Theo sự hiểu biết của BBT quyển Phổ Cáo Chúng Sanh soi sáng nhiều điều về pháp lý, lịch sử, niềm tin ... nên BBT cung cấp bản vi tính để tiện tra cứu. BBT cố gắng để bản vi tính gần sát với bản in năm 1926 lưu tại Thư Viện Pháp nhất nên có đánh số trang theo sách.
Quý vị thấy nhiều đoạn để ngày tháng mà không để năm thì đó là năm Bính Dần (là năm in cuốn sách).
Ngoài ra do kỹ thuật in ấn thời đó chưa phổ biến kiểu in chữ nghiêng để phân biệt nguyên văn và lời nhận định nên BBT có để nghiêng cho dễ đọc. BBT cũng mạo muội chú thích một vài chữ Pháp thời đó để hiểu về pháp lý quyển sách theo pháp luật xã hội năm 1926.
Quý vị vui lòng đối chiếu với bản in khi sử dụng.
Nay kính.
Trang
bìa.
PHỔ
CÁO CHÚNG SANH
ĐẠI-ĐẠO
TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ.
XIN QUÝ VỊ LƯU TÂM.
Bổn Phổ Cáo này có hình Thượng Tổ Tam-Giáo và những lời Thánh-Ngôn chứ
không phải tiếng Tục-ngữ, nên phải tinh khiết ngồi cho đàng hoàng cầm coi rồi để
vọng trên bàn thì khỏi tổn đức.
Trang bìa 3
PHỔ CÁO CHÚNG SANH
ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ.
Saigon, le 13 Octobre 1926
(Mồng 7, tháng 9, năm Bính Dần).
Trang bìa 4. (Các
chữ viết tay trên phiếu in)
Nom d’auteur: (Tên tác giả)
Titre de l’ouvrage: Tên tác phẩm
Đại đao Tam kỳ Phổ độ Kinh
Manifesto cao daiste:
BBT: Tuyên ngôn Cao Đài (Chữ “manifesto” thời đó thường dùng để chỉ
tài liệu nền tảng, bản tuyên bố, bản giới thiệu giáo lý.)
Caodaisme: Đạo Cao Đài (từ tiếng Pháp chỉ tôn giáo Cao Đài)
Saigon.
Đại đạo
1926.
Trang
3
PHỔ CÁO CHÚNG SANH
-------
ÐẠI ÐẠO
TAM KỲ PHỔ ĐỘ
Thuở Hỗn Độn sơ khai, nhứt Khí Hư
Vô sanh duy có một Đấng Tạo Hóa, người phương Đông gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế,
người Âu Tây gọi là DIEU, Đức Chúa Trời, người An Nam gọi là Ông Trời, là Đấng
dựng nên Trời Đất và muôn vật.
Có Thánh Ngôn, Đức Ngọc Hoàng Thượng
Đế giáng cơ ngày 13 tháng 6 năm Bính Dần, rằng:
" . . . Bậc chơn tu, tỷ như
hột giống tốt, hễ gieo xuống thì cây lên, cây lên thì trổ bông, trổ bông rồi
sanh trái, mà biến biến sanh sanh càng thêm tăng số, vì vậy mà các con phải bỏ
xác trần, mà bông trái thiêng liêng các con sanh hóa Chơn thần, Chơn thần lại
biến hóa hằng muôn, thêm tăng lên hoài. Ấy là Đạo.
" Bởi vậy, một Chơn thần mà
sanh hóa chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần và toàn cả nhơn loại trong Càn
khôn Thế giới, nên chi, các con là Thầy, Thầy là các con.
" Như kẻ bên Phật giáo hay tặng
Nhiên Đăng là Chưởng giáo, Nhiên Đăng vốn sanh ra đời Hiên Viên Huỳnh Đế.
Người gọi Quan Âm là Nữ Phật
tông, mà Quan Âm vốn là Từ Hàng Đạo Nhơn biến thân, Từ Hàng lại sanh ra lúc
Phong Thần, đời nhà Thương.
Người gọi Thích Ca Mâu Ni là Phật
Tổ, Thích Ca vốn sanh ra đời nhà Châu.
Người gọi Lão Tử là Tiên Tổ giáo thì Lão Tử cũng sanh đời nhà Châu.
Người gọi Jésus là Thánh đạo Chưởng
giáo, thì Jésus cũng sanh nhằm đời nhà Châu.
Thầy hỏi vậy chớ ai sanh ra các Đấng
ấy ? Ấy là Đạo, các con nên biết.
Trang 4
Nếu không có Thầy thì không có
chi trong Càn khôn Thế giới nầy, mà nếu không có Hư Vô chi Khí thì không có Thầy."
Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật mỗi
khi giáng cơ đều xưng là Đạo hữu với các chư môn đệ Nam phái Nữ phái của Ngọc
Hoàng Thượng Đế, còn chính mình Ngài lại xưng là Thầy của chúng sanh và hằng dạy
rằng : Sự khiêm từ nhịn nhục hạ mình là hạnh yêu dấu của Ngài. Khi chư Thiện nam Tín nữ vừa nghe
trong môn đệ gọi Ngọc Hoàng Thượng Đế là Thầy thì ái ngại điều phạm thượng,
song đã có Thánh Ngôn chính mình Ngài dạy vậy, xin hãy an lòng.
Có hai vị Đạo hữu: Tương, Kinh, vẫn trước
khi nhập môn thì đã thọ nghĩa thầy trò cùng vị Lão thành pháp danh là Đạo Quang
nơi chùa Minh Đường (Hạnh Thông Tây). Nhằm ngày 21 tháng 8 năm Bính Dần, Ngọc Hoàng Thượng
Đế giáng cơ tại chùa ấy dạy việc, luôn dịp Ngài có để lời rằng:
"Tương, Kinh, hai con phải lạy
Đạo Quang trước mặt Thầy, rồi từ đây gọi là Anh mà thôi, còn Thầy duy có một Thầy."
Thánh Ngôn ngày mồng 5 tháng 9
năm Bính Dần có dạy rằng:
" Ngọc Hoàng Thượng Đế viết
Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát, giáo đạo Nam phương.
Các con coi bậc Chí Tôn như Thầy
mà hạ mình đặng độ rỗi nhơn sanh là thế nào, phải xưng là một vị Tiên Ông và Bồ
Tát, hai phẩm chót của Tiên và Phật. Đáng lẽ thế thường phải để mình vào phẩm vị
tối cao tối trọng, còn Thầy thì khiêm nhượng là thể nào. Vì vậy mà nhiều kẻ môn
đệ cho Thầy là nhỏ.
Hạnh khiêm nhượng là hạnh của mỗi
đứa con phải noi gương Thầy mới độ rỗi thiên hạ đặng . . . "
Thánh Ngôn dạy tại Vĩnh Nguyên Tự,
chùa Minh Đường, Cần Giuộc :
" Nhiên Đăng Cổ Phật thị
Ngã,
Thích Ca Mâu Ni thị Ngã,
Thái Thượng Nguơn Thỉ thị Ngã,
Gia Tô Giáo Chủ thị Ngã,
Kim viết Cao Đài Bồ Tát Ma Ha
Tát."
Trang 05.
Thánh Ngôn ngày 25 tháng 2 Lang sa năm 1926:
" Trọng Ni (Khổng Phu Tử) là
Văn Xương Tiên hạ trần đặng thừa mạng Thầy làm Chưởng giáo Nhơn Đạo, lo xong phận
sự thì Thầy đến độ hồi cựu vị."
Trong mấy lần giáng thế hóa thân
truyền Đạo, Ngọc Hoàng Thượng Đế đều có để lời tiên tri rằng:
"Ngày kia sẽ có một nước nhỏ
nhen trong vạn quốc mà đặng làm chủ nền Chơn đạo Ta."
Trong Sám truyền và Phật Tông
Nguyên Lý đều có ghi lời tiên tri ấy.
Chúng ta nên nghĩ tiếc cho Phật đạo
và Tiên đạo đã khai từ thuở mới tạo Thiên lập Địa, nay càng ngày càng xem tựa hồ
như nền Chơn đạo đã biến dời, lần lần xa nguồn Chánh giáo. Ngoái lại coi Thánh
Đạo gọi Gia Tô mới lập trong hai ngàn năm nay mà Thánh quyền cao thượng là dường
nào.
Song, mọi việc chi cũng hữu chung
hữu thỉ. Có tạo thế tức là có tận thế. Cái tận tức là cuối cùng, mà hễ cuối cùng chẳng
dứt thí phải qui nguyên lại trước nên gọi là Tuần huờn.
Ngày nay là buổi tuần huờn Đại Đạo,
Thiên Địa hoằng khai, Ngọc Hoàng Thượng Đế tuy chẳng giáng sanh như mấy kỳ trước,
song giáng thế bằng huyền diệu Tiên bút, khai Đạo tại Nam phương, hầu chuyển Phật
giáo lại cho hoàn toàn.
Có Thánh Ngôn ngày mười ba tháng ba rằng:
"Vốn từ trước, Thầy lập ra
Ngũ Chi Đại Đạo là:
Nhơn đạo,
Thần đạo,
Thánh đạo,
Tiên đạo,
Phật đạo,
Tùy theo phong hóa của nhơn loại
mà gầy Chánh giáo, vì khi trước Càn vô đắc khán, Khôn vô đắc duyệt, thì nhơn loại
duy có hành đạo nội tư phương mình mà thôi.
Còn nay thì nhơn loại đã hiệp đồng,
Càn Khôn dĩ tận thức, thì lại bị phần nhiều Đạo ấy mà nhơn loại nghịch lẫn
nhau, nên Thầy mới nhứt định qui nguyên phục nhứt.
Trang 6
Lại nữa, trước Thầy lại giao
Chánh giáo cho tay phàm, càng ngày lại càng xa Thánh giáo mà làm ra Phàm giáo.
Thầy lấy làm đau đớn hằng thấy gần trót mười ngàn năm, nhơn loại phải bị sa vào
nơi tội lỗi, mạt kiếp chốn A Tỳ.
Thầy nhứt định đến chính mình Thầy
độ rỗi các con, chẳng chịu giao Thánh giáo cho tay phàm nữa."
" . . . Chẳng một ai dưới thế
nầy còn đặng phép nói rằng thế quyền cho Thầy mà trị phần hồn của nhơn loại. .
. . "
Tuy vân, mỗi lần giáng thế truyền
Đạo thì đổi Thánh Danh khác nhau, chớ kỳ trung cũng một Chơn linh Ngọc Hoàng Thượng Đế.
Còn nay giáng thế bằng huyền diệu
đặng chuyển Phật giáo, chuyển Phật pháp, chuyển Phật tăng, lại lập Đại Đạo Tam
Kỳ Phổ Độ (Troisième Amnistie générale) (Đại Ân Xá lần thứ ba) thì Ngọc Hoàng
Thượng Đế tá danh Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát, giáo đạo Nam phương.
Thánh Ngôn ngày 7 tháng 7 năm
Bính Dần :
" Vốn từ ngày Đại Đạo bế lại,
chánh quyền đều vào một tay Chúa Quỉ. Khi Ngọc Hư Cung và Lôi Âm Tự lập pháp
Tam Kỳ Phổ Độ, Chúa Quỉ biết cơ mầu nhiệm ấy và hiểu rõ rằng Tà quyền đã dứt,
nên trước khi Thầy chưa đến thì nó đã hiểu rõ rằng : Bề nào Thầy cũng phải chiếu
y Thánh ý Tam giáo qui nhứt mà dùng danh Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát,
nên đã dùng danh Cao Đài trước Thầy mà lập Tả đạo Bàng môn.
Thầy hỏi các con : Vậy chớ Tà
quái nhận tên ấy là chủ ý gì?
. . . Lại làm cho ra rẻ rúng danh
ấy để cho các con nghi ngờ mà lánh xa Chánh giáo, như đàn Cái Khế vậy, nhưng có
một điều là nó không dám ngự nơi ngai Thầy, tiện dùng làm một vị Tiên Ông mà
thôi.
Vậy các con khi nghe nói Cao Đài
nơi nầy, Cao Đài nơi kia, đừng vội tin mà lầm mưu Tà mị."
Nội trong Thánh danh: Cao Đài
Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát, thì chúng ta đủ hiểu rõ Thánh ý gồm Tam giáo (Nho Thích
Đạo) và Ngũ Chi Đại Đạo cũng qui nguyên phục nhứt.
Trang 7
Cao Đài : Nho gọi là Đấng
Chí Tôn.
Tiên Ông : là về Tiên đạo.
Đại Bồ Tát Ma Ha Tát: là về Thích
giáo.
Có bài thơ giáng cơ tại Biên Hòa
rằng :
Chín Trời mười Phật cũng là Ta,
Truyền đạo chia ra nhánh nhóc ba.
Hiệp một chủ quyền tay nắm giữ,
Thánh, Tiên, Phật đạo vốn như nhà.
Ngài đã dạy rõ rằng : Tam Kỳ Phổ
Độ tuy khai năm Dần (Nhơn sanh ư Dần) chớ kỳ trung Thiên cơ tiền định đã lâu rồi:
Thánh Ngôn rằng:
" Vốn từ trước, trong Thiên
thơ Tam Kỳ Phổ Độ nầy, nền Chánh giáo phải có :
Nhứt Phật,
Tam Tiên,
Tam thập lục Thánh,
Thất thập nhị Hiền,
Tam thiên đồ đệ.
Chưởng quản thâu Tam giáo hiệp nhứt.
Nơi Bạch Ngọc Kinh, hơn sáu chục
năm trước, chư Thần, Thánh, Tiên, Phật thấy đại nộ của Thầy, nên ra tình nguyện
hạ thế cứu đời, Thầy coi lại bọn ấy lại làm tội lỗi hơn kẻ phàm xa lắm. Vậy vì
cớ chi, các con biết chăng ?
Bị hàng phẩm Nhơn tước phải phù hạp
với hàng phẩm Thiên tước. Đáng lẽ Thầy cũng nên cho các con phải chịu số phận bần
hàn, mà bởi không nỡ, nên ngày nay mới có kẻ như vậy. Thầy nói thiệt cho các
con biết : Dầu một vị Đại La Thiên Đế xuống phàm nầy mà không tu cũng khó trở lại
địa vị đặng."
Ngài hằng dạy rằng: Đạo phổ
thông trễ một ngày là một ngày hại nhơn sanh. Vậy thì trong kỳ Phổ độ nầy
là lần thứ ba, lại là lần chót, xin chư Hòa Thượng, chư Lão thành. Chư sơn cùng
chư Chức sắc cả Tam giáo, và chư Thiện nam Tín nữ ráng hiệp sức, cộng trí vùa
giúp chung lo chấn hưng Chơn Đạo cho hoàn toàn, hầu cứu vớt chúng sanh thoát khỏi
trầm luân khổ hải.
Trang 8.
Có Thánh Ngôn giáng cơ ngày 27
tháng 6 năm Bính Dần rằng :
" Thầy hằng nói cùng các con
rằng : Thầy đến độ rỗi các con là đến lập tại thế nầy một Trường thi Công quả.
Các con muốn đến đặng nơi Cực Lạc thì phải đi trường nầy mà đoạt thủ địa vị
mình, chớ chẳng đi nơi nào khác mà đặng đắc đạo bao giờ. Thầy lại khuyên nhủ
các con rằng : Thầy đã đến chung cùng với các con, các con duy có tu mà đắc đạo,
phải đoái lại bá thiên vạn ức nhơn sanh còn phải bị trầm luân nơi khổ hải, chưa
thoát khỏi luân hồi, để lòng từ bi mà độ rỗi.
Nay tuy các con chẳng thấy đặng
hành vi mầu nhiệm mà chính mình Thầy đã đến nói, các con cũng nên tin nơi Thầy
mà cho rằng lời dạy của Thầy là chơn thật. Nếu các con đợi đến buổi chung qui,
hồn ra khỏi xác, mới thấy cơ mầu nhiệm đặng, thì chừng ấy đã muộn rồi. "
Chúng ta lưu ý rằng ngũ chi: Minh Đường, Minh Sư, Minh Nghĩa, Minh Lý, Minh Thệ cũng đều do nơi Phật pháp mà ra, chớ nên lầm
tưởng vì chia phái mà riêng Đạo. Hễ cùng nhau một Đạo tức là con một CHA, phải
thương yêu nhau, vùa giúp nhau, tình đồng cốt nhục vậy.
Từ buổi bế Đạo, tu nhiều thành
ít, gẫm lại coi, từ trước nơi cõi Á Đông nầy đã đặng bao nhiêu Tiên, Phật.
Chúng ta duy biết có một mình Huệ Mạng Kim Tiên mà thôi.
Thánh Ngôn của Ngọc Đế giáng cơ tại
chùa Minh Đường Vĩnh Nguyên Tự ngày 14 tháng bảy rằng:
"Đời Mạt kiếp nầy dữ nhiều
lành ít, nếu Thầy không chuyển pháp lại thì chưa một ai tu đặng trọn Đạo."
Ngài có giáng cơ tại Chùa Minh Đường
ở Hạnh Thông Tây ngày mồng 2 tháng 9, cho bài Tứ Tuyệt nầy:
Huợt địa bất tri Thánh chí tân,
Minh Thiên nhựt khí tản phong trần.
Huyền vi thế sự vô nhơn thức,
Hiệp khí bất năng hiệp diệu thần.
Theo tứ bài thi trên đây thì xét
đương kim ít ai quen thuộc đường đi nước bước mà gấm ghé chơn vào nguồn Tiên ngọn
Phật. Duy thành đạo cùng chẳng thành đều do nơi Thiên ý, công bình chánh trực,
đại từ đại bi của Ngọc
Trang 9.
Đế ban ơn cho chúng ta, tùy theo
công quả âm chất và công phu của chúng ta khổ hạnh hành đạo.
Thánh Ngôn hằng dạy rằng: Người
đời muốn đặng giàu có thì phải làm ra của, ấy là về phần phàm, xác thịt; còn Thần,
Thánh, Tiên, Phật muốn đắc đạo phải có công quả.
Nếu lầm tưởng rằng bấy nhiêu đạo lý trong Cổ pháp Cựu luật thế
tình mà đủ chiếm máy Thiên cơ huyền vi mầu nhiệm của Đấng Tạo Hóa và đặng phản
nguyên ư Nhứt Khí Hư Vô, hay là tưởng rằng người thông thuộc kinh sám, hằng bữa tụng
cầu, lâu ngày chầy tháng mà thành Tiên hóa Phật, thì từ cổ cập kim, quê hương
chúng ta, Tiên, Phật An Nam biết kể sao cho xiết.
Vậy thì đâu đến đỗi Thượng Đế phải
giáng trần mà chuyển Pháp, và e khi cũng khỏi lập Tam Kỳ Phổ Độ mà cứu vớt nhơn
sanh.
Có Thánh Ngôn Ngọc Hoàng Thượng Đế
viết Cao Đài giáng cơ tại Hội Trường Sanh (Cần Giuộc) ngày 19 tháng 4 năm Bính
Dần, dạy chư chúng sanh rằng:
" Từ trước, Ta giáng sanh lập
Phật giáo gần sáu ngàn năm thì Phật đạo Chánh truyền gần thay đổi. Ta hằng nghe
chúng sanh nói: Phật giả vô ngôn. Nay nhứt định lấy huyền diệu mà giáo đạo chớ
không giáng sanh nữa, đặng chuyển Phật giáo lại cho hoàn toàn. Dường nầy, từ
đây chư chúng sanh chẳng tu, bị đọa A Tỳ thì hết lời nói rằng: Phật tông vô
giáo, mà chối tội nữa.
Ta nói thiệt cho chúng sanh biết
rằng : Gặp Tam Kỳ Phổ Độ nầy mà không tu thì không còn trông mong siêu rỗi."
Thánh Ngôn của Thích Ca Như Lai
kim viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát, giáng tại Hội Phước Tự ngày 26 thánh 4
năm Bính Dần, rằng:
" Chư sơn nghe dạy:
Vốn từ Lục Tổ thì Phật giáo đã bị
bế lại, cho nên tu hữu công mà thành thì bất thành. Chánh pháp bị nơi Thần Tú
làm cho ra mất Chánh giáo, lập riêng pháp luật, buộc mối Đạo Thiền.
Ta vì luật lịnh Thiên mạng đã ra,
cho nên cam để vậy, làm cho Phật tông thất chánh có trên 3 ngàn năm nay.
Trang 10.
Vì Tam Kỳ Phổ Độ Thiên Địa hoằng
khai, nơi Tây phương Cực Lạc và Ngọc Hư Cung mật chiếu đã truyền siêu rỗi chúng
sanh. Trong Phật Tông Nguyên Lý đã có cho hiểu trước đến buổi hôm nay rồi, tại tăng đồ không kiếm chơn lý mà hiểu. Lắm
kẻ đã chịu khổ hạnh hành đạo. … Ôi ! Thương thay, công có công mà
thưởng chưa hề có thưởng, vì vậy mà Ta rất đau lòng.
Ta đến chẳng phải cứu một mình
chư tăng mà thôi, vì trong thế, hiếm bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật phải đọa hồng
trần, Ta đương lo cứu vớt.
Chư tăng, chư chúng sanh hữu căn
hữu kiếp đặng gặp kỳ Phổ độ nầy là lần chót, phải ráng sức tu hành, đừng mơ tưởng
hoài trông giả luật. . . .
Ta đã đến với huyền diệu nầy thì từ nay
Ta cho chư tăng dùng huyền diệu nầy mà học hỏi, ngày sau đừng đổ tội rằng vì thất
học mà chịu thất kỳ truyền. Chư tăng từ đây chẳng đặng còn nói : Phật giả vô
ngôn, nữa."
Trần thế bị những sự vinh hoa phú
quí hằng làm chìm đắm biết bao nhiêu người có tiền căn cựu phẩm, vì ham luyến hồng
trần mà lạc bước vào đường tội lỗi. Vậy thì, nay trống Lôi Âm đã giục, chung Bạch
Ngọc đã rung, xin chư Thiện Nam Tín Nữ hồi tâm tỉnh ngộ, lo tu tâm dưỡng tánh
mà chen bước vào đường đạo đức cho kịp thời Tam Kỳ Phổ Độ nầy. Gẫm xét cho cùng
tột rồi, chẳng vinh diệu nào cho bằng chịu khổ hạnh nâu sồng, lập âm chất công
quả hầu siêu rỗi cho tiền bối nơi Chín Suối, chưởng đức lưu truyền lại cháu
con, ráng công phổ độ, cứu vớt nhơn sanh khỏi nơi trầm luân khổ hải, và chính
mình đặng cải tà qui chánh, thoát kiếp luân hồi, ấy là sở hành cao thượng vô
cùng.
Có bài thi giáng cơ rằng :
Tu như cỏ úa gặp mù sương,
Đạo vốn cây che mát mẻ đường.
Một kiếp muối dưa muôn kiếp hiển,
Đôi năm mệt nhọc vạn năm bường.
Có Thần nuôi nấng Thần càng mạnh,
Luyện Khí thông thương Khí mới tường.
Nhập thể lòng trong gìn tịnh mẫn,
Nguồn Tiên ngọn Phật mới nhằm phương.
Trang 11.
Trong nước có nhiều Đạo mà chẳng
một Đạo chi đáng chơn chánh đặng làm gương soi cho quốc dân, cho nên nước phải
thấp, dân phải hèn, thấp hèn cũng vì dân một nước như con một nhà mà xem tựa hồ
như phân chia ra nhiều phe nhiều phái, kẻ đạo nầy người đạo khác, rồi kích bác
lẫn nhau.
Trời không hai mặt, Đất chẳng hai
vua.
Đất có hai vua là đất giặc. Trời
già hai mặt, thế ra tro.
Phải trông mong ngày sanh linh đạo
đức, an cư lạc nghiệp, cộng hưởng thái bình, trong nhà không đóng cửa, ngoài đường
chẳng lượm của rơi.
Nay Cao Đài Thượng Đế hạ trần,
dùng huyền diệu Tiên bút, lập nền Chơn Đạo tại Nam phương, nhập Tam Giáo lại
làm một, chủ ý qui tụ chúng sanh lại một nhà, Ngài làm CHA chưởng quản, sẽ hội
Tam Giáo nơi Thánh Thất là nhà chung (tại Tây Ninh ngày rằm tháng mười tới đây) xem xét kiểm duợt kinh
điển mà tạo thành Tân Luật, sự thờ phượng chế sửa theo Tam Kỳ Phổ Độ cũng nơi ấy
mà xuất hiện; nhìn Quốc âm, tiếng An Nam làm Chánh tự mà lập Đạo. Từ đây, nước Nam duy có một Đạo
chơn thật là Đạo của Ngọc Hoàng Thượng Đế viết Cao Đài lập ra gọi là QUỐC ĐAÏO.
Có bài thi giáng cơ rằng :
Hảo Nam bang ! Hảo Nam bang !
Tiểu quốc tảo khai Hội Niết Bàn.
Hạnh ngộ Cao Đài truyền Đại Đạo,
Hảo phùng Ngọc Đế ngự trần gian.
Thi ân tế chúng thiên tai tận,
Nhược thiệt nhược hư vạn đại an.
Chí bửu nhơn sanh vô giá định,
Năng tri giác thế sắc cao ban.
THÁNH TƯỢNG CON MẮT:
Có Thánh Ngôn rằng :
" Chưa phải hồi các con rõ tại
sao phải vẽ Thánh Tượng Con Mắt mà thờ Thầy, song Thầy cắt nghĩa cho hiểu chút
đỉnh:
Trang 12
Nhãn thị chủ tâm,
Lưỡng quang chủ tể,
Quang thị Thần,
Thần thị Thiên,
Thiên giả Ngã dã.
Thần là khiếm khuyết của cơ mầu
nhiệm từ ngày Đạo bị bế. Lập Tam Kỳ Phổ Độ nầy, duy Thầy cho Thần hiệp Tinh,
Khí đặng hiệp đủ Tam Bửu là cơ mầu nhiệm siêu phàm nhập Thánh."
SỰ THỜ
PHƯỢNG chế sửa theo
Tam Kỳ Phổ Độ nơi Thánh Thất Tây Ninh:
Thánh Ngôn ngày 12 tháng 8 năm
Bính Dần dạy rằng :
" Các con lo một trái Càn
khôn, hình tròn quay như trái đất, sơn màu xanh da trời, bề kính tâm 3 thước 3
tấc, lớn quá, mà phải vậy mới đặng vì là cơ mầu nhiệm Tạo Hóa trong ấy.
Cung Bắc đẩu và Tinh tú phải vẽ
lên trái Càn khôn ấy. Thầy kể Tam thập lục Thiên và Tứ Đại Bộ Châu ở không
không trên không khí, tức là không phải Tinh tú, còn lại Thất thập nhị Địa và
Tam thiên Thế giới thì đều là Tinh tú, tính lại là ba ngàn bảy mươi hai ngôi
sao, con phải biểu vẽ lên đó cho đủ. Con dở sách Thiên văn Tây ra coi mà bắt chước.
Tại ngôi Bắc đẩu, con phải vẽ hai
cái bánh lái cho đủ và sao Bắc đẩu cho rõ ràng, trên vì sao Bắc đẩu, vẽ Con Mắt
Thầy.
Đáng lẽ trái ấy phải bằng chai,
đút trong một ngọn đèn cho nó thường sáng, ấy là lời cầu nguyện rất quí báu cho
cả nhơn loại trong Càn khôn Thế giới đó, nhưng mà làm chẳng kịp thì con tùy tiện
làm thế nào cho kịp Đại hội.
Khi đem trái Càn khôn ấy về, con
làm một cái cốt xây, để trái ấy lên Đại Điện, nhớ day Con Mắt ra ngoài, rồi con
lại lên tượng Phật Thích Ca, Lão Tử, và Khổng Tử mà để dựa dưới; kế ba vị ấy là
Quan Thế Âm, Lý Thái Bạch, Quan Thánh Đế; kế nữa ngay dưới Lý Thái Bạch là
Jésus de Nazareth; kế dưới Jésus là Khương Thượng Tử Nha; còn chư Phật, Tiên,
Thánh, Thần đã lên cốt thì để dài theo dưới."
Trang 13
Ấy là sắp đặt sự thờ phượng tại
Thánh Thất Tây Ninh, còn các nơi Tiểu đàn, lập trang thờ tại nhà riêng thì như vầy:
TIỂU ĐÀN: Trên thì Thánh Tượng “Con Mắt”, hàng dưới thì lập đủ Ba Trấn chứng
đàn trong Tam Kỳ Phổ Độ và qui Tam Giáo nầy :
Phật thì có Quan Âm (bên mặt, ở
trong ngó ra).
Tiên, Lý Thái Bạch (ở giữa, dưới
tượng Thầy).
Nho, Quan Thánh Đế Quân (bên
trái)
Mồng 2 tháng 7 năm Bính Dần:
Lý Thái Bạch giáng cơ:
Thái Thượng vô ngôn hữu Đạo
thành,
Bạch vân hữu nhãn kiến nhơn sanh.
Kim quang đắc kiếp tu tâm thiện,
Tinh đẩu nan tri Ngã độ thành.
Quan Âm Bồ Tát giáng cơ:
Quang minh
Nam hải trấn Thiền môn,
Âm cảnh năng du độ dẫn hồn.
Bồ đoàn mạc hám liên huê thất,
Tác thế tâm ưu khởi đạo tông.
Quan Thánh Đế Quân giáng cơ:
Quan thành tái kiếp Hớn triều
phong,
Thánh đức mạc vong hám thế trần,
Đế thất nhứt tâm trung khí dõng,
Thanh y xích diện hảo vinh phong.
TỊCH ĐẠO THI
Thanh Đạo tam khai thất ức
niên,
Thọ như địa quyển thạnh hòa Thiên.
Vô hư qui phục nhơn sanh khí,
Tạo vạn cổ đàn chiếu Phật duyên.
Trang 14.
KHAI ĐẠO NƠI CHÁNH PHỦ :
Ngày 7 September 1926, nhằm mồng 1 tháng 9 năm
Bính Dần, có môn đệ Thiên phong của Đức Cao Đài là Cựu Hội Đồng Thượng Nghị Viện Lê Văn Trung tự Thiên ân là Thượng
Trung Nhựt, vưng lịnh Thánh Ngôn đến Khai Đạo nơi Chánh phủ.
Trong Tờ Khai Đạo ấy có ký tên
247 chư môn đệ, phần nhiều đều là Chức sắc Viên quan và có Nữ phái nhiều người
danh dự.
Quan Nguyên soái Nam Kỳ hoan
nghinh và khen rằng vì chữ thiện mà khuyến dân, ấy là chủ nghĩa cao thượng.
Chúng tôi xin phô đôi lời thành
thật thô sơ, chư Hòa Thượng, chư Lão thành, chư sơn, chư Chức sắc trong Tam
Giáo và chư Thiện nam Tín nữ xin lưu ý.
Chầy kíp đây, chúng tôi sẽ có dịp
hiệp mặt mà luận Đạo kỹ thêm nữa.
TÂN TẢ BẠCH
NGỌC KINH
(Giáng cơ
Mồng Một Tết năm Bính Dần)
Một tòa Thiên các ngọc làu làu,
Liền bắc cầu qua nhấp nhóa sao.
Vạn trượng then gài ngăn Bắc đẩu,
Thiên trùng nhiếp khảm hiệp Nam tào.
Chư Thần chóa mắt màu thường đổi,
Liệt Thánh kinh tâm pháp vẫn cao.
Dời đổi chớp giăng đoanh đỡ nổi,
Vững bền vạn kiếp chẳng hề xao.
Trang
bìa sau 1
Trang bìa chót.
Tirage
15.000 Exemplaires
Saigon
le 21/10/1926
BBT
chú thích:
“Ấn
hành 15.000 bản.
Sài
Gòn, ngày 21 tháng 10 năm 1926.”