự chỉ huy lấy” và “không trực thuộc chính phủ Nam Kỳ Tự Trị”.

Văn kiện này trao cho Cao Đài quyền tự trị quân sự đầy đủ, gồm quyền tổ chức, huấn luyện, bổ nhiệm nhân sự, sử dụng quân kỳ riêng, và quyền chọn nơi đóng quân. Thỏa ước còn xác lập địa giới hành quân và nguyên tắc “không bên nào được quyền xâm nhập” nếu không báo trước, đồng thời trao cho Cao Đài quyền tư pháp nội bộ khi “điều tra… tha hoặc giam phạm nhân”.

Trong bối cảnh Nam Kỳ thuộc địa năm 1947, thỏa ước này có giá trị pháp lý trọn vẹn và trở thành nền tảng pháp lý căn bản chứng minh Quân đội Cao Đài là lực lượng tự vệ hợp pháp, không phải lực lượng tranh quyền. Đây là pháp lý quân sự, hành chính trong khuôn khổ thuộc địa Nam Kỳ, có giá trị như một hiệp ước giữa chính quyền thuộc địa và một lực lượng bản xứ.

Ngoài tầng pháp lý, còn có một tầng khác rất quan trọng: đạo lý

Về đạo lý: Khi thấy một cá nhân hay đoàn thể bị lâm nguy, bị đe dọa tính mạng thì người có bi-trí-dũng phải tìm phương cứu giúp tức thời không cần chờ phép tắc hay lịnh của ai hết. Đó là mệnh lệnh của lương tâm. Đạo Cao Đài thấy sanh mạng đồng bào và đồng đạo bị giết chết rất tàn nhẫn và vô cớ thì lập Quân đội Cao Đài để cứu vớt sinh mạng của họ. Đó là cử chỉ của người có bi-trí-dũng, hy sinh tánh mạng 

HẾT TRANG 04

của mình để cứu giúp đồng loại. Những người không hiểu hoàn cảnh 1946–1947 thường dễ đánh giá sai hành động tự vệ và chính nghĩa của Đạo Cao Đài.

Thiêng liêng nhìn nhận nên Chí Tôn mới ban thi cho Cựu Hoàng Bảo Đại và dạy Đạo Cao Đài đưa ra Giải pháp Bảo Đại. Khi Quốc gia hóa Quân đội Cao Đài Đức Lý Giáo Tông ban cho bài thi khen ngợi đã làm xong sứ mạng Bảo Sanh – Nhơn Nghĩa – Đại Đồng. (6)

Quân đội Cao Đài được Thỏa ước 29‑01‑1947 trao quyền tự trị quân sự như quyền tự tổ chức, tự huấn luyện và tự chỉ huy, không lệ thuộc chính phủ Nam Kỳ Tự Trị để bảo vệ sinh mạng đồng bào và đồng đạo trong thời ly loạn. Nhưng Quân đội Cao Đài không lập chính phủ riêng, không chiếm đất lập hành chính, không tuyên bố ly khai, để tranh quyền hay lập quốc gia theo thế tục. Đến năm 1955 tự nguyện quốc gia hóa khi quốc gia đã có chính quyền hợp pháp. Sự kết hợp giữa quyền tự vệ và giới hạn chính trị ấy là chứng cứ rõ ràng rằng Quân đội Cao Đài làm chánh trị để cứu dân, cứu nước.

LKTC viết rằng Đạo Cao Đài làm chánh trị để tìm kiếm Quốc giáo là bịa đặt và đánh tráo pháp lý, đánh tráo lịch sử. (7)

2.2/- Tôn chỉ, tuyên ngôn, trách nhiệm và nhất quán.

Căn cứ vào Lời Thuyết Đạo (LTĐ), ngày 29-01-1947:

Tôn chỉ: Bảo Sanh – Nhơn Nghĩa – Đại Đồng.

Tuyên ngôn: Quân đội Cao Đài có một tinh thần kiểu mẫu của những đội binh trên thế giới, có mục đích bảo toàn cho nhơn loại dựng lại hòa bình. Quân Ðội Cao Ðài không phải vì quyền lợi riêng mà tàn sát làm tiêu diệt thiên hạ.

Trách nhiệm: Quân đội Cao Đài có trách nhiệm thiêng liêng, làm cho đời được an ninh trật tự, đào tạo hạnh phúc cho nhơn sanh chung hưởng cốt yếu làm khuôn mẫu cho sự hòa bình, làm gương cả lân bang ngoại quốc.

Nhất quán: Phiên nhóm Quốc Sự Vụ ngày 01-3-1947, Đức Hộ Pháp:

Có phải chúng ta theo đuổi chủ nghĩa Cao Ðài không? Nếu đúng như thế thì chủ nghĩa Cao Ðài vì muốn tồn tại nên phải lập ra quân đội. Như vậy quân đội là của chánh trị lập thành, nên quân đội phải tuân theo nguyên tắc chánh trị. Như thế quân đội phải do chánh trị điều khiển vì chúng ta làm chánh trị... 

… Chúng ta ngày nay vì làm chánh trị nên phải có quân đội, ngày nào nếu chúng ta không làm chánh trị nữa thì quân đội phải giải tán… (hết trích)

Tại Lễ khai mạc Hội Nhơn Sanh của Quyền Vạn Linh (30-9-1951), Đức Hộ Pháp dạy:

Trong thời buổi khó khăn loạn lạc, Đạo muốn thực hiện Bảo Sanh Nhơn Nghĩa Đại Đồng nên mới xuất hiện ra Quân đội. Cái thêm ấy, chúng ta cho vinh diệu chớ không phải là cái nhục, thảng có kẻ nghi kỵ trích điểm hoặc giả một ngày kia thiên hạ nói: Đạo thì không thể có Quân đội, hay là họ đem ra tố cáo chúng ta giữa Liên Hiệp Quốc đi nữa, thì chúng ta xin trả lời rằng: chúng ta hy sinh tánh mạng để bảo vệ và dìu dắt nhơn sanh tiến đến con đường Đại đồng thế giới và tinh thần Đạo Đức nhơn nghĩa. Cái phận sự tối trọng ấy chẳng phải dễ làm, chúng ta dám cố gắng

HẾT TRANG 05

 hy sinh cho thiên hạ, thì thiên hạ không ai làm đặng vì không có cơ quan nào đứng ra đương đầu để đảm đương một lời hy sinh dường đó. Thật Bần Đạo chưa hân hạnh ngó thấy vậy. Ngoài ra họ có thể mượn quyền lực để lập danh phận quyền lợi cho họ mà thôi, chớ chưa hề dám hy sinh đảm nhiệm một trách vụ Thiêng Liêng như Quân Đội Cao Đài đã khấn hứa… (hết trích).

Ngày 02-05-1955 Đức Hộ Pháp ký Thánh lịnh 704 Quốc gia hóa Quân đội Cao Đài; đánh dấu mốc thời gian Đạo Cao Đài rời khỏi vũ đài chính trị. (7) 

2.3/- Góp phần thành lập Quốc gia Việt Nam.

Ngày 21-01-1948 (đêm 11 rạng 12-12-Đinh Hợi), Đức Chí Tôn ban cho Bảo Đại bài thi về Quốc Đạo. (7)

Đức Hộ Pháp sắp xếp Ngài Bảo Sanh Quân Lê Văn Hoạch (Cựu Thủ Tướng Nam Kỳ Quốc) cầm sang Hong-Kong cho Ngài Bảo Đại. Đạo Cao Đài đã đóng góp phần quan trọng trong Giải pháp Bảo Đại.

Tháng 3-1948 Đức Hộ Pháp sang Hong-Kong để vận động Bảo Đại về làm Quốc trưởng đòi lại độc lập cho Việt Nam.

Ngày 02-7-1949 Quốc Gia Việt Nam (State of Vietnam) được thành lập. Bảo Đại trở thành Quốc Trưởng đầu tiên. Giải pháp Bảo Đại đem lại cho Việt Nam một quốc gia thống nhất ba miền Nam, Trung, Bắc, độc lập về pháp lý -theo Hiệp ước Elysée 1949, có chính phủ, có quân đội, và được quốc tế công nhận.

Để Chánh phủ có một quân đội hùng mạnh để ứng phó với mọi tình huống chính trị có thể xảy ra trong hiện tại và tương lai - Đức Thượng Tôn Quản Thế giao Quân đội Cao Đài cho Quốc Trưởng sử dụng: (Liền khi đó Bộ tham mưu Quân đội đưa Thiếu tá Trương Văn Xương và một số Sĩ quan Hạ Sĩ quan và Binh sĩ thuộc khu vực Cà Mau qua lập thành Tiểu Đoàn 1 trong Quân Đội Quốc gia đầu tiên). (8).

Khi Quốc trưởng sang Pháp Ngài mới giao lại cho Đức Hộ Pháp và Đức Hộ Pháp đã thúc đẩy các vị Thủ tướng sau đó Quốc gia hóa Quân đội Cao Đài. (9)

2.4/- Giao thiệp với chính phủ Quốc gia Việt Nam.

Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm và Cao Ủy Pháp đến tham dự Lễ Hội Yến và duyệt binh (22-9-1953).





Thủ Tướng Bửu Lộc: Ngày 06-06-1954 Thủ tướng Bửu Lộc nhìn nhận công nghiệp đóng góp vào nền độc lập quốc gia nên ra Sắc lệnh số 5: ban cho vùng Thánh địa đã lập sẵn và có quyền quốc tế hóa. Quốc Trưởng Bảo Đại đã duyệt y.

HẾT TRANG 06

Tháng 5-1954 đi Paris Cố vấn cho Quốc Trưởng Bảo Đại trong Hội Nghị Geneve về Việt Nam năm 1954.

Trong thời gian này đã hội kiến riêng với Quốc trưởng Bảo Đại và Ngô Đình Diệm ngày 19-6-1954. Sau đó có cuộc hội tay ba trước khi Thủ tướng Ngô Đình Diệm về nước ngày 23-6-1954.

Ngày 29-8-1954 đi công du Châu Á theo lời mời của Ngài Tưởng Giới Thạch.

Ngày 31-01-1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm đến dự Lễ khánh thành Tòa Thánh Tây Ninh.

Ngày 02-5-1955 Đức Hộ Pháp ký Thánh lịnh Quốc gia hóa Quân đội Cao Đài. Chiến sĩ Cao Đài thành chiến sĩ Quốc gia Việt Nam do ông Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng và Ngài Bảo Đại làm Quốc trưởng. (7)

2.5/- Đệ Nhị Cộng Hòa.

Diễn văn ngày 28-7-1965, của Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu tại Tòa Thánh Tây Ninh: … Nơi đây gợi lại biết bao hy sinh đã qua của các đấng Tiên Liệt Cao Đài, đã đổ dòng máu ái quốc để kháng Thực, diệt Cộng, chống độc tài áp bức, góp sức cùng toàn dân vun đắp nền móng tự do, xây dựng tương lai cho tổ quốc… (10)

Đáp từ ngày 03-02-1971 của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tại Tòa Thánh Tây Ninh: … chính xã hội Cao Đài cũng đã cùng với các Giáo hội khác và các Đảng phái chính trị cách mạng cũng đã muốn tỏ thiện chí, thống nhất các lực lượng quốc gia lại để đánh đuổi thực dân đô hộ, … (11)

HẾT TRANG 07

2.6/- Chính quyền cộng sản lên án.

Trong khi Việt Minh tàn sát người Đạo Cao Đài nhưng Đức Hộ Pháp phân biệt rõ “người bị lợi dụng” và “kẻ chủ mưu”, nên Ngài thả những người Việt Minh bị Quân đội Cao Đài bắt để họ không bị chết oan.

Lần thứ nhất: ngày 05-12-Đinh Hợi (15-01-1948):

Ngày nay vì bảo thủ đai nghiệp cho Tổ Quốc, bảo sanh cho giống nòi, không lẽ để cho mấy em đi đến chỗ tự diệt, nên phải dừng bước mấy em lại, sợ mấy em đi đến chỗ chết, nên phải giữ lại đó thôi chớ không phải cầm tù mấy em đâu?

Vì tâm ái chủng, ái quốc của mấy em mà họ lợi dụng mấy em làm món binh khí để giết lại đồng bào. Vì muốn mấy em đừng lâm vào cảnh đổ máu, buộc lòng cầm lại chớ không phải bỏ tù.

Xin mấy em khá biết.

Nay cho mấy em về, nếu mấy em không chịu hiểu, không tin, cứ làm nữa đi. Rồi mấy em có tuyệt mạng đừng có trách Đạo nữa đa nghe.

Lần thứ hai: 5-5 Quí-Tỵ (15-6-53): … Hôm nay là ngày được tự do của các anh em để về với gia đình, các anh em phải hiểu biết bổn phận công dân của mình đối với xứ sở. Về đến gia đình, các anh em nên lo làm ăn hằng ngày để nuôi lấy vợ con các anh em được ấm no. Các anh em không nên làm việc gì có di hại cho xứ sở, các anh em phải làm sao cho xứng đáng mình trong công cuộc xây dựng Tổ Quốc.

Hai sự kiện cách nhau 5 năm cho thấy lập trường nhất quán: luôn thả tù binh, không trả thù. Đó là thể hiện tôn chỉ: Bảo Sanh – Nhơn Nghĩa – Đại Đồng của Quân đội Cao Đài. (12)

Nhưng cộng sản đã lên án Đạo Cao Đài, lên án Đức Hộ Pháp.

Bản án ngày 20-7-1978, có tên đầy đủ Bản án hoạt động phản cách mạng của một số tên phản động trong giói cầm đầu Giáo phái Cao Đài Tây Ninh. Do Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh ban hành.  

Trang 05: … Phạm Công Tắc làm Tổng Tư lệnh tối cao (Thượng Tôn Quản Thế) về Tòa Thánh và triển khai đóng đồn bót, càn quét gom Tín đồ lập các Châu Vi Đạo thực hiện kế hoạch chống cách mạng, chống cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

Tập đoàn cầm đầu giáo phái Cao Đài Tây Ninh và quân đội Cao Đài trong khoảng thời gian từ năm 1946 đến 1955 đã phản bội tổ quốc trắng trợn…

 Trang 11: … Lịch sử giáo phái Cao Đài Tây Ninh do những người cầm đầu dẫn dắt trong nửa thế kỷ qua, là một quá trình liên tục lợi dụng khối quần chúng tín đồ và những người cầm đầu nối tiếp nhau làm tay sai cho các đế quốc xâm lược nước ta, đã làm hoen ố thanh danh Đạo. Tư tưởng chỉ đạo của nhóm cầm đầu tôn giáo này là hệ tư tưởng phản động. Vì vậy, họ không bao giờ có tinh thần độc lập dân tộc, chống Đế quốc thực sự. (13)

2.7/- Tóm lược.

HẾT TRANG 08

Tóm lại công nghiệp chính trị của Đạo Cao Đài và Đức Hộ Pháp gắn liền nhau. Nó thể hiện sự chính nghĩa, chính danh và được các chính phủ quốc gia nhìn nhận; còn chính quyền cộng sản thì lên án.

3/- LKTC đánh tráo pháp lý Ngài Cao Triều Phát.

Bài viết liệt kê công nghiệp Ngài Cao Triều Phát để chứng minh ông không thuộc Đạo Cao Đài do Thượng Đế lập năm 1926.

Ngài Cao Triều Phát (1889-1956) sinh tại Vĩnh Hinh, làng Vĩnh Lợi, tổng Thạnh Hưng, hạt Bạc Liêu. Có bút danh Sơn Kỳ Giang.

1910: Ông tốt nghiệp collège Chasseloup-Laubat (Sài Gòn). Sau đó học hai năm luật ở Sài Gòn.

1914: Ông đăng ký làm thông ngôn cho lính thợ để sang Pháp.

1922: Ông về nước, tàu cập bến Sài Gòn giữa tháng 9-1922.

1926: Ông làm Đảng trưởng Đông Dương Lao Động Đảng.

1930: Ông được bầu vào Hội Đồng Quản Hạt Nam Kỳ.

3.1/- Công nghiệp Ngài Cao Triều Phát.

Ngài có 02 công nghiệp tôn giáo và chính trị.

3.1.1/- Ngài Cao Triều Phát không thuộc Đạo Cao Đài 1926.

1932: Ông nhập môn vào Hội Thánh Cao Đài Minh Chơn Đạo tại Thánh thất Thái Dương Minh, ấp Thạch Sau, xã Khánh Hòa, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

1932: Ông là Bảo Đạo Hiệp Thiên Đài Hội Thánh Minh Chơn Đạo.

1934: Ông chủ trì đại hội: Hội Lý Đạo Công Đồng Giáo Lý Tôn Giáo, do Hội Thánh Minh Chơn Đạo tổ chức tại Thánh thất Ngọc Phước Đàn (Bạc Liêu). Ông lấy bút danh Sơn Kỳ Giang để tập kết tài liệu.

HẾT TRANG 09

1937: Ngài Ngọc Chưởng Pháp Trần Đạo Quang và Ngài Bảo Đạo Cao Triều Phát ra Trung Kỳ để yểm trợ bổn đạo xây dựng Thánh thất Trung Thành.

1938: Ông thành lập Thanh Niên Đạo Đức Đoàn của Hội Thánh Hậu Giang, và làm Tổng Trưởng.

1939: ông xuất bản Lễ Bổn (Dương Sự, Thể Thức, Tang Tế, Cầu Siêu).

Ngày 10-7-1940: Thống Đốc Nam Kỳ René Veber, ra nghị định 3949 đóng cửa toàn bộ các Thánh thất của Minh Chơn Đạo.

Ngày 12-7-1940: Thánh thất Minh Chơn Đạo và nhà riêng của ông bị xét.

Ngày 08-4-1943: ông bị quản chế trong phạm vi tỉnh Bạc Liêu, mỗi tuần phải trình diện một lần.

09-3-1945: Nhật đảo chánh Pháp.

24-6-1945: Ông hiệp cùng các phái Cao Đài thành lập Cao Đài Mười Một Phái Hiệp Nhứt tại Tam Giáo Điện Minh Tân, Sài Gòn. Ông làm chủ tịch.

Tháng 11-1945: Ông triệu tập hội nghị chức sắc Hội Thánh Minh Chơn Đạo để thảo luận và quyết định thành lập mặt trận Giồng Bốm.

Tháng 10-1947: Tại chiến khu Đồng Tháp, Ông lập Cao Đài Cứu Quốc Mười Hai Phái Hiệp Nhứt và làm chủ tịch. Bầu ra Hội Thánh Duy Nhứt Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Tháng 10-1948: Cũng tại chiến khu Đồng Tháp Mười, Cao Đài Cứu Quốc Mười Hai Phái Hiệp Nhứt đổi tên thành Cao Đài Cứu Quốc Mười Hai Phái Thống Nhứt, Ông làm chủ tịch. Sau đó lập Hội Thánh Duy Nhứt Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Ông là quyền Chưởng quản Cửu Trùng Đài.

Ngày 01-01-1955: ông tổ chức hội nghị thống nhất đạo Cao Đài ở miền Bắc.

Ngày 06-02-1955: Ông là Anh Cả Chưởng quản Cửu Trùng Đài của Hội Thánh Duy Nhứt Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, ban hành Đạo Lịnh số 02.

Pháp lý tôn giáo.

Thượng Đế dạy ngày 29-10-1926: … Đ… Q… cả môn đệ Thầy duy biết có một chớ không biết hai; kẻ nào cưu tâm chia phe phân phái là đứa thù nghịch của Thầy. Con hiểu à! (TNHT, Q1, trang 47, 1972).

Trong lời dạy trên, Đ … Q chính là Ngài Trần Đạo Quang. Ngài được phong Quyền Thượng Chưởng Pháp để lập thành Tân Luật (1927). Sau đắc phong Ngọc Chưởng Pháp.

Năm 1931 Ngài Ngọc Chưởng Pháp hiệp với Ngài Thái Ca Thanh lập ra chi phái Minh Chơn Lý; xung danh Hội Thánh Trung Ương.

Năm 1932 Ngài tách riêng ra lập thành chi phái Minh Chơn Đạo hay gọi là Hội Thánh Hậu Giang. Đức Thái Thượng Đạo Tổ có nhắc đến 02 chi phái trên đây; (ngày 25-8-1934, TNHT Q2, trang 96, bản in 1963).

HẾT TRANG 10

Ngài Cao Triều Phát nhập môn vào Minh Chơn Đạo là một chi phái của ĐĐTKPĐ và nhận phẩm Bảo Đạo.

Căn cứ vào các qui chuẩn pháp lý đã liệt kê tại tính chất QUỐC ĐẠO Ngài Phát không phải là nhân sự của ĐĐTKPĐ. Hội Thánh ĐĐTKPĐ không có công văn nào nhìn nhận phẩm vị của Ngài Cao Triều Phát.

Tại sao Ngài Cao Triều Phát xưng danh Bảo Đạo?

Bởi trong 12 vị Thời Quân của ĐĐTKPĐ Ngài Bảo Đạo Ca Minh Chương (1850-1927) đã đăng tiên; cho nên Ngài Phát mới xưng danh Bảo Đạo. Nhưng Hội Thánh ĐĐTKPĐ không hề phong phẩm cho Ngài Cao Triều Phát và cũng không có công văn nào nhìn nhận phẩm vị của Ngài Phát.    

Năm 1948 ông lập ra Cao Đài Cứu Quốc Mười Hai Phái Thống Nhứt, Ông làm chủ tịch. Sau đó lập Hội Thánh Duy Nhứt Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Ông làm quyền chưởng quản Cửu Trùng Đài. Ông cũng là đại biểu Quốc hội của chính quyền cộng sản Bắc Việt.

Nhận xét.

Năm 1948 Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc là Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài Hiệp Thiên và Cửu Trùng. Ngài Phát xưng danh Chưởng Quản Cửu Trùng Đài chứng tỏ Ngài Phát, không thuộc Đạo Cao Đài 1926.

Đức Chí Tôn dạy: … chi chi cũng tại Tây Ninh mà thôi. Nên Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ hành đạo tại Tòa Thánh Tây Ninh. Ngài Cao Triều Phát lại lập ra Hội Thánh Duy Nhứt Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ trong chiến khu chứng tỏ Hội Thánh của Ngài Phát không phải do Đức Chí Tôn lập. Hội Thánh Cao Đài chưa từng có một công văn nào nhìn nhận Ngài Cao Triều Phát thuộc Đạo Cao Đài 1926.

LKTC đã hô biến Ngài Cao Triều Phát là một nhân vật không thuộc Đạo Cao Đài 1926, thành “nhân vật quyền lực của Đạo Cao Đài”, tức là hợp thức hóa một hành vi lật đổ trật tự thiêng liêng của Đạo Cao Đài 1926.

“Đây là hành vi đánh tráo nhân vật và pháp lý tôn giáo, dẫn đến hiểu lầm nghiêm trọng về trật tự phẩm vị và tổ chức của Đạo Cao Đài 1926.”

3.1.2/- Sự nghiệp chính trị của Ngài Cao Triều Phát.

1939: Chủ tỉnh Bạc Liêu ký duyệt Bản điều lệ hoạt động của Thanh Niên Đạo Đức Đoàn.

Tháng 8-1945: Ông làm phó chủ nhiệm Ủy Ban Mặt Trận Việt Minh tỉnh Bạc Liêu. Sau đó làm chủ tịch Ủy Ban Giải Phóng Dân Tộc tỉnh Bạc Liêu.

30-9-1945: Ông làm chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Bạc Liêu.

1946: Ông làm ủy viên trưởng Tài Chánh Kinh Tế của Ủy Ban Kháng Chiến miền Hậu Giang. Ông được bầu vào Quốc Hội (đại biểu tỉnh Bạc Liêu). Làm cố vấn quân sự tối cao chiến khu 9.

Tháng 4-1946: Ông làm chỉ huy trưởng mặt trận Giồng Bốm, bị thương.

1949: Ông được tặng Huân Chương Độc Lập hạng Nhì, do Chủ Tịch nước Hồ Chí Minh ký.

HẾT TRANG 11

Ngày 17-9-1954: Ông tập kết ra Bắc, từ sân bay Tân Sơn Nhứt bay ra Gia Lâm (Hà Nội).

Tháng 3-1955: Ông làm đại biểu Quốc Hội khóa I, tham dự kỳ họp thứ tư tại Hà Nội.

Ngày 09-9-1956: Ông mãn phần lúc 2 giờ chiều, tại bệnh viện B303 (Hà Nội).

Những hoạt động chính trị của ông Cao Triều Phát — từ Việt Minh, Ủy ban Giải phóng, Ủy ban Nhân dân, Quốc hội, đến việc tập kết ra Bắc và được tặng Huân chương Độc lập — đều thuộc phạm vi lịch sử chính trị và đã được chế độ cộng sản nhìn nhận; không phải Hội Thánh ĐĐTKPĐ nhìn nhận.

Công nghiệp chính trị không thể dùng làm căn cứ để xác lập tư cách tôn giáo trong Đạo Cao Đài 1926. Nên đó không phải là đối tượng của bài viết này.

3.2/- Đối chiếu công nghiệp chính trị của Đức Hộ Pháp và Ngài Cao Triều Phát.

Cùng làm chính trị nhưng:

3.2.1/- Công nghiệp của Đạo Cao Đài 1926 do Đức Hộ Pháp lãnh đạo được chính quyền Quốc gia Việt Nam cho đến Đệ Nhị Cộng Hòa đều nhìn nhận công lao. Đây là công nghiệp chính trị của một tôn giáo do Thượng Đế lập, hành động trong chính danh tôn giáo. Nhưng bị chính quyền cộng sản kết tội phản quốc.

3.2.2/- Ông Cao Triều Phát lãnh đạo 12 chi phái Cao Đài không do Thượng Đế lập ra; được cộng sản ca ngợi tôn vinh là yêu nước. Đây là công nghiệp chính trị của một nhân vật cách mạng, của các chi phái; không liên quan đến Đạo Cao Đài 1926.

3.3/- LKTC chơi bài tráo.

LKTC đã trộn lẫn và đánh đồng hai công nghiệp chính trị hoàn toàn khác nhau, vốn thuộc hai hệ quy chiếu đối nghịch:

Một bên là công nghiệp chính trị của Đạo Cao Đài 1926, do Đức Hộ Pháp lãnh đạo, được Quốc gia Việt Nam – Đệ Nhất – Đệ Nhị Cộng hòa nhìn nhận công lao, nhưng bị chính quyền cộng sản kết tội phản quốc vì giữ Đạo độc lập và không theo đường lối cộng sản.

Một bên là công nghiệp chính trị của ông Cao Triều Phát, lãnh đạo 12 chi phái không do Thượng Đế lập, hoạt động trong hàng ngũ Việt Minh, được chế độ cộng sản ca ngợi là yêu nước.

LKTC tuyên bố làm báo trung thực nhưng đã bỏ qua toàn bộ bối cảnh lịch sử, pháp lý và chính danh để gán hai công nghiệp đối nghịch vào cùng một khung phân tích. Đây là hành vi thiếu hiểu biết, về mặt lịch sử lẫn pháp lý tôn giáo, sai lầm về phương pháp luận và vi phạm tuyên bố làm báo trung thực của LKTC.

Đây là hành vi đánh tráo pháp lý và đánh tráo hệ quy chiếu, dẫn đến sai lệch nghiêm trọng về bản chất tôn giáo – chính trị của hai nhân vật.”

@@@


HẾT TRANG 12

4/- LKTC đánh tráo pháp lý Ngài Trần Văn Quế.

Ngài Trần Văn Quế sinh năm 1902, mất năm 1980.

Ông là trí thức khoa bảng chân chính thời Pháp thuộc; là một người yêu nước chân chính. Ông có hai sự nghiệp: xã hội và tôn giáo.

4.1/- Về xã hội.

1943 Cụ bị Pháp kết án nặng nề: 20 năm khổ sai, 20 năm biệt xứ và tịch biên gia sản. Bị đày ra Côn Đảo...

Tháng 8-1945 được trở về.

Dạy học tại Trung học Pétrus Ký.

Giám Đốc Dân Huấn Vụ Bộ Thông Tin Hà Nội.

Bộ Trưởng Bộ Nghiên Cứu Cải Cách tại Sàigòn.

Giảng Sư Đại học Văn Khoa Sàigòn và Đại học Vạn Hạnh.

Viết sách giáo khoa, khảo cứu, triết lý tôn giáo.

Những công nghiệp xã hội này không liên quan đến pháp lý tôn giáo của Đạo Cao Đài 1926.

4.2/- Về tôn giáo:

1929: Nhập môn cầu đạo tại Thánh Thất Phú Hội (Biên Hòa). Thường sinh hoạt ở Thánh Thất Cầu Kho (Sài Gòn).

Về việc Ngài Quế có thọ phong Chức sắc với Hội Thánh Cao Đài tại Tòa Thánh Tây Ninh hay không?

Bài viết xác định: Theo tiểu sử của Ngài Quế, không có Thánh Lịnh nào hay danh sách nào của Hội Thánh Tòa Thánh Tây Ninh phong ông vào hàng Chức sắc, không có một công văn nào của Hội Thánh ĐĐTKPĐ nhìn nhận phẩm vị của ông.

Có nguồn viết là Ngài thọ phong Lễ Sanh phái Ngọc ở Cầu Kho (mà Cầu Kho cũng không đồng nghĩa với Hội Thánh Cao Đài phong); nguồn khác không ghi việc cầu phong.

Bài viết xác định.

Năm 1937, Ngài Quế là Đạo hữu Trước lý Minh Đài để viết Bài Ca Tụng trong sách Đại Thừa Chơn Giáo, nhà in Xưa Nay của Ngài Nguyễn Háo Vĩnh. (14)

Sau đó ông hành đạo với nhiều Hội Thánh khác nhau và các chức phẩm khác nhau.  

1953: Tham gia Ban điều động Cao Đài Thống nhứt (văn phòng tạm ở Tam giáo điện Minh Tân). Hội trưởng Cơ quan Truyền giáo Cao Đài (miền Trung).

HẾT TRANG 13

1956: Chủ tọa lễ lập thành Trung Hưng Bửu Tòa (Đà Nẵng). Nâng Cơ quan Truyền giáo lên thành Hội Thánh và làm Chủ Trưởng Hội Thánh Truyền Giáo Trung Việt. Lần lược trải qua các phẩm: Ngọc Phối Sư, Ngọc Chánh Phối Sư và truy phong Ngọc Đầu Sư (1980).

(Lưu ý: Về pháp lý từ Hội Thánh Cao Đài, phẩm Ngọc Đầu Sư của ĐĐTKPĐ do Ngài Ngọc Nhượn Thanh được phong từ 1973–1985, nên không thể có “hai Ngọc Đầu Sư”. Thật vậy ngày 01-12-Nhâm Tý “04-01-1973”, Ngài Ngọc Nhượn Thanh đắc phong Ngọc Đầu Sư. Đến 12-9-Ất Sửu “25-10-1985” Ngài Ngọc Đầu Sư, Ngọc Nhượn Thanh “thế danh Bùi Đắc Nhượn” mới tạ thế. Đó là bằng chứng rõ ràng rằng Ngài Quế không thuộc về Đạo Cao Đài)

1966: Đạo Trưởng, Tổng Lý Minh Đạo Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý 171B Cống Quỳnh, SG.

Năm 1969: Vĩnh Tịnh Sư Minh Lý Thánh Hội (Tam Tông Miếu).

4.3/- Công nghiệp với Hội Thánh Cao Đài.

 Các vị Đạo Tâm ở Sài Gòn cử ông Trần Văn Quế làm Trưởng Phái Đoàn gởi Tờ Thỉnh Cầu đến Hội Thánh Cao Đài để bàn luận việc: Thống nhứt các Chi phái về mặt tinh thần vào ngày 09-05-1964. Hội Thánh Cao Đài đã tiếp đón ông với tư cách đại diện các chi phái.

Ngày 09-05-1964, Hội Thánh Tòa Thánh Tây Ninh tiếp Phái Đoàn Thiện Tâm Liên hiệp Chi Phái Đạo Cao Đài do Đạo Huynh Trần Văn Quế (Huệ Lương) hướng dẫn về họp tại Tòa Thánh Tây Ninh. Ngài Bảo Thế Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài chủ tọa.

Ngài Trần Văn Quế thuyết trình về mục đích cuộc gặp gỡ: để thảo luận cùng Hội Thánh Tòa Thánh Tây Ninh về công cuộc vận động liên hiệp các Chi Phái Đạo và đặc biệt về kế hoạch thống nhất Chi Phái

Phiên họp quyết nghị 05 điểm căn bản cho công cuộc vận động liên hiệp Chi Phái.

Họp ngày 23-8-64, tại Nam Thành Thánh Thất hồi 8 giờ 30 có mặt đại diện nhiều Hội Thánh.

Ông Huệ Lương đọc diển văn khai mạc và tiếp theo đó ông Huệ Lương xin đại hội hiện diện bầu cho buổi hội một vị Chủ Toạ và 2 Thư ký.

Toàn hội đồng thanh bầu ông Tiếp Pháp Trương Văn Tràng đại diện Toà Thánh Tây Ninh làm Chủ Toạ. Đại Hội thảo luận sâu rộng về 05 điểm căn bản trọng yếu trong việc thống nhất nền Đại Đạo.

Ngày 24-02-1969, Hội Thánh Cao Đài mở phiên họp khoáng đại với các chi tại Tòa Thánh Tây Ninh.

Chủ tọa: Đức Thượng Sanh Cao Hoài Sang.

Ngài Phan Khắc Sửu cựu Quốc Trưởng: Trưởng Phái Đoàn các Chi.

Bác Sĩ Phạm Thành Nam Phó Trưởng Đoàn.

 Đại diện 14 chi gồm có 72 vị: 50 Nam, 22 Nữ.

HẾT TRANG 14

Đức Thượng Sanh: … Hôm nay là ngày vui nhứt của Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh. Là vì Hội Thánh chúng tôi được có cái hân hạnh tiếp đón chư quí Chức sắc Nam Nữ Đại Diện cho các Chi Phái trở về Tòa Thánh hôm nay, trước là bái lễ Đức Chí Tôn, sau để thảo luận về sự hiệp nhứt của các Chi Phái về Tòa Thánh

Giáo Hữu Ngọc Chánh Thanh đọc chương trình hội nghị gồm 09 điều.

Ngài Phan Khắc Sửu: … Như mười chín năm nay chúng tôi ở trong Ban vận động thống nhất, bao giờ chúng tôi cũng thiết tha làm sao Chi Phái thống nhứt làm một. Thế nào cái kết quả đó chúng tôi cũng muốn gặp năm nay. Nhưng vì cái trường hợp trung gian Tôi xin giữ cái tính cách vô tư.

Chín điều của Hội Thánh đưa ra, tôi xin nhường lại cho anh em Chi Phái để bàn sâu vào vấn đề đó, mổ xẽ cho rành rẽ rồi chúng ta sẽ từ lần mà có thể đi tới chổ kết quả tốt đẹp.

Toàn hội đồng thanh quyết nghị:

1/- Thống nhứt về tinh thần đồng nhìn nhau một (Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ) chung thờ một chủ nghĩa công bình bác ái từ bi.

2/- Mổi Hội Thánh đề cử 02 vị Đại Diện, gởi danh sách về Tòa Thánh Tây Ninh, thành lập Ủy Ban Hổn Hợp Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

(Lưu ý: có 04 vị không ký tên). (15)

4.4/- LKTC tiếp tục chơi bài tráo.

Ngài Trần Văn Quế có nhập môn với Hội Thánh Cao Đài.

Nhưng từ 1937 Ngài đã xác định là Đạo Hữu Trước Lý Minh Đài nên không còn là nhân sự Tòa Thánh Tây Ninh. (14)

Sau đó Ngài hành đạo với nhiều Hội Thánh khác.

Công nghiệp vận động thống nhất các chi phái Cao Đài trở về Tòa Thánh Tây Ninh rất lớn, rất đáng ngưỡng mộ. Ngài là đại diện cho các Chi phái nên đương nhiên không thuộc Đạo Cao Đài 1926. Phẩm Ngọc Đầu Sư của Ngài không xuất phát từ Hội Thánh Cao Đài (trái với Pháp Chánh Truyền).

LKTC tuyên bố làm báo trung thực nhưng ghép Ngài Quế vào Đạo Cao Đài 1926 là hành vi đánh tráo pháp lý nhân vật và đánh tráo pháp lý tôn giáo trước công chúng là vi phạm nguyên tắc của chính LKTC.

5/- Kết luận.

Nội dung LKTC trình bày trong video về Đạo Cao Đài trong chiến tranh Đông Dương là đánh tráo pháp lý nhân vật và đánh tráo pháp lý tôn giáo và sai lầm về phương pháp luận. LKTC đã:

. Đánh tráo hệ quy chiếu. Đó là đặt Đạo Cao Đài 1926 (do Thượng Đế lập) ngang hàng với các chi phái do người đời lập, thậm chí là ngang hàng với Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý 171B Cống Quỳnh do cộng sản sai các điệp viên lập ra và Điệp viên U4 Đinh Văn Đệ là người chỉ huy. (16)

HẾT TRANG 15

Đánh tráo chính danh. Hô biến những nhân vật không thuộc Đạo Cao Đài 1926 thành “nhân vật quyền lực của Đạo”. Hô biến hành vi tự lập – tự phong – tự xưng thành “quyền lực tôn giáo”. Đó là đánh tráo bản chất sự việc.

Đánh tráo công nghiệp. Công nghiệp của Đức Hộ Pháp là công nghiệp tôn giáo – chính trị trong chính danh Đạo Cao Đài 1926. Công nghiệp của ông Cao Triều Phát là công nghiệp chính trị trong hàng ngũ Việt Minh – chi phái. LKTC trộn lẫn vào nhau là đã chơi bài tráo.

6/- Hậu quả.

Đạo Cao Đài 1926 tự thân đã là Quốc Đạo (như đã làm rõ trong bài trước) nhưng đã bị LKTC trình bày sai lệch thành tìm kiếm Quốc giáo. LKTC đã làm sai lệch bản chất và chính danh của QUỐC ĐẠO Cao Đài.

Hệ quả của việc đánh tráo pháp lý là hàng loạt sai lệch nghiêm trọng:

Nhân vật bị gán ghép tùy tiện

Công nghiệp bị đảo ngược

Chính danh bị bóp méo

Công luận bị dẫn dắt sai hướng.

Đó không phải là nghiên cứu học thuật, mà là một loạt thao tác đánh tráo phương pháp luận dưới vỏ bọc ‘Luật Khoa

Tên gọi “Luật Khoa” và tuyên bố làm báo trung thực tạo ảo giác về pháp lý, khiến người đọc dễ tin hơn, ít nghi ngờ hơn. Sự đánh tráo vì thế trở nên nguy hiểm hơn, vì nó khoác áo “Luật Khoa” nhưng thực chất là sai lệch.

Công luận bị dẫn dắt sai, không phải vì thiếu thông tin, mà vì thông tin bị trình bày dưới danh nghĩa “khoa học – pháp lý”.

Danh dự của các nhân vật tôn giáo bị bóp méo, lịch sử tôn giáo bị xuyên tạc ngay trong mắt những người tưởng rằng mình đang đọc một nguồn đáng tin. Nó làm suy giảm niềm tin vào nghiên cứu nghiêm túc, vì người đọc không phân biệt được đâu là học thuật thật, đâu là học thuật giả. Không phân biệt được Tề Thiên thật và Tề Thiên giả.

Đó là sự nguy hiểm của việc treo chữ Luật Khoa và tuyên bố làm báo trung thực rồi chơi bài tráo./.

Ngày 03-03-2026
Emai liên lạc hoabinhchungsong220513@yahoo.com

 

 

 

 

 HẾT TRANG 16

Các chú thích:

(1)/- https://www.youtube.com/watch?v=QRW9WSEXisk

(2)/- https://machsongmedia.org/all/vietnam/nhan-quyen/dao-cao-dai-danh-xung-bi-bien-thanh-thuong-hieu.html

(3)/- https://vietnamthoibao.org/vntb-phan-bien-quan-diem-giao-su-janet-hoskins-ve-dao-nghi-dinh-thu-tam/

(4)/- https://khoinhonsanh2014.blogspot.com/2026/02/6348-thoa-hiep-ngay-09-06-1946.html#more

(5)/- https://khoinhonsanh2014.blogspot.com/2026/02/6347-phap-ly-cua-quan-oi-cao-ai.html#more

(6)/- https://khoinhonsanh2014.blogspot.com/2020/02/3080-thanh-linh-quoc-gia-hoa-quan-oi.html#more

(7) https://khoinhonsanh2014.blogspot.com/2026/02/6313-quoc-ao-cao-ai-va-canh-bai-trao.html#more

(8)/- https://khoinhonsanh2014.blogspot.com/2026/03/6351-luoc-su-quan-oi-cao-ai-tu-ve-trang.html#more

(9)/- https://khoinhonsanh2014.blogspot.com/2020/07/3136hoa-binh-chung-song-bien-nien-tt-19.html#more

(10)/- https://khoinhonsanh2014.blogspot.com/2024/09/5420-dien-van-cua-trung-tuong-nguyen.html#more

(11)/- https://khoinhonsanh2014.blogspot.com/2015/08/581-bns-thong-tin-22.html#more

(12)/- https://khoinhonsanh2014.blogspot.com/2018/08/2752-tra-loi-ban-oc-uc-ho-phap-tha.html#more

(13)/- https://khoinhonsanh2014.blogspot.com/2014/08/ban-cao-ai-ay-u.html#more

(14)/- https://khoinhonsanh2014.blogspot.com/2024/09/5350-ngai-tran-van-que-pham-tu-bai-ca.html#more

(15)/- https://khoinhonsanh2014.blogspot.com/2015/12/885-05-vi-bang-hop-voi-cac-chi-phai.html#more (xem vi bằng số 5).

(16)/- https://vietnamthoibao.org/vntb-co-quan-pho-thong-giao-ly-can-cuoc-nhiem-vu/

Còn tiếp.